Bắc bình 25 năm xây dựng và phát triển 1975-2000 (Sơ thảo) Lời nói đầu



tải về 9.09 Mb.
trang1/14
Chuyển đổi dữ liệu29.12.2019
Kích9.09 Mb.
#105745
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Thắng/1975-2000

BẮC BÌNH

25 năm xây dựng và phát triển

1975-2000

(Sơ thảo)

Lời nói đầu

Sau ngày giải phóng 18/4/1975, hoà chung với thắng lợi của đất nước, nhân dân huyện Bắc Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện cùng cả nước thực hiện một giai đoạn mới của lịch sử - giai đoạn thống nhất Tổ quốc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chấp hành Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28/8/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) và Thông báo số 255-TB/TU, ngày 11/11/2002 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Bình Thuận (khoá X) về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ các cấp.

Ban thường vụ Huyện uỷ Bắc Bình (khoá IX) đã tổ chức biên soạn tập sơ thảo : “Bắc Bình- 25 năm xây dựng và phát triển (1975-2000)”, ghi lại một chặng đường Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đến nay công việc đã hoàn thành và Ban thường vụ Huyện uỷ quyết định phát hành tập sách này đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trong Huyện.

Tiếp nối tập “Bắc Bình- truyền thống đấu tranh cách mạng 1930-1975” đã được Huyện uỷ tái bản phát hành vào năm 2000, tập sách “Bắc Bình- 25 năm xây dựng và phát triển” phản ánh các giai đoạn, sự kiện lịch sử của huyện Bắc Bình trong 25 năm (1975-2000), từ hoạt động khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, giữ vững thành quả cách mạng của những ngày đầu sau giải phóng, tiến tới thực hiện các bước cải tạo nền kinh tế-xã hội cũ, xác lập các tiền đề cho một nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho đến giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tiến hành bước đầu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp-nông thôn. Đồng thời với ghi nhận những thành quả đạt được, tập sách cũng nêu những mặt hạn chế, khó khăn; qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực đầu tiên trên con đường xây dựng và phát triển quê hương.

Quá trình biên soạn tập sách, bộ phận biên soạn đã căn cứ vào các báo cáo, nghị quyết, chỉ thị từ năm 1975 đến năm 2000 đang lưu trữ tại Huyện và khai thác tại kho lưu trữ Tỉnh. Tập lịch sử còn được nhiều đồng chí là cán bộ đã làm việc tại Huyện hiện nghỉ hưu hoặc đang công tác đã cung cấp thêm tư liệu và góp nhiều ý kiến vào bản thảo làm cho nội dung tập sách thêm phong phú, sinh động. Tuy nhiên, do việc lưu trữ và sưu tầm, khai thác tư liệu ở cấp huyện phục vụ cho biên soạn nội dung tập sách còn hạn chế, chưa thật đáp ứng với yêu cầu đề ra, nên trong lần phát hành này, tập sách không thể tránh khỏi những thiếu sót.

Ban thường vụ Huyện uỷ Bắc Bình (khoá IX) mong rằng, khi tập sách “Bắc Bình- 25 năm xây dựng và phát triển (1975-2000)” phát hành đến cán bộ, đảng viên và nhân dân trong Huyện sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu để lần tái bản sau này, tập sách được đầy đủ hơn.

BAN THƯỜNG VỤ

HUYỆN UỶ BẮC BÌNH KHOÁ IX

PHẦN MỘT

HUYỆN BẮC BÌNH HOÀN THÀNH CUỘC CÁCH MẠNG

DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN,

TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

(1975-1985)

----------

Chương I

HUYỆN BẮC BÌNH SAU NGÀY GIẢI PHÓNG.

( 4/1975 - 10/1976 )

---

Trên cơ sở phân tích tình hình chiến trường một cách đúng đắn, từ tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: “động viên sự nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương và chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích…tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành quyền làm chủ về tay nhân dân” . Hội nghị còn nhấn mạnh: ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm 1975-1976, phải ra sức chuẩn bị về mọi mặt để khi có thời cơ lịch sử đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức tập trung lực lượng của cả nước giải phóng miền Nam trong năm 1975 1.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và chủ trương của Tỉnh uỷ Bình Thuận, các địa phương nắm chắc thời cơ, thực hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa theo phương châm tự lực, tự cường “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh”. Theo tinh thần đó, Huyện ủy các huyện Tuy Phong, Hoà Đa, Phan Lý, Hải Ninh chỉ đạo cho các xã, các đội công tác tổ chức lực lượng tại chỗ, thành lập ban khởi nghĩa địa phương và phân công các đoàn thể, từng bộ phận chuẩn bị, để khi có thời cơ thì nhất tề đứng lên giành chính quyền, làm chủ quê hương. Lực lượng chính trị trong vùng địch được xây dựng; bộ đội địa phương và du kích sẵn sàng áp sát các xã, ấp của địch.

Sau khi Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh khác ở duyên hải miền Trung đã được giải phóng, địch chuyển quân và phương tiện quân sự lập tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn từ xa, lấy Phan Rang (Ninh Thuận) làm vị trí tiền tiêu quan trọng, kêu gọi binh lính tử thủ. Tuy nhiên, những điều đó đã không củng cố được tinh thần nguỵ quân, nguỵ quyền ở Bình Thuận. Trong khi đó, hàng ngày trên đường quốc lộ 1A, cảnh tượng người xe di tản từ các tỉnh thất thủ chạy vào hướng Sài Gòn kéo theo đội quân cướp giật, làm cho địch không còn kiểm soát nổi.

Ngày 14/4/1975, ta tiến công tuyến phòng thủ của địch tại Phan Rang, đánh cảng Ninh Chữ, tiến công đánh chiếm thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn, chặn đường địch tháo chạy ra biển. Ngày 16/4/1975, lá chắn phòng thủ Phan Rang-Tháp Chàm bị ta đập tan, tỉnh Ninh Thuận được hoàn toàn giải phóng.

Tin tỉnh Ninh Thuận đã được quân, dân ta giải phóng và cánh quân Duyên hải- Quân đoàn II đang tiến vào Phan Thiết-Bình Thuận làm cho địch ở các huyện Tuy Phong, Hoà Đa, Phan Lý Chàm, Hải Ninh hoàn toàn rệu rã, có người bỏ việc hoặc làm việc cầm chừng. Chỉ một số ít bọn đầu sỏ vẫn còn ngoan cố, một mặt muốn ra sức chặn đường tiến quân của ta, mặt khác lại ra lệnh đốt hồ sơ tài liệu và chuẩn bị tìm đường tháo chạy.

Sau khi đánh địch ở Cà Ná, cánh quân Duyên hải-Quân đoàn II tiến đến ngã tư Liên Hương vào chiều ngày 17/4/1975, không gặp sự kháng cự nào vì lực lượng địch tại Chi khu quận lỵ Tuy Phong của địch đã bỏ súng, chạy trốn xuống hướng biển từ sáng sớm. Nắm được thời cơ đó, đêm 17/4/1975 Huyện ủy Tuy Phong khẩn trương tổ chức phối hợp lực lượng, đến 4 giờ sáng ngày 18/4/1975 tiến vào tiếp quản quận lỵ Tuy Phong. Sau đó lần lượt các xã vùng tạm bị chiếm của huyện Tuy Phong đứng lên giành chính quyền. Tối 21/4/1975, tại trường Bồ Đề, huyện Tuy Phong tổ chức lễ ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Huyện gồm 8 uỷ viên, do đồng chí Phạm Trọng Do, Uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ làm Chủ tịch. Bộ máy chính quyền và các đoàn thể nhân dân cấp xã, thôn cũng được thành lập và lần lượt ra mắt nhân dân vào những ngày cuối tháng 4/1975.

Tại huyện Hoà Đa, từ trung tuần tháng 4/1975, Huyện ủy đã có kế hoạch phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ và các Huyện ủy viên trực tiếp bám địa bàn các xã, ấp phía trước để chỉ đạo kịp thời công việc tiếp quản. Cán bộ các ban, ngành, đoàn thể của Huyện và các xã căn cứ, giải phóng được điều về tăng cường cho các đội công tác. Do yêu cầu cần tăng cường lực lượng vũ trang phối hợp với cơ sở bên trong tiến hành tiếp quản, Huyện ủy thành lập Trung đội cơ động hoạt động trên địa bàn từ xã Phan Rí Thành đến xã Lương Sơn, do Huyện Đội trực tiếp chỉ huy có nhiệm vụ truy bắt bọn ác ôn, thu vũ khí, tài liệu của địch và kêu gọi tàn quân ra trình diện. Với khí thế tiến công của Quân đoàn II và sau khi huyện Tuy Phong được giải phóng, địch trong huyện Hoà Đa hoang mang, tạo điều kiện cho các xã dọc quốc lộ 1A và Chi khu quận lỵ Hòa Đa lần lượt được giải phóng. Ngày 17/4/1975, ở xã Chí Công (nay thuộc huyện Tuy Phong), cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc nhà “Hội đồng hương chính” của địch. Ở Phan Rí Cửa (nay thuộc huyện Tuy Phong), 21 giờ cùng ngày, quân ta phối hợp với lực lượng cơ sở bên trong giải phóng thôn Lâm Lộc (nay là xã Hoà Minh-Tuy Phong). Đến 4 giờ sáng ngày 18/4/1975, được cơ sở vào báo lực lượng Quân đoàn II đã giải phóng Chi khu quận lỵ Hoà Đa, bọn địch tại đây hốt hoảng đốt hồ sơ giấy tờ, chạy thoát thân. Sau đó đến khoảng 7 giờ, Đội công tác vào tiếp quản, xã Phan Rí Thành đã được giải phóng. Ở Chợ Lầu và Lương Sơn, cờ Mặt trận tung bay khắp mọi nhà vào sáng ngày 18/4/1975. Ở Hồng Thái, do có lực lượng cơ sở bên trong mạnh, nên lúc 18 giờ ngày 17/4/1975, nhân dân các ấp Hiệp Hoà, Hiệp An đã nổi dậy, tự giải phóng. Như vậy đến ngày 18/4/1975, toàn Huyện Hoà Đa đã hoàn toàn giải phóng.

Trước ngày giải phóng, ngày 05/01/1975, Tỉnh uỷ Bình Nam (Bình Thuận) có Quyết định số 133 công nhận Ban chấp hành Đảng bộ huyện được bầu từ Đại hội Đảng bộ huyện Hoà Đa lần thứ III (tháng 11 năm 1974) gồm 16 đồng chí ( có 4 uỷ viên dự khuyết) và chỉ định đồng chí Nguyễn Luông (Đặng Bá Sang) làm Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban nhân cách mạng lâm thời huyện 2. Đến ngày 03/5/1975, Huyện long trọng tổ chức lễ mít-tinh mừng chiến thắng và ra mắt đồng bào tại sân vận động Chi Lăng (xã Phan Rí Thành). Hàng ngàn người tay cầm cờ Mặt trận và khẩu hiệu cách mạng, hân hoan đến dự ngày vui mừng quê hương được giải phóng. Thay mặt Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ninh, uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ công bố Quyết định thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Hoà Đa do đồng chí Đặng Bá Sang làm Chủ tịch, đồng chí Bùi Quốc Thắng làm Phó Chủ tịch, đồng chí Trần Hồng Trinh làm Ủy viên thường trực và một số uỷ viên khác. Kể từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân.

Thực hiện chính sách “10 điểm” đối với vùng mới giải phóng, nhằm ổn định tình hình, Huyện ủy chỉ đạo các xã thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách :

-Khẩn trương và triệt để truy quét bọn tàn quân còn ẩn náu trong dân hoặc trốn chạy ra rừng. Ra lệnh các đối tượng tham gia ngụy quân-ngụy quyền phải ra trình diện, quy định thời gian nộp vũ khí, hồ sơ, tài liệu, phương tiện chiến tranh và tài sản của chế độ cũ.

-Xoá bỏ tất cả tàn tích và những tệ nạn xã hội.

-Mau chóng ổn định và khôi phục đời sống nhân dân trở lại bình thường.

-Nắm lại số công chức ngành Giáo dục, Y tế để mở lại trường học, trạm xá.

-Xây dựng thực lực cách mạng từ chính quyền lâm thời đến các đoàn thể nông hội, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên ở cơ sở xã, thôn.

-Khẩn trương tổ chức các tiểu đội, trung đội dân quân du kích bảo vệ xóm làng.

-Số vũ khí thu được, một phần để lại trang bị cho lực lượng của xã, còn lại giao về kho Huyện bảo quản.

Trong những tháng đầu giải phóng, khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân không ngừng dấy lên mạnh mẽ. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội, lao động biển phát triển nhanh, hăng hái huy động nhân dân tham gia bóc gỡ bốt đồn, công sự, phá rào ấp chiến lược, xóa dấu vết của chế độ cũ, dọn dẹp vệ sinh… Ban đêm nhân dân sinh hoạt, học tập chính trị và tập diễn văn nghệ. Lực lượng tự vệ phát triển khắp các thôn xã. Nhân dân rất phấn khởi, tự giác ủng hộ lương thực- thực phẩm và các vật dụng cần thiết khác cho cách mạng để tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng thanh niên hoàn thành tốt các công việc như: phục vụ trang trí các cuộc lễ mítting, tham gia tu sửa đường sắt Bắc Nam, giúp đỡ đồng bào vùng có nhiều khó khăn thuộc khu căn cứ Lê Hồng Phong … Công tác cải tạo 3.020 người là ngụy quân- ngụy quyền 3 đã ra trình diện được phối hợp triển khai chặt chẽ. Đối với số người học tập cải tạo tại chỗ có tiến bộ, chính quyền cấp giấy chứng nhận phục hồi quyền công dân, động viên họ tham gia các công tác do chính quyền đề ra. Hầu hết số người cải tạo tốt đều có chung cảm tưởng: chính sách khoan hồng của cách mạng đã xóa đi những lỗi lầm của họ dưới chế độ Mỹ - ngụy.



Nhiệm vụ chăm lo đời sống để dân không thiếu đói sau ngày giải phóng là vấn đề rất khó khăn. Dân số huyện Hoà Đa sau ngày giải phóng khoảng 64.000 người; trong đó dân số phi nông nghiệp và số người của chế độ cũ chưa có công ăn việc làm chiếm hơn 50%. Để giải quyết khó khăn về lương thực, Huyện cử đồng chí Bùi Quốc Thắng liên hệ, mua lương thực tại Tổng kho lương thực miền Nam để phân phối cho nhân dân.


Lễ mitting mừng chiến thắng của huyện Hoà Đa

tại sân vận động Chi Lăng (xã Phan Rí Thành)





Đồng chí Đặng Bá Sang

Bí thư Huyện ủy Hoà Đa (11/1974 – 2/1976)

Quyền Bí thư Huyện ủy Bắc Bình (12/1983-10/1986)

Đến tháng 6/1975, thực hiện Chỉ thị 02 của Khu ủy Khu 6 và Chỉ thị của Tỉnh ủy Bình Thuận về thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, Huyện tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện tốt chính sách ruộng đất nhằm khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Trước tiên, thu hồi ruộng đất của số ngụy quân - ngụy quyền lợi dụng chức quyền san ủi, lấn chiếm ruộng đất trái phép trong thời kỳ chiến tranh để chia cấp cho nông dân không ruộng và thiếu ruộng; lập tổ vần đổi công, tổ đoàn kết sản xuất. Đây là một trong những công tác trọng tâm của chính quyền cách mạng sau ngày giải phóng, được nông dân đồng tình ủng hộ. Các xã tiến hành điều tra cơ bản sở hữu ruộng đất, xác định thành phần để có chủ trương vận động phù hợp đúng chính sách. Nhiều xã không có địa chủ phản động, chỉ có địa chủ yêu nước, trong đó có nhiều gia đình hiến cả tài sản và cho con em đi kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cho nên cuộc vận động hiến điền thực hiện khá thông suốt. Đi đôi với thực hiện chính sách ruộng đất, Huyện chỉ đạo các xã vận động nhân dân về lại khu dân cư cũ xây dựng xóm làng, phục hóa khai hoang, khôi phục và mở rộng các mặt sản xuất nông, ngư nghiệp…để từng bước ổn định cuộc sống, không để nạn đói xảy ra.

Về y tế, Huyện khẩn trương tổ chức tiếp quản Trung khu y tế Hoà Đa tại xã Phan Rí Cửa để thành lập Bệnh viện Huyện. Các y tá , y sĩ ở chiến khu về làm việc ngay, bên cạnh đó ta tuyển dụng số y- bác sĩ chế độ cũ vào làm việc nhằm chửa bệnh cho nhân dân. Để tăng cường đội ngũ chuyên môn, Huyện mở lớp đào tạo cấp tốc 40 y tá đưa về công tác tại Trạm y tế các xã : Chí Công, Hòa Minh, Phan Rí Thành, Chợ Lầu, Lương Sơn, Hòa Thắng. Ngoài ra, Huyện còn tổ chức các tổ y tế lưu động đi khám, chữa bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, miền núi.

Hoạt động giáo dục tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng việc dạy và học tiếp tục được duy trì. Để giải quyết những khó khăn trước mắt, ngoài số giáo viên ở căn cứ về, ta xem xét tuyển dụng giáo viên chế độ cũ; mặt khác, tổ chức khoá sư phạm cấp tốc đào tạo giáo viên tại chỗ và xin chi viện giáo viên từ miền Bắc vào. Đồng thời ngành giáo dục Huyện tiến hành tổ chức các lớp tập huấn chính trị, chương trình và phương pháp giảng dạy mới cho giáo viên. Bên cạnh đó, Huyện chỉ đạo các cấp tiểu học và trung học hoàn thành chương trình năm học 1974-1975. Riêng trường Trung học công lập Hòa Đa, lớp 12 được tiếp tục học và thi tốt nghiệp theo quy định chung của ngành giáo dục miền Nam.

Sau giải phóng, để bảo đảm thông tin-liên lạc thông suốt, các cán bộ, nhân viên giao liên được Huyện giao nhiệm vụ tiếp quản các cơ sở Bưu điện, tận dụng những thiết bị cũ sẵn có, triển khai các phương án thực hiện theo yêu cầu chỉ đạo. Ta sử dụng máy PRC10, PRC25 thu được của địch, để liên lạc giữa Huyện và Tỉnh. Đồng thời Huyện thành lập Trạm giao liên trung tâm, dùng xe đạp, xe hon-da chuyển tài liệu, công văn phục vụ kịp thời cho sự chỉ đạo và chỉ huy của cấp uỷ và chính quyền.

Ngành Thông tin-Văn hoá tiếp quản các cơ sở thông tin chiêu hồi của địch tại Phan Rí Thành, Phan Rí Cửa; phát động quần chúng xóa bỏ khẩu hiệu phản động, cờ, ảnh tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, thu gom văn hóa phẩm đồi trụy; tuyên truyền chính sách hòa hợp dân tộc, kêu gọi ngụy quân - ngụy quyền ra trình diện, đồng thời mở lớp tập huấn chính trị ngắn ngày cho 120 học viên làm công tác thông tin văn hóa cơ sở. Vận động nhân dân xóa bỏ nếp sống cũ, xây dựng nếp sống mới; tổ chức và xây dựng phong trào văn hóa- văn nghệ quần chúng; xóa bỏ những tụ điểm cà phê nhạc vàng; xây dựng các điểm vui hát những bài ca cách mạng.

Tháng 10/1975, Huyện thành lập Ban chỉ đạo cải tạo tư sản mại bản để thực hiện Nghị quyết chuyên đề của cấp trên. Danh sách các đối tượng cải tạo do Tỉnh ấn định, riêng huyện Hòa Đa có 3 hộ trong diện cải tạo thuộc xã Phan Rí Cửa, trong đó có 02 hộ thuộc diện tề xã và 01 hộ tư sản dân tộc.

Ở huyện Phan Lý, sau khi ta giải phóng quận Hòa Đa, bọn ngụy quân - ngụy quyền quận thấy rằng không thể chống trả được quân giải phóng nên ngay trong đêm 17/4/1975 đã tháo chạy, bỏ trống Chi khu quận lỵ Phan Lý Chàm và khu vực xã Hựu An. Vào 2 giờ sáng ngày 18/4/1975, huyện Phan Lý hoàn toàn được giải phóng. Đối với ta, trước tình hình chuyển biến nhanh chóng, từ sáng sớm ngày 18/4/1975, Huyện ủy Phan Lý thành lập ngay 2 bộ phận chính tiến về phối hợp với cơ sở bên trong tiếp quản chính quyền. Bộ phận thứ nhất, lực lượng chủ yếu Đại đội 470, Bộ đội địa phương Huyện, tiến vào tiếp quản quận lỵ Phan Lý Chàm và xã Hựu An (nay là xã Phan Hiệp). Bộ phận thứ hai phối hợp với một đơn vị thuộc lực lượng Đại đội 470 và Đội công tác xã Châu Hanh-Thanh Kiết tiến vào tiếp quản xã Tịnh Mỹ (nay là xã Phan Thanh), kêu gọi và tiếp nhận sự đầu hàng của trung đội dân vệ 90 Phan Lý Chàm đóng tại Trí Thái - Mai Lãnh cùng một số tề xã ra trình diện, thu toàn bộ vũ khí. Cùng thời gian này, Đội công tác xã Phan Hoà triển khai tiếp nhận việc đầu hàng của tề xã Hậu Quách; Đội công tác Cà Giây và du kích các xã căn cứ miền núi bám sát khu tập trung dồn dân Trinh-Phú-Gia (ghép tên 3 xã đồng bào dân tộc miền núi của địch là Trinh Hoà, Phú Nhiêu và Gia Hoà) phía tây bắc Sông Mao, kêu gọi tề xã nộp vũ khí, hồ sơ, tài liệu; đồng thời phá banh khu này, đưa đồng bào các dân tộc K’Ho, Raglai… trở về buôn làng cũ sinh sống, cùng xã cũ thành lập trong kháng chiến là Phan Sơn, nay Huyện thành lập thêm 2 xã mới là Phan Lâm và Phan Điền. Sau đó được tin báo của cơ sở, có một số sĩ quan và binh lính tàn quân địch thuộc Đại đội bảo an 445 đang lẫn trốn tại chân núi Nước Nhỉ (phía bắc Phan Điền ngày nay), trong đó có Thiếu tá Quận trưởng Phan Lý Chàm. Với chính sách nhân đạo, Huyện ủy Phan Lý vận động một cơ sở cách mạng bên trong có quan hệ bà con họ hàng với Thiếu tá Quận trưởng đến gặp kêu gọi họ đầu hàng trở về với nhân dân sẽ được hưởng chính sách khoan hồng của cách mạng và sẽ không bị trả thù như sự xuyên tạc của địch. Tin tưởng theo sự vận động của cơ sở ta, chiều ngày 19/4/1975, số sĩ quan và binh lính này mang toàn bộ vũ khí, điện đài, đồ dùng quân sự trở về trình diện với chính quyền cách mạng.

Tất cả số tề, ngụy quân của quận Phan Lý Chàm ra trình diện4 ta phân loại, số có chức vụ quận trưởng, thiếu tá trở lên thì đưa đi học tập cải tạo ở trại của tỉnh. Còn lại đại đa số là binh lính, công chức xã, ấp thì tổ chức học tập tại huyện, sau đó cấp giấy quyền công dân cho họ về nhà làm ăn.

Sau khi thực hiện xong nhiệm vụ tiếp quản và ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội, ngày 15/5/1975, huyện Phan Lý long trọng tổ chức lễ mít-tinh để chào mừng chiến thắng và ra mắt chính quyền cách mạng lâm thời huyện Phan Lý. Có gần một ngàn người đồng bào Chăm và đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phấn khởi kéo nhau về tham dự lễ. Đồng chí Đặng Chế Hoa, Bí thư Huyện uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Huyện đọc diễn văn chào mừng cách mạng thành công, đồng thời nêu bật những thành tích của quân và dân huyện Phan Lý đóng góp cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, khẳng định lòng tin son sắt của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Bác Hồ, vào Đảng. Đối với nhiệm vụ sắp đến, đồng chí động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong Huyện khẩn trương lập lại an ninh chính trị - trật tự xã hội, từng bước ổn định đời sống, đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm, xây dựng hệ thống chính trị và lực lượng vũ trang vững mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước.



Trong thời gian 6 tháng cuối năm 1975, trước tình hình có nhiều khó khăn nhiều mặt, nhưng Huyện uỷ Phan Lý đã giải quyết được một số vấn đề lớn và căn bản. Về kinh tế, Huyện ra sức khôi phục sản xuất, tiến hành khai hoang phục hoá, gia cố sửa chữa các công trình thuỷ lợi. Thực hiện chính sách ruộng đất, vận động san sẻ trong nội bộ và thu hồi ruộng đất công chia cấp cho nông dân không ruộng hoặc thiếu ruộng đất. Tiếp nhận gạo, bột mì và một số nhu yếu phẩm của Tỉnh về phân phối cho



Đồng chí Đặng Chế Hoa

Bí thư Huyện ủy huyện Phan Lý ( -2/1976)


nhân dân. Nhờ đó, khó khăn về lương thực dần được khắc phục, không để nạn thiếu đói xảy ra. Về khám, chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, Huyện duy trì Bệnh xá Huyện (nay là khu cơ quan Mặt trận huyện Bắc Bình), lập một Đội Y tế lưu động, lưu dụng một số y sĩ, y tá, nữ hộ sinh, lập 4 trạm y tế xã, mở lớp cấp tốc đào tạo cấp cứu viên tăng cường cho mạng lưới y tế thôn. Huyện chọn lại trong số giáo viên cũ tại 7 trường tiểu học và Trường trung học tỉnh hạt Phan Lý Chàm để tiếp tục duy trì việc học tập, hoàn thành chương trình năm học 1974-1975 đồng thời đào tạo cấp tốc số giáo viên mới để tổ chức khai giảng năm học đầu tiên của chế độ mới. Chính quyền cách mạng lâm thời ở các xã trong Huyện (gồm 3 xã Phan Thanh, Phan Hiệp, Phan Hoà và 3 xã miền núi Phan Điền, Phan Sơn, Phan Lâm) và các thôn trong các xã được thành lập, ra mắt và đi vào hoạt động. Các đoàn thể cách mạng nhanh chóng phát triển và củng cố. Lực lượng dân quân hình thành ở xã, thôn giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Do đặc thù về đội ngũ cán bộ của Huyện, Thường vụ Huyện uỷ Phan Lý quan tâm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chính trị, tuyển chọn số thanh niên có trình độ học vấn, có nhân thân tốt để làm cán bộ, cốt cán ở xã-thôn và động viên thoát ly tham gia các cơ quan Huyện, chuẩn bị cho việc đào tạo cán bộ chủ chốt của Huyện sau này. Đa số các tầng lớp nhân dân đã thấy rõ đường lối, chính sách của Chính phủ cách mạng là phù hợp với tâm tư nguyện vọng của mình nên những diễn biến tư tưởng, tâm trạng băn khoăn lo lắng về dân tộc, tôn giáo dần dần được đả thông và cởi mở.

Còn ở huyện Hải Ninh 5, trong hai ngày 16 và 17/4/1975, ngụy quân, ngụy quyền quận lén rút xuống ngã ba Chợ Lầu bỏ chạy, một số xuống Phan Rí Cửa để cướp ghe thuyền của dân chạy ra biển thoát thân. Được tin cơ sở báo ra, sáng ngày 18/4/1975, Ban Cán sự Hải Ninh phối hợp cùng Đội công tác Sông Mao tiến vào tiếp quản 3 xã Hải Xuân, Hải Lạc, Hải Thuỷ (nay là 3 thôn của xã Hải Ninh) và Chi khu quận lỵ Hải Ninh. Đội công tác Sông Lũy chia làm 2 mũi tiến vào tiếp quản các điểm Gia Le và Nghĩa Thuận; sau đó cả hai mũi này phối hợp chặt chẽ với cơ sở nòng cốt bên trong, tiếp quản xã Sông Lũy. Đồng bào các nơi trong Huyện vô cùng phấn khởi, treo cờ Giải Phóng mừng toàn thắng. Tại Sông Mao và Sông Luỹ, công việc tiếp quản được thực hiện nhanh chóng. Hầu hết số ngụy quân, ngụy quyền quận lần lượt kéo nhau ra trình diện, giao nộp vũ khí, tài liệu cho các đội thu gom theo thời gian quy định 6 và sau đó được phân loại, tổ chức học tập cải tạo. Một số dân vệ, bảo an bỏ chạy ra rừng, ta vận động gia đình họ kêu gọi trở về để được hưởng chính sách khoan hồng của cách mạng. Những tàn tích của địch như cờ, khẩu hiệu trên đường đi và trước cửa nhà dân, sách báo, tranh ảnh phản động, những tụ điểm cờ bạc, hút sách, gái mại dâm nổi tiếng một thời ở Sông Mao kể cả bọn lưu manh, du đảng, trộm cướp đều bị thu gom. Cùng thời gian này, được nhân dân phát hiện và báo tin, ta truy tìm 2 hầm vũ khí địch cất giấu tại khu vực Hải Ninh.



Song song với tổ chức học tập cải tạo cho số ngụy quân, ngụy quyền, các xã Sông Mao, Sông Lũy, Gia Le, Nghĩa Thuận thường xuyên tổ chức học tập các chủ trương, chính sách của chính quyền cách mạng, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Nùng, Tày, Hoa… đến tham dự. Mỗi xã đều phát triển dân quân tự vệ; trong đó, xã Sông Lũy tổ chức xây dựng và phát triển được 1 trung đội nam và hơn 1 tiểu đội nữ dân quân tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ các xã, ngoài việc làm nhiệm vụ bảo vệ xóm làng, còn có kế hoạch phối hợp với Trung đoàn 812 quân khu V đóng quân tại đây truy quét tàn binh địch.


Đồng chí Nguyễn Xuân Trà (Năm Trà)

Bí thư Ban cán sự Hải Ninh (1/1975 – 6/1975)

Bí thư Huyện uỷ huyện Hải Ninh (6/1975 – 2/1976)
Sau khi tiếp quản và ổn định xã hội, ngày 25/4/1975 Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Hải Ninh do đồng chí Bế Phùng Cang làm Chủ tịch, long trọng tổ chức lễ metting ra mắt đồng bào trong Huyện. Tháng 6/1975, Tỉnh ủy lập Huyện ủy Hải Ninh để lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Đối với đảo Phú Quý, trước năm 1975 trực thuộc huyện Tuy Phong; còn đối với địch, đảo Phú Quý là một đơn vị hành chánh riêng. Sau khi giải phóng thị xã Phan Thiết ngày 19/4/1975, Tỉnh uỷ Bình Thuận lập đoàn công tác chuẩn bị thực hiện giải phóng đảo Phú Qúy. Khoảng 3 giờ sáng ngày 27/4/1975, các đơn vị làm nhiệm vụ giải phóng Đảo đổ bộ lên xã Long Hải, triển khai lực lượng tấn công địch. Bọn cầm đầu và tề ngụy trên Đảo bị ta diệt và bắt sống. Đến trưa ngày 27/4/1975, phần đất cuối cùng của tỉnh Bình Thuận được hoàn toàn giải phóng. Ngày 29/4/1975, lễ mít-tinh mừng thắng lợi được tổ chức, Uỷ ban quân quản của Đảo được thành lập và ra mắt nhân dân. Ngày 19/5/1975, Tỉnh ủy ra quyết định thành lập Ban cán sự Đảng và chính quyền cách mạng lâm thời của Đảo, đồng chí Phạm Trọng Do được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự kiêm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Đảo và một số thành viên khác. Các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên Đảo sau đó từng bước đi vào ổn định. Hơn 13.000 người dân trên Đảo thực sự sống trong độc lập, tự do dưới chế độ mới xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, từ giữa tháng 4/1975 đến đầu năm 1976, 4 huyện Tuy Phong, Hoà Đa, Phan Lý, Hải Ninh và đảo Phú Quý đã chỉ đạo, giải quyết cơ bản ổn định các mặt chính trị, xã hội và an ninh-quốc phòng. Các hoạt động kinh tế trở lại bình thường, không để xảy ra nạn thiếu đói ở một số vùng trong mùa giáp hạt . Đặc biệt, thực hiện chủ trương của Đảng về người nông dân có ruộng cày, các Huyện tập trung nổ lực giải quyết cho giai cấp nông dân có ruộng cày. Kể từ đây, nhiều nông dân thực sự làm chủ trên mãnh đất, luống cày của mình mà bao đời nay chỉ là mơ ước. Tài nguyên đất, rừng, biển, khoáng sản, hồ, đập, sông, suối…từng bước được đưa vào khai thác. Sau cải tạo tư sản, từ ngày 22 đến ngày 25/9/1975, cùng với các địa phương toàn miền Nam, các Huyện đã thực hiện công tác đổi tiền cũ chế độ Sài Gòn sang tiền mới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà nhân dân thường gọi là tiền Giải Phóng, theo tỷ lệ 500 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới, an toàn và đạt kết quả. Các cơ quan, trường học, trạm xá, bệnh viện, các hoạt động văn nghệ-thể thao được phục hồi nhanh chóng phục vụ cho nhân dân. Các phong trào hành động cách mạng trong các ngành, các giới phát triển sôi nổi, làm tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với cách mạng.

Cuối năm 1975, Trung ương có chủ trương tổ chức lại các đơn vị hành chánh trong cả nước. Đầu năm 1976, thực hiện chủ trương trên, 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy hợp nhất thành tỉnh Thuận Hải. Tháng 01/1976, đồng chí Nguyễn Ninh, Tỉnh uỷ viên, được Thường vụ Tỉnh uỷ Thuận Hải uỷ quyền, triệu tập cuộc họp hợp nhất 4 huyện Hòa Đa, Phan Lý, Hải Ninh và Tuy Phong thành huyện Bắc Bình. Đại diện 4 Huyện đề xuất với Tỉnh về nhân sự, tổ chức bộ máy để Tỉnh xem xét quyết định.

Ngày 07/2/1976, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thuận Hải có Quyết định số 33-QĐ/TU về “Nhân sự Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ huyện Bắc Bình” gồm 21 đồng chí và Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 7 đồng chí :

1-Đồng chí Nguyễn Ninh : Bí thư

2-Đồng chí Đặng Bá Sang : Phó Bí thư trực

3-Đồng chí Đặng Chế Hoa : Phó Bí thư phụ trách Dân vận

4-Đồng chí Bùi Quốc Thắng : Uỷ viên Thường vụ

5-Đồng chí Phạm Trọng Do : -nt-

6-Đồng chí Nguyễn Quốc Thịnh : -nt-

7-Đồng chí Nguyễn Thanh Lực : -nt-

Tiếp đến, ngày 25/2/1976, Uỷ ban Nhân dân cách mạng tỉnh Thuận Hải có quyết định số 79-QĐ/UB bổ nhiệm Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời huyện Bắc Bình gồm 9 đồng chí, trong đó :

1-Đồng chí Bùi Quốc Thắng làm Chủ tịch

2-Đồng chí Phạm Trọng Do làm Phó Chủ tịch

3-Đồng chí Mai Dần làm Uỷ viên thư ký




Đồng chí Nguyễn Ninh

Bí thư Huyện ủy huyện Bắc Bình (2/1976 - 8/1978)

Huyện Bắc Bình có 29 xã và 89 thôn 7. Trụ sở cơ quan Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Huyện đặt tại quận lỵ Hoà Đa cũ (xã Phan Rí Thành), đến cuối tháng 6/1976 chuyển về tại Sông Mao thuộc xã Hải Ninh. Các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban Huyện gồm có Phòng Tài chính, Phòng Lương thực, Phòng Bưu điện, Phòng Công nghiệp, Phòng Giao thông, Phòng Thương nghiệp, Phòng Giáo dục, Toà án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân, Công an, Ban chỉ huy Quân sự huyện, Phòng Văn hóa-Thông tin.

Toàn Huyện có 3 vùng rõ rệt: đồng bằng, miền núi, ven biển. Ngoài ra, có đảo Phú Quý cách xa đất liền hơn 100 km. Địa giới của Huyện, phía Bắc giáp huyện Ninh Phước, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp huyện Hàm Thuận, phía Đông và Nam giáp biển. Dân số có 143.339 người, gồm các dân tộc: Kinh, Chăm, K’Ho, Raglai, Hoa, Tày, Nùng,…Đa số dân sống tập trung ở đồng bằng dọc 2 bên quốc lộ 1A, đông nhất ở thị trấn và miền biển.

Huyện Bắc Bình có nhiều tiềm năng kinh tế về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và thuận lợi về giao thông vận tải do có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam đi qua. Toàn Huyện có 14.000 ha đất canh tác. Cây lương thực có 10.000 ha (trong đó có 6.000 ha lúa). Cây công nghiệp có 2.500 ha, thích hợp với cây bông vải và cây thuốc lá. Khả năng khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích đất canh tác rất lớn đối với các xã đồng bằng và miền núi. Vùng đất cát khu căn cứ Lê Hồng Phong từ Phan Rí Thành đến Bình Tân chuyên trồng các cây đặc sản như dưa lấy hạt, mè, đậu phộng…. Rừng ở Bắc Bình tuy ít nhưng có nhiều gỗ quý. Ngoài ra còn có nguồn lợi thiên nhiên đặc biệt như nước khoáng Vĩnh Hảo. Bờ biển Bắc Bình dài trên 70 km (từ Vĩnh Hảo đến Mũi Né), có nhiều loại hải sản. Sản lượng đánh bắt hàng năm khoảng 36.000 tấn, thuận lợi cho phát triển nghề cá, làm muối và chế biến hải sản ở các xã ven biển.

Sau khi hợp nhất, Huyện uỷ lâm thời huyện Bắc Bình tổ chức Hội nghị lần thứ nhất từ ngày 04-11/3/1976, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch khôi phục, cải tạo phát triển kinh tế-văn hoá năm 1976, trong đó xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt là : Phát động phong trào đoàn kết toàn dân, tiếp tục đấu tranh giữ vững thành quả cách mạng, kết hợp chặt chẽ với các yêu cầu mục tiêu phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất-tinh thần cho nhân dân với phát động quần chúng xây dựng chính quyền, đoàn thể vững chắc, lực lượng vũ trang mạnh mẽ, bảo đảm nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo toàn diện, hoàn thành nhiệm vụ mới. Về kinh tế, ra sức khôi phục cải tạo và phát triển sản xuất; ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân; chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm thực hiện bước phát triển mới cho những năm sau. Năm 1976, chú trọng khôi phục một số mặt, đẩy mạnh sản xuất lương thực, ưu tiên phát triển cây lương thực chính vụ ( lúa, bắp, đậu, mì, khoai lang …) , phát triển một mức nhất định một số cây công nghiệp theo hướng tập trung chuyên canh như cây thuốc lá (Vĩnh Hảo), cây bông vải (Lương Sơn, Sông Lũy), đậu phộng, mè, dưa lấy hạt (vùng đất cát khu Lê Hồng Phong). Khôi phục nghề đánh bắt cá biển, chế biến hải sản, nghề muối, phát triển chăn nuôi. Thực hiện một bước cải tạo quan hệ sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý lao động; xây dựng phát triển một vài cơ sở kinh tế quốc doanh, xây dựng cơ sở kinh tế tập thể nhỏ với các hình thức hợp tác để phát triển; khuyến khích mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân. Tập trung thực hiện chủ trương phân bố lại lao động xã hội, di dãn khoảng 6.000 người dân ở các vùng thị tứ, nông thôn đi mở một số vùng kinh tế mới. Phát triển giao thông, thực hiện tốt khâu lưu thông phân phối, đảm bảo đời sống nhân dân vùng thị tứ, vùng biển, vùng núi, vùng hải đảo.

Triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra, toàn Huyện đã phấn đấu đạt nhiều kết quả. Vụ sản xuất hè thu 1976, toàn Huyện gieo cấy 528 ha lúa Thần Nông, 120 ha thuốc lá, 6.061 ha màu các loại; huy động nhân dân tham gia 29.000 công làm thủy lợi, làm mới và tu bổ 19 đập lớn nhỏ, nạo vét kênh mương. Năng suất lúa thu hoạch trung bình 4 tấn/ha, góp phần trang trải kịp thời các vùng thiếu lương thực. Thực hiện chính sách ruộng đất, các xã đã cơ bản hoàn thành việc chia cấp ruộng đất cho nông dân thiếu hoặc không có ruộng đất, bình quân mỗi người được cấp 955 m2 , đã gây được không khí phấn khởi trong nhân dân tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, hăng hái tham gia các hoạt động xã hội và đoàn kết sản xuất. Đây là thành quả đầu tiên của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà người nông dân được hưởng, tạo cơ sở bước đầu cho phong trào làm ăn tập thể. Phong trào xây dựng và phát triển quan hệ sản xuất mới được phát động và tổ chức tạo khí thế bước đầu cho một xã hội mới. Toàn Huyện có 800 hộ và 4.000 khẩu tham gia vào 89 tổ vần đổi công thường xuyên, 5 tổ hợp tác từng vụ, từng việc. Ở vùng biển, tháng 4/1976, Huyện ủy tổ chức học tập, phát động quần chúng thực hiện chủ trương của Trung ương về cải tạo một bước quan hệ sản xuất, từng bước sắp xếp lại sản xuất đối với người lao động biển. Tuy nhiên, việc thực hiện cải tạo một bước quan hệ sản xuất nghề cá tại địa bàn trọng điểm Phan Rí Cửa gặp một số trở ngại phức tạp; các hộ đầu nậu, chủ vựa còn tiếp tục bóc lột lao động biển; các đoàn thể lao động biển mới được hình thành, hoạt động còn lúng túng, kém hiệu quả; ý thức làm chủ của người lao động trên các thuyền còn hạn chế.

Lĩnh vực văn hóa-xã hội được đẩy mạnh, hoạt động y tế đã chữa trị cho trên 14.000 người, tiêm phòng 56.000 người. Toàn huyện có 19 xã thành lập trạm y tế, các xã còn lại có cán bộ y tế phục vụ nhân dân. Ngành giáo dục tiếp tục tổ chức học tập chính trị và tập huấn phương pháp giảng dạy mới cho giáo viên; đồng thời đào tạo cấp tốc 143 giáo viên, nâng tổng số giáo viên toàn huyện là 660 người. Ngoài ra Huyện còn mở thêm ngành học mẫu giáo, thu hút cả ngàn cháu đến trường. Để giải quyết tình trạng mù chữ, thất học, Huyện tiếp tục chỉ đạo cho các xã mở các lớp xoá mù chữ, bình dân học vụ, bổ túc văn hóa với phương châm “nơi nào có dân là nơi đó có lớp học”. Đối với các xã vùng sâu, vùng cao, miền núi, Huyện cử cán bộ Phòng giáo dục cùng nhiều thầy cô đến, cùng với các thầy cô giáo tại địa phương tổ chức mở các lớp xóa mù chữ, bình dân học vụ tại các xã Phan Sơn, Phan Lâm, Hòa Thắng, … Hoạt động thông tin-văn hóa được đẩy mạnh, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Phong trào văn nghệ quần chúng dấy lên sôi động. Hầu như nơi nào cũng thành lập đội văn nghệ và tổ chức biểu diễn. Nhiều chương trình biểu diễn tự dàn dựng, nhiều tiết mục tự biên, tự diễn của quần chúng mang nội dung phong phú, phản ánh tinh thần lạc quan cuộc sống mới dưới chế độ mới xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào việc xây dựng đời sống mới, chế độ mới. Phong trào thể thao quần chúng được phát triển.

Việc thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ đã tham gia trong thời kỳ kháng chiến và chính sách thương binh liệt sĩ được Huyện quan tâm giải quyết. Đi đôi với thực hiện chính sách, chế độ, Huyện đã tổ chức quy tập mồ mả liệt sĩ về nghĩa trang Tỉnh để thân nhân và nhân dân đến thắp hương tưởng nhớ đến những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng quê hương. Xã Phan Rí Cửa thành lập Ban vận động xây dựng Đài liệt sĩ, khởi công vào cuối năm 1975 và tổ chức khánh thành vào đầu năm 1976. Đây là đơn vị khởi công xây dựng Đài liệt sĩ sớm nhất đầu tiên của Huyện.

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từng bước được ổn định; phát động quần chúng phối hợp với các lực lượng an ninh, quân sự liên tục tấn công, truy quét, trấn áp bọn lưu manh, côn đồ, bọn phản động âm mưu cướp vũ khí trốn ra rừng, bỏ chạy trốn ra nước ngoài. Bằng các biện pháp quân sự-chính trị-an ninh kết hợp với thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, Huyện đã tổ chức truy bắt hàng trăm tên trốn trình diện, cải tạo, bọn tàn quân lẫn trốn; buộc bọn Phun- rô (FULRO) ngoài rừng về đầu hàng, cùng với các cơ sở bí mật của chúng ở một số thôn xóm lần lượt ra đầu thú; chặn bắt các vụ vượt biển trốn đi nước ngoài; bảo đảm các ngày lễ, hội họp, bầu cử Quốc hội được an toàn.

Về xây dựng chính quyền, ngày 25/4/1976 huyện Bắc Bình đã có 97, 23% cử tri đi bỏ phiếu bầu cử Quốc Hội khoá VI. Sau bầu cử quốc hội, bộ máy chính quyền và các ban, ngành chuyên môn được củng cố thông qua Đại hội đại biểu nhân dân. Bộ máy của Huyện gồm khối Ủy ban và kinh tế có 101 người, khối Dân vận - Mặt trận 47 người và bộ máy các xã có 238 cán bộ. Hoạt động của chính quyền cơ sở từng bước đi vào nề nếp. Song song với sắp xếp tổ chức, Huyện cử 69 cán bộ đi học các trường chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý kinh tế, quản lý xã hội… từ 1 đến 3 năm. Ngoài ra, các ban ngành, đoàn thể mở lớp tập huấn, bồi dưỡng phương pháp và lề lối làm việc, nâng cao năng lực công tác cho cán bộ.

Về xây dựng Đảng, khi sáp nhập 4 huyện thành lập huyện Bắc Bình, toàn Huyện có 52 chi bộ, 499 đảng viên; trong đó có 8 Đảng ủy xã 8. Đến tháng 6/1976, toàn Huyện có 57 chi đảng bộ, 640 đảng viên; trong đó có 16 chi bộ xã, chi bộ nhỏ có ở 26 thôn, 3 chi bộ xã người Chăm, 3 chi bộ xã vùng cao-miền núi và một chi bộ xã người Hoa. Trong 6 tháng đầu năm 1976, kết nạp được 26 đảng viên mới và phục hồi đảng tịch cho 21 đảng viên bị bắt, bị tù trong kháng chiến.

Tuy đạt được một số kết quả theo Nghị quyết Huyện uỷ đề ra, nhưng tình hình trong Huyện còn nhiều khó khăn, thách thức, như đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thất nghiệp và các đối tượng làm ăn bất chính chưa được giải quyết căn bản. Thuốc men thiếu, dịch bệnh còn diễn ra ở một số nơi trong Huyện. Phát động quần chúng trong vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số chưa sâu sát. Chính quyền cơ sở được chú ý củng cố nhưng còn yếu. Vai trò lãnh đạo của một số chi, đảng bộ chưa toàn diện, còn yếu một số mặt.

Để khắc phục một số mặt yếu, tồn tại và lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ I, Huyện có chủ trương phát động phong trào thi đua yêu nước với khẩu hiệu “Thi đua lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm” được thể hiện bằng hành động tự giác tham gia lao động. Hưởng ứng chủ trương này, các ngành, các cấp trong Huyện đã sôi nổi tham gia phong trào thi đua lập thành tích đạt kết quả thiết thực, tạo động lực làm chuyển biến tích cực việc khôi phục ổn định dần xã hội sau chiến tranh. Trong đó đáng chú ý là tập trung đẩy mạnh 3 phong trào làm chủ tập thể của đoàn viên thanh niên như : phong trào lao động tình nguyện làm mũi nhọn xung kích trên mặt trận lao động sản xuất, làm phân xanh, phân chuồng bón ruộng; phong trào khai hoang và phong trào làm thủy lợi. Qua thực hiện đã có hơn 80 vạn ngày công của đoàn viên thanh niên tham gia trên các công trường trong Huyện như Bá Ra, Trạm bơm Xuân Quang, khai hoang các khu kinh tế mới Bá Ghe, La Bá; đồng thời hăng hái tham gia các công trình thủy lợi của Tỉnh như: Kênh thanh niên Sông Dinh, Lâm Cấm … Đặc biệt, gần 1.000 đoàn viên, thanh niên xung phong tình nguyện lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, với một thời gian ngắn từ những ngày đầu giải phóng đến cuối năm 1976, trong hoàn cảnh, tình hình còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ Bắc Bình đã lãnh đạo nhân dân bước đầu ổn định đời sống, phát triển sản xuất, tạo các tiền đề để bước vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa về kinh tế xã hội đầu năm 1977, kết thúc giai đoạn khắc phục hậu quả chiến tranh.



tải về 9.09 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương