Bước đầu học Phật



tải về 474.53 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu12.11.2017
Kích474.53 Kb.
#1595
  1   2   3   4

http://www.daophatngaynay.com/vn/tu-sach-dao-phat-ngay-nay/5656-Chuong-4-Vong-Kho.html

  • Phật Pháp

    • Bước đầu học Phật

      • Thái độ học Phật

      • Đức Phật: Ngài là ai ?

      • Đạo Phật là gì ?

      • Đặc điểm đạo Phật

      • Quy y Tam Bảo

      • Nền tảng học Phật

      • Nền tảng Giới

      • Đức tin & Cầu nguyên

      • Hành trì căn bản của Phật tử

      • Phật pháp vấn đáp

      • Đến với đạo Phật

    • Giáo Pháp

      • Bốn chân lý

      • Duyên khởi

      • Vô thường - Khổ - Vô Ngã

      • Nhân quả - Nghiệp báo - Luân hồi

      • Giác ngộ - Giải thoát

      • Niết bàn

      • Bi - Trí - Dũng

      • Phước đức - Công đức

      • Quán tưởng

      • Nhân cách & Xã hội

      • Nghe Pháp & thực hành Pháp

      • Tâm tánh

      • Bồ tát đạo

  • Đức Phật

    • Phật đản

    • Phật thành đạo

    • Nhân cách đức Phật

    • Thập đại đệ tử của đức Phật

  • Kinh điển

    • Kinh điển Đại Thừa

    • Kinh điển Pali

    • Luật Tạng

    • Luận Tạng

    • Sám nguyện

    • Văn học kinh điển

  • Nghi thức

    • Ý nghĩa nghi thức

    • Việt hóa nghi thức

  • Pháp môn

    • Thiền định

      • Giới thiệu thiền

      • Thiền nguyên thủy

      • Thiền tổ sư

      • Thiền nguyên thủy và Thiền đại thừa

    • Tịnh Độ

      • Tịnh Độ & pháp môn niệm Phật

      • Thiền và tịnh độ

  • PG Việt Nam

    • Lịch sử

    • Con người

    • Danh lam

    • Văn học

    • Sự kiện & Vấn đề

  • PG Quốc tế

    • Đất nước

    • Con người

    • Sự kiện & Vấn đề

  • Văn hóa

    • Ăn chay

    • Xuân

    • Vu Lan bồn

    • Truyền thống tập tục

  • Giáo dục

  • Văn học

    • Văn học Phật giáo Việt Nam

    • Truyện

    • Tuỳ bút

    • Thơ

  • PG & các ngành

    • Triết học

      • Khái quát

      • Lịch sữ & Bộ phái

      • Phật giáo nguyên thuỷ

      • Phật giáo phát triển

    • Đạo đức-Tâm lý học

    • PG & Khoa học

    • Xã hội học

      • Phật giáo & Thời đại

      • Con người & Xã hội

    • PG & Kinh tế

    • PG & Sinh thái

  • Phật tích

  • Diễn đàn

    • Đối thoại

    • Tâm tình đọc giả

  • Tài liệu

    • Điểm sách

    • Thư mục sách

    • Từ điển - Tham khảo

  • Cuộc sống

  • Từ thiện

    • Thư ngỏ - Thông báo

    • Phóng sự từ các chuyến đi

  • Tác giả

  • Pháp âm

  • Phiên bản cũ

Trang chủ | Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay | Chương 4: Vòng Khổ

Chương 4: Vòng Khổ

  01/12/2010 21:55:00 Thích Nữ Diệu Hương

Đã đọc: 721 Cỡ chữ: decrease fontenlarge font

image

Vòng luân hồi


  • 66. Vòng Luân Hồi

  • Chương 1: Duyên khởi

  • Chương 2: Vòng Hoặc (Phiền não)

  • Chương 3: Vòng Nghiệp

  • Chương 4: Vòng Khổ

  • Chương 5: Vòng 12 Nhân Duyên

  • Chương 6: Dòng Sanh Tử Vô Tận

http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/66_vong_luan_hoi_chuong5_1_991094557.jpg

Không gian không ngằn mé gọi là vũ. Thời gian không cùng tận gọi là trụ. Ở trong khoảng không gian vô cùng và thời gian vô tận đó, theo quan điểm của Phật giáo có vô lượng vô biên các loài chúng sanh đang tồn tại. Mỗi loại đúng theo tâm thể nhiễm tịnh, nghiệp duyên thiện ác sai khác, khiến sự thọ dụng cảnh giới của họ cũng có khổ đau hay hạnh phúc bất đồng.

Theo bánh xe luân hồi này thì tùy quả báo mà chia ra thành có sáu cảnh giới, sáu loài, hay sáu cõi như cõi trời, a-tu-la, người, bàng sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Theo kinh Lăng Nghiêm thì chúng ta có thêm một cõi nữa là cõi tiên. Nên nơi đây sẽ giảng thêm cảnh tiên thành ra có bảy cảnh giới.

1/ CÕI TRỜI



http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/66_vong_luan_hoi_chuong5_2_166123796.jpg 

Do phước báo bố thí và thiền định, nên cõi trời có chánh báo và y báo như cảnh vật vui tốt, mọi người vui sướng, căn thân đẹp đẽ, thọ mạng lâu dài, đặng phép thần thông, dạo đi tự tại, những đồ y phục sẵn có, những cuộc du hí đủ bày, trăm thức tự nhiên thọ dụng đủ điều khoái lạc, không có những sự khổ như ở nhân gian. Các phước báu trong cõi đó, tuy là mỹ mãn như thế nhưng còn thuộc về hữu lậu, có hư có mất, không có chắc chắn, đó chính là sự vô thường, tướng vô định… Thế nên dẫu có sống đến mấy ngàn năm đi nữa, cũng không khỏi con ma sanh tử lôi kéo.

Kinh Tăng chi dạy: Nữ nhân mạng chung được sanh lên trời và tự tại trong ba địa hạt (nhan sắc, âm thanh và lạc thọ) là do vị ấy có tám điều như:

  1. Tận tâm thương quý gia đình

  2. Tôn trọng sư trưởng và thân quyến

  3. Hết lòng quán xuyến việc nhà

  4. Đối xử thích hợp với người giúp việc

  5. Kỹ càng bảo quản tài sản

  6. Quy y Tam bảo

  7. Giữ năm giới

  8. Hoan hỉ bố thí.

Thường ta nghe nói hiện tiền giữ 10 giới thì khi mạng chung được sanh lên cõi trời. Tròn năm giới thì được làm người. Nhưng ở đây kinh Tăng Chi chỉ ra giữ năm giới cũng được sanh lên trời và tự tại trong ba địa hạt (nhan sắc, âm thanh và lạc thọ) là nhờ do công đức tròn bổn phận của mình đối với gia đình và xung quanh.

Như vậy, thật ra ở cương vị nào cũng được, chỉ cần thiện chí, có trí tuệ tháo vác mong đem an vui cho người, không cầu tư lợi. Cử chỉ săn sóc, ánh mắt ưu ái, lời nói ân cần, hoà nhã lịch sự, siêng năng phụng sự xung quanh là nhân thiết yếu để sanh thiên.

Những chúng sanh hưởng thụ cảnh giới tốt hơn người gọi là trời. Có ba cõi trời:

  1. Có những loài trời còn nghĩ ít nhiều đến sự ái ân thì gọi là loài trời Dục giới.

  2. Có những loài trời thoát ly ngũ dục nhưng còn sắc thân thì gọi là loài trời Sắc giới.

  3. Còn thoát ly ngũ dục và không sắc thân thì gọi là loài trời Vô Sắc giới.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm (1) dạy rằng:

I/ Dục Giới Thiên (có 6 cõi trời Dục giới)



  1. Tứ Thiên Vương: vẫn ái ân với vợ hoặc chồng nhưng không tà hạnh, tâm sáng suốt, mạng chung sống gần mặt trời và mặt trăng.

  2. Đao Lợi Thiên: ít ái ân với vợ hoặc chồng và thường tịnh cư, tâm sáng suốt, mạng chung vượt lên mặt trời và mặt trăng, ở trên chóp nhân gian.

  3. Tu Diêm Ma Thiên: ít nhớ nghĩ việc ái ân, sống động ít, tĩnh nhiều, tâm sáng suốt, sáng rỡ ở cõi hư không mà ánh sáng mặt trời và mặt trăng không soi đến được.

  4. Đâu suất đà thiên: lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc vẫn bị chi phối, mạng chung sanh lên chỗ tinh vi, những hoại kiếp và tam tai của nhân thiên cõi dưới không đến được.

  5. Lạc biến hoá thiên: không còn ân ái dù có phải đáp ứng nhưng thấy vô vị như ăn sáp. Mệnh chung sanh vào cảnh biến hóa.

  6. Tha hóa tự tại: không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm ngũ dục, khởi tâm chán bỏ (chánh nhân khiến lên vô sắc giới). Mạng chung vượt lên những cảnh biến hoá và không biến hoá.

Sáu cõi trời như thế hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tính còn dính dấp ngũ dục. Từ các cõi trời ấy trở xuống gọi là Dục giới.

Trong Nhị khoá hiệp giải và Thắng pháp tập yếu luận nói rằng: tuổi thọ của cõi trời bằng mấy trăm ngàn tỷ năm con người.

Cõi Lục Dục thiên này cùng với loài người, súc, quỷ, địa ngục… là ở trong Dục giới.

II/ Sắc giới: các trời này thoát ly ngũ dục thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy hình hài nên gọi là sắc giới. Có 18 loài trời như:



  1. Trời Phạm chúng

  2. Trời Phạm Phụ

  3. Trời Đại Phạm -> Sơ Thiền (ly sinh hỉ lạc địa)

  4. Trời Thiểu Quang

  5. Trời Vô Lượng

  6. Trời Quang Âm ->Nhị Thiền (Định sinh hỉ lạc địa)

  7. Trời Thiểu Tịnh

  8. Trời Vô Lượng

  9. Trời Biến Tịnh -> Tam Thiền (Ly hỉ diệu lạc địa)

  10. Trời Phúc Sinh

  11. Trời Phúc Ái

  12. Trời Quảng Quả

  13. Trời Vô Tưởng

  14. Trời Vô Phiền

  15. Trời Vô Nhiệt

  16. Trời Thiện Kiến

  17. Trời Thiện Hiện

  18. Trời Sắc Cứu cánh -> Tứ thiền (Xả niệm thanh tịnh địa)

Theo dòng vận hành của tâm, nếu xả bỏ tham sân si, mạn, tà kiến (10 triền, 10 sử) (2) thay vào đó cho hiện khởi hỉ, định, lạc xả thì tùy khả năng tâm đạt, tùy sức mạnh điều ngự tâm của mình mà có cảnh giới khác. Như pha ly cafê sữa vậy, tùy sữa nhiều hay ít mà lạt màu.

III/ Trời Vô Sắc: không có sắc pháp ở trong và ngoài nên gọi vô sắc



  1. Trời Không Vô Biên Xứ

  2. Trời Thức Vô Biên Xứ

  3. Trời Vô Sở Hữu Xứ

  4. Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ

Thắng Pháp Tập Yếu luận cũng trình bày khá đặc biệt về kiết sanh thức hay kiết sanh tâm liên hệ giữa đời này và đời sau của nhiều cảnh giới từ địa ngục cho đến cõi cao nhất của vô sắc giới. Như kiết sanh thức có bốn loại:

  1. Ác thú (địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh) kiết sanh thức

  2. Dục giới thiên sanh thức

  3. Sắc giới thiên sanh thức

  4. Vô sắc giới thiên sanh thức.

Ở các cõi trời này do phước báo nên y báo và chánh báo đều tốt hơn cõi người, nhưng phải biết sau một thọ mạng dài lâu huởng vui, nghĩa là sáu căn bị gây mê tham luyến các dục (dục giới), an hưởng trạng thái an lạc của thiền (sắc giới và vô sắc giới) trụ vào tư thực (3) kéo dài mạng sống, số đông chết đều đọa ác thú. Nên chư Phật thường thành đạo ở cõi người và khuyên đệ tử coi cõi trời là hiểm nạn chướng ngại sự giải thoát, không nên cầu về.

2/  ĐẠO TIÊN HAY CÕI TIÊN



Thật ra nói đủ là bảy cõi. Sáu cõi cộng thêm cõi tiên.

Tiên là một loài chúng sanh nửa trời và nửa người. Kinh Thủ Lăng Nghiêm (4) dạy có những chúng sanh từ loài người, không tu theo giới định tuệ mà tu theo vọng niệm, vọng tưởng luân hồi lưu chuyển để củng cố hình hài vào trong rừng núi, ăn trái cây sống, hoặc trên đảo giữa bể, tâm tĩnh lặng luyện thân, không vướng vào những vinh nhục thế gian, nên thành mười thứ tiên sống lâu ngàn vạn tuổi, nhưng cuối cùng rồi cũng chết, vì không tránh được quy luật sống chết.

Ở đây cho thấy tư tưởng, có thể thay đổi lối sống bình thường của con người, kéo dài sự sống đến một thời gian rất lâu. Những phim chưởng của Trung Hoa, Đại hàn xuất phát từ nguồn gốc đạo tiên này rất nhiều.

Có 10 loại tiên:



  1. Có loại chúng sanh dùng đồ bổ không dừng nghỉ, kiên cố và đạo ăn thành tựu thành Địa hành tiên.

  2. Có loại chúng sanh dùng cỏ cây không dừng nghỉ, kiên cố và đạo thuốc thành tựu thành Phi hành tiên.

  3. Có loại chúng sanh dùng kim thạch không dừng nghỉ, kiên cố và hóa chất thành tựu thành Du hành tiên.

  4. Có loại chúng sanh dùng luyện những động tác không dừng nghỉ, kiên cố và đạo khí tinh thành tựu thành Không hành tiên.

  5. Có loại chúng sanh dùng nước bọt không dừng nghỉ, kiên cố và đạo  nhuận đức thành tựu thành Thiên hành tiên.

  6. Có loại chúng sanh dùng tinh hoa không dừng nghỉ, kiên cố và đạo hấp thụ thành tựu thành Thông hành tiên.

  7. Có loại chúng sanh dùng phù chú không dừng nghỉ, kiên cố và đạo  thuật pháp thành tựu thành Đạo hành tiên.

  8. Có loại chúng sanh dùng chú tâm chuyên niệm không dừng nghỉ, kiên cố và đạo chuyên niệm thành tựu thành Chiếu hành tiên.

  9. Có loại chúng sanh dùng quán về thủy hoả giao cấu không dừng nghỉ, kiên cố và đạo cảm ứng thành tựu thành Tinh hành tiên.

  10. Có loại chúng sanh dùng tập luyện biến hoá không dừng nghỉ, kiên cố và đạo biến hoá thành tựu thành Tuyệt hành tiên.

3/ A-TU-LA

 http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/66_vong_luan_hoi_chuong5_3_548530147.jpg



Đây cũng là một loại có phước nhưng hay tranh chấp. Anh hùng nghĩa khí có làm nhiều phước thiện mà hay tranh đấu sát phạt nhau, hơn thua lẫn nhau, lấy nghĩa khí thắng hung tàn, không khuất phục, đấu tranh không ngừng nghỉ… những loại chủng tử đó sẽ sanh về cõi đây.

Có bốn loại a-tu-la:



1. Có chúa a-tu-la trời, biến hoá sanh (thuộc loài trời), sức mạnh, tranh quyền với Đế thích và Tứ thiên vương, nên trong tranh vẽ các vị này tối ngày cầm cung, súng sát phạt lẫn nhau.

2. A-tu-la người (thuộc người), thai sanh, ở gần mặt trời, mặt trăng. Từ  trời đọa xuống vì do kém phước đức.

3. A-tu-la quỷ (thuộc quỷ ở trời), từ trứng sanh ra. Sống ở hư không. Có vị phát tâm bảo hộ chánh pháp. Nên cuối mỗi buổi tụng kinh, ở chùa hay tán bài:

Trời, A-tu-la, Dạ xoa thảy


Đến nghe pháp đó nên chí tâm
Ủng hộ Phật pháp khiến thường còn
Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy.
Bao nhiêu người nghe đến chốn này
Hoặc trên đất liền hoặc hư không
Thường với người đời sanh lòng từ
Ngày đêm tự mình nương pháp ở.
Nguyện các thế giới thường an ổn
Phước trí vô biên lợi quần sanh
Bao nhiêu tội chướng thảy tiêu trừ
Xa lìa các khổ về viên tịch.
Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng
Thường trì định phục để giúp thân
Hoa mầu bồ đề khắp trang nghiêm
Tùy theo chỗ ở thường an lạc.
Nam mô Tam châu cảm ứng
Hộ Pháp Vi đà Tôn Thiên Bồ Tát ma ha tát.”

4. A-tu-la bàng sanh (thuộc bàng sanh), nhân thấp khí sanh ra, ở trong biển lớn lặn trong thủy huyệt. Ngày đi chơi trong hư không, đêm ngủ dưới nước.

4/ CÕI NGƯỜI



 http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2010/quy4/66_vong_luan_hoi_chuong5_4_244496417.jpg

Trên hành tinh trái đất này chúng ta có năm châu là Châu Á, Châu Âu, Châu Úc, Châu Mỹ, Châu Phi, Nam và Bắc cực.

Đức Phật đã bảo ngài Mục Kiền Liên minh hoạ bức tranh của kiếp người có tám khổ như sanh, lão, bịnh, tử, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ ấm xí thịnh. Nào là có cảnh chiến tranh, xe tăng, súng đạn, có nạn lũ lụt, cháy nhà, lũ lụt, cảnh em ra đời, lớn lên, nằm ở giường bịnh, già yếu chống gậy và quan tài chờ đợi.

Khi tinh trùng của người cha kết hợp với tiểu noãn của người mẹ, thần thức gá vào và lúc đó bắt đầu một kiếp sống mới. Và tùy theo nghiệp lực của mình mà tinh trùng hay trứng đó là của loài người hay loài thú.

Cũng như loài vật, con người sanh từ bụng mẹ (bụng của con người). Chỗ sanh bất tịnh là tử cung, cạnh vòng ruột già non, trong máu tanh, nước nhớt và vừa là thức ăn. Đây là nơi bắt đầu thành thân, thật chẳng đáng tự hào chút nào!

Đức Phật dạy sắc thân chúng ta từ bất tịnh nghiệp đời trước mà sanh. Nghiệp chuyển nơi thức đem vào thai mẹ và có năm trùng không tịnh. Năm trùng không tịnh là:

  1. Chỗ sanh bất tịnh: thân này chẳng phải hoa sen, chiên đàn, mà được nuôi lớn trong máu mủ. Ở bên cạnh phân uế từ đường tiểu tiện dơ dáy mà ra.

  2. Chủng tử bất tịnh: vơ hai giọt tinh cha, huyết mẹ làm thể chất.

  3. Tướng bất tịnh: Thân này không gì ngoài chín lỗ ( hai lỗ mắt, hai lỗ mũi, miệng, tai…) và 32 thể trược (tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu).

  4. Tánh bất tịnh: Từ dâm dục uế nghiệp mà sanh, lấy ái dục làm thể chất. Nếu không tu các pháp quán để cải biến thì lấy hết nước biển cả để rửa cũng không thể sạch.

  5. Cứu cánh bất tịnh: Nghiệp tận mệng chung có chín tướng đáng chán hiện ra gọi là cửu tưởng:

  6. Trướng tưởng (sau khi tắt hơi rồi, không còn thức thứ tám trì giữ mạng căn nên thi thể bắt đầu phồng lên)

  7. Thanh tưởng (rồi xanh tái đen)

  8. Hoại tưởng (da thịt bắt đầu bở toét như bánh mì nhúng nước nứt nở và mềm bủng ra)

  9. Huyết đồ tưởng (các thứ nước, máu mủ trong thân chảy ra)

  10. Nồng lãng tưởng (thi thể nát bét rồi, nên mùi hôi thối xông ra)

  11. Hám tưởng (da thịt rục rã)

  12. Tán tưởng (thịt tan, còn xương)

  13. Cốt tường (xương cũng mòn dần)

  14. Thiêu tưởng (tro bụi của xương cũng tan theo hư không và không còn để lại dấu vết gì)

Chúng ta có năm trùng bất tịnh đó nhưng chui ra thai mẹ lại quên hết. Ra đời chỉ biết khóc, rồi lớn lên bao nhiêu bất tịnh khổ sở của thân cũng quên hết, tranh đấu cực nhọc cho cuộc sống để rồi chuẩn bị đi đến già bịnh. Thân bằng cơm gạo rốt cuộc trả về cho đất, chết là dấu chấm cuối cùng. Nhưng chúng ta không phải làm dấu chấm, hay chấm phẩy mà là dấu phảy liền. Vì đâu đã hết liền, đâu phải chết là hết. Tinh thần lại mê muội lại đi đầu thai, lại vào bào thai, để lại ở bụng mẹ ra gọi là sanh, rồi bỏ vào quan tài gọi là tử; hoặc vào trứng gà, bụng cá… gọi mình là gà, cá. Khi ở địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, khi ở cõi trời, cõi người, cứ thế xoay vần trong ba vòng ‘Hoặc - Nghiệp - Khổ’, xoay vần sanh tử luân hồi như đã từng trải qua từ lịch kiếp.

Chúng ta thường ở trong tam đồ, bát nạn từ lịch kiếp. Tam đồ là: địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh. Bát nạn là: 

  1. Nạn trời vô tưởng (vì sống lâu mà không gặp Phật)

  2. Bắc câu lư châu: Phiá bắc của núi tu-di. Giữ thập thiện được an vui, nhưng không chịu khó tu học nên chẳng gặp Phật.

  3. Nạn sanh trước và sau Phật: Phật trước đã qua. Phật Di lặc lại chưa đến. Lại ở chỗ chẳng có Phật nào truyền bá.

  4. Nạn thế trí biện thông: Tâm trí lanh lợi, chỉ ưa đắm kinh sách ngoại đạo, ngoại điển, chẳng tin chánh pháp xuất thế. Thế là bị chướng nạn đối với Phật pháp.

  5. Nạn si, lung, âm và á: điếc, đui, câm và ngọng.

  6. Súc sanh

  7. Ngạ quỷ

  8. Địa ngục.

Tập quan sát chúng ta đang ở trong những nạn và những báo chướng bất tịnh như thế. Tập quan sát sự thật và biết thân phận chúng ta như thế để tránh không bị ảo kiến đánh lừa (kiến trược). Lo luyện tâm, khôi phục quyền tự chủ, để kiến tạo đạo nghiệp.

Cũng đồng nghiệp làm kiếp người, nhưng có nhiều biệt nghiệp riêng. Có chúng sanh bần tiện, cao sang, xinh đẹp, xấu xí và may mắn, bất hạnh… đều do hạnh nghiệp chánh kiến hay tà kiến, thiện hạnh hay ác hạnh ở thân, miệng và ý. Trong Tăng chi bộ kinh, Đức Phật dạy Mạt Lợi, hoàng hậu của vua Ba Tư Nặc rằng:


tải về 474.53 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương