Bộ y tế CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 82.26 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu06.12.2017
Kích82.26 Kb.
#4040

BỘ Y TẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



HƯỚNG DẪN

Chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thường gặp do sử dụng

ma túy tổng hợp dạng Amphetamine

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3556 /QĐ-BYT ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1. Nghiện học: bao gồm

a) Nghiện hành vi: nghiện cờ bạc, nghiện các trò chơi trên internet…

b) Nghiện chất (Substance dependence):

- Là một bệnh lý tâm thần. Bởi vì trong . Ccơ chế bệnh sinh của nghiện chất có cả các yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. TCác triệu chứng của nghiện bao gồm cả các triệu chứng về cơ thể và các triệu chứng tâm thần. Trong hiệu quả điều trị nghiện yếu tố tâm lý, tâm thần đóng vai trò quan trọng, cơ bản, nhất là trong điều trị chống tái nghiện. Nghiện chất được xếp ở mục F trong bảng phân loại bệnh quốc tế về các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD-10).

- Nghiện ma tuý (drug dependence) là một phần của nghiện chất và là một bộ phận của “nghiện” (addition).

2. Một số khái niệm về ma tuývề chất:

a) Các chất hướng thần: bao gồm các chất khi sử dụng vào cơ thể, sẽ tác động vào thần kinh trung ương. Ví dụ: seduxen, amitriptyline, các chất dẫn truyền thần kinh….

Các chất gây nghiện: là chất hướng thần, khi sử dụng dễ có nguy cơ lạm dụng, nghiện: ví dụ (seduxen), rượu, thuốc lá, các dung môi dễ bay hơi.

Chất ma túy là chất hướng thần và nhóm chất gây nghiện, bất hợp pháp theo quy định quốc tế và từng nước. Các chất ma túy bao gồm: Chất ma túy tự nhiên (thuốc phiện, cần sa dạng lá…) bán tổng hợp (heroin…) và tổng hợp.

b) Chất ma túy tổng hợp gồm:

+ Các chất dạng thuốc phiện: methadon, bupropion….

+ Các chất dạng amphetamine (ATS): methamphetamin, MDMA….

+ Và nhiều chất khác: cocain….



3. Trong Hướng dẫn chẩn đoán này, chúng tôi khu trú vào các chất dạng Amphetamine

Phân loại cChất dạng amphetamine

a) Amphetamin là chất tổng hợp, được coi là chất giống giao cảm, gây kích thích, gây hưng thần, có thể dùng để chữa bệnh….Các chế phẩm của amphetamine chính hiện có phổ biến là:

- Dextroamphetamine (Dextrine)

- Methamphetamin (tinh chất là Ice -, tên đường phố là “hàng đá”, “ma tuý đá”….)

- Methylphenidate (Ritalin)…

b) Chất dạng amphetamine (ATS): là những chất được tổng hợp có cấu trúc hóa học gần giống với amphetamine (ma túy thực sự)

- 4 - Methylen Dioxy Methamphetamin (MDMA): còn gọi là Adam, hay chất gây cảm giác say đắm, thuốc lắc (Estasy).

- N - ethyl - 3 - 4 methylen dioxy amphetamine (NDEA) còn gọi là Eva.

- 5 - Methoxy - 3 - 4 methylen dioxy amphetamine (MMDA).

- 5 - Dimethoxy - 4 methylamphetamine (DOM).



4. Các rối loạn tâm thần thường gặp liên quando sử dụng ATS (theo ICD-10)

a) Ngộ độc ATS cấp

b) Sử dụng gây hại

c) Hội chứng nghiện ATS…

d) Trạng thái cai ATS

đ) Rối loạn loạn thần do sử dụng ATS

e) Hội chứng quên

g) Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn (rối loạn nhân cách hoặc hành vi; mất trí; trạng thái loạn thần xuất hiện muộn).


II. Trong số các rối loạn tâm thần liên quan sử dụng ATS, rối loạn loạn thần (hoang tưởng, ảo giác) và ngộ độc cấp là các rối loạn sớm nhất, có thể xuất hiện ngay ở lần sử dụng đầu tiên. Đây là các rối loạn thường gặp nhất và cũng là lý do làm cho bệnh nhân có biểu hiện rối loạn hành vi, gây rối trật tự công cộng, thậm chí kích động, giết người.

Trong khi đó, hội chứng nghiện và hội chứng cai ATS cũng rất khác và khó nhận biết so với hội chứng nghiện và cai heroin. Hội chứng cai ATS rất khó nhận biết, hầu hết người bệnh không tự nguyện cai ATS, chủ yếu bệnh nhân có hội chứng cai là do sau khi vào điều trị nội trú vì loạn thần. Đặc biệt, hội chứng nghiện ATS cần phải có thời gian sử dụng rất dài và các triệu chứng đặc hiệu như hội chứng cai rất khó phát hiện.

Vì những lý do như trên, Hướng dẫn này sẽ tập trung chủ yếu vào nhận biết chẩn đoán và điều trị ngộ độc cấp và rối loạn loạn thần do sử dụng ATS. Còn việc chẩn đoán và điều trị nghiện và hội chứng cai ATS cần phải được khám và xác định tại các cơ sở điều trị chuyên khoa sâu về tâm thần học.

NHIỄM ĐỘC CẤP ATS

1. Biểu hiện lâm sàng

a) Triệu chứng tâm thần:

- Các triệu chứng thường gặp nhất là bệnh nhân có khoái cảm và cảm giác nhiều năng lượng, hưng phấn quá mức.

- Các triệu chứng khác thường gặp là lo âu, bồn chồn, ảo giác (ảo thị, ảo thanh...) kèm theo bệnh nhân có hành vi công kích, gây hấn, tấn công người khác, hành vi có tính định hình.

- Bệnh nhân có thể có biểu hiện ý tưởng bị theo dõi, bị truy hại

b) Biểu hiện cơ thể

- Biểu hiện cường giao cảm:

+ Tăng nhịp tim

+ Tăng huyết áp, đau ngực

+ Tăng thân nhiệt, vã mồ hôi, ớn lạnh

+ Giãn đồng tử

- Hội chứng serotonin:

+ Buồn nôn

+ Tăng trương lực cơ, tăng phản xạ gân xương

+ Giật cơ, co giật

+ Ảo giác

+ Rối loạn ý thức: sảng, hôn mê…

c) Các triệu chứng trên xuất hiện cấp diễn, có liên quan trực tiếp hoặc rất nhanh sau khi sử dụng ATS (vài phút đến 3 giờ). Do các triệu chứng tâm thần, bệnh nhân thường gây rối nơi công cộng, ở các câu lạc bộ hoặc trong gia đình. Đây chính là lý do quan trọng để bệnh nhân sử dụng, nghiện ATS được đưa đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị.



2. Điều trị

a) Nguyên tắc điều trị: Việc điều trị trạng thái nhiễm độc do ATS chưa có điều trị đặc hiệu nhưng cần tuân thủ nguyên tắc:

- Đảm bảo hô hấp, tuần hoàn.

- Tăng thải trừ bằng truyền các dung dịch glucose, bù nước điện giải, cân bằng kiềm toan, bù vitamin

- Điều trị triệu chứng

- Trường hợp nặng cần chuyển đến chuyên khoa chống độc, điều trị tích cực, cấp cứu…

- Tư vấn tâm lý.

b) Điều trị cụ thể:

- Kiểm soát thân nhiệt: rất quan trọng. Khi bệnh nhân có biểu hiện tăng thân nhiệt, tốt nhất hạ nhiệt bằng các biện pháp vật lý như chườm mát không nên sử dụng các thuốc hạ sốt trong trường hợp tăng thân nhiệt do ATS).

- Truyền Ringer lactat để tăng đào thải.

- Nếu bệnh nhân có biểu hiện lo âu: diazepam 5- 10mg/lần, uống hoặc tiêm bắp, có thể sử dụng 2 lần/ ngày.

- Bệnh nhân kích động, có hoang tưởng, ảo giác cấp diễn: tiêm bắp haloperidol 5- 10mg/lần, có thể sử dụng 2 lần/ ngày.

- Nếu bệnh nhân có nhiều biểu hiện cơ thể, đặc biệt là rối loạn về tim mạch, ...biểu hiện nhiễm độc nặng... cần chuyển đến chuyên khoa chống độc, điều trịhồi sức tích cực, cấp cứu.

.

III.



RỐI LOẠN LOẠN THẦN LIÊN QUANDO SỬ DỤNG ATS

  1. Đại cương:

  2. Thường gặp

- Tuổi trẻ, chủ yếu là nam

- Địa điểm: thường ở nhà nghỉ, vũ trường...

- Phương thức sử dụng dễ gây loạn thần: sử dụng liều cao hoặc liên tục trong thời gian dài.

- Loại chất thường gây loạn thần: thuốc lắc (MDMA…).



2. Biểu hiện lâm sàng:

a) Các triệu chứng thường gặp (khi BN đến bệnh viện) và tiến triển

Giai đoạn sớm (1 - 3 ngày đầu)

- Hoang tưởng:

+ Thường gặp nhất là hoang tưởng bị truy hại, hoang tưởng bị theo dõi. Có thể gặp: hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng bị chi phối. Ít gặp: hoang tưởng tự cao, hoang tưởng phát minh,…

+ Hoang tưởng thường xuất hiện bán cấp ở bệnh nhân sử dụng ATS lâu ngày hoặc nghiện ATS. Đôi khi hoang tưởng xuất hiện cấp diễn trong các trường hợp ngộ độc.

+ Ảo giác: thường gặp nhất là ảo thanh, ảo thị. Ít gặp hơn là ảo xúc, ảo khứu. Ảo giác liên quan sử dụng ATS cũng có nhiều điểm tương đồng với ảo giác trong bệnh tâm thần phân liệt và trong loạn thần nội sinh, loạn thần liên quan sử dụng rượu..

Cần chẩn đoán phân biệt hoang tưởng và ảo giác do ATS với bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần do r vì: Hoang tưởng bị chi phối, ảo thanh bình phẩm… là triệu chứng đặc trưng của tâm thần phân liệt, vì vậy ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần cần luôn lưu ý phát hiện tiền sử lạm dụng, nghiện chất (ATS, rượu, cần sa,…) để chẩn đoán phân biệt nghiện ATS với tâm thần phân liệt, đặc biệt ở thanh thiếu niên hoặc bệnh nhân đã có tiền sử nghiện các chất khác với các triệu chứng loạn thần lần đầu, cấp diễn khi vào viện... Việc phát hiện, chẩn đoán sớm các trạng thái này giúp việc điều trị hợp lý và có hiệu quả hơn.

+ Rối loạn cảm xúc, hành vi: thường do hoang tưởng, ảo giác chi phối

+ Các triệu chứng cơ thể: đau đầu, đau cơ, bồn chồn, bứt rứt…



b) Giai đoạn sau (từ ngày thứ tư trở đi):

- Thông thường các triệu chứng loạn thần sẽ giảm dần dưới tác dụng của điều trịsau khi ngừng sử dụng và dùng thuốc hướng thần.

Triệu chứng loạn thần: hoang tưởng, ảo giác..

Nếu hoang tưởng, ảo giác hết ngay sau 3 ngày điều trị thì đó là hoang tưởng cấp diễn trong ngộ độc ATS.

- Thông thường các triệu chứng loạn thần sẽ giảm dần dưới tác dụng của điều trị

Triệu chứng cai ATS (xin đề cập ở phầnxem hội chứng cai ATS)



3. Điều trị:

a) Nguyên tắc:

- Điều trị triệu chứng

- Điều trị các bệnh cơ thể Bệnh nhân cần được chẩn đoán và điều trị tại các bệnh viện, viện, khoa tâm thần.

Bệnh nhân phải được chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt, chẩn đoán bệnh cơ thể kèm theo (nhiễm virus viêm gan B, C, HIV,…)

- Điều trị triệu chứng kết hợp điều trị các bệnh cơ thể

Tư vấn tâm lý

b) Điều trị cụ thể:

- Thuốc chống loạn thần

+ Nếu bệnh nhân trong trạng thái kích động ,hoặc không hợp tác điều trị: tiêm bắp , sử dụng haloperidol 5mg/lần, – 15mg/ngày,1-3 lần/ngày, dùng trong tiêm bắp thường trong 2-3 ngày đầu.

Nếu bệnh nhân Khi bệnh nhân ổn định, chịuhợp tác điều trịuống thuốc: có thể sử dụnguống haloperidol 5mg/lần, 1-3 lần/ngày hoặc risperidone 2 – 6mg/mg/lần, 2-3 ngàylần/ngày , hoặc olanzapine 5mg/lần, 2-3 lần – 20mg/ngày., hoặc quetiapine 300 – 800mg/ngày…

+ Các triệu chứng loạn thần thường mất đi sau 1- 2 tuần. Cần giảm dần liều và dừng sử dụng thuốc chống loạn thầnkhi triệu chứng hết.

+ Trong quá trình điều trị trạng thái loạn thần ở người đang nghiện ATS có thể xuất hiện thêm trong bệnh cảnh các triệu chứng của hội chứng cai (ngày thứ 2-4) và cần lưu ý phối hợp thuốc.:

- Thuốc giải lo âu: có thể sử dụng Ddiazepam nếu bệnh nhân có biểu hiện lo âu kèm theo, liều lượng 5 mg/lần, 1-2 lần/- 10mg/ngày, không quá 07 ngày. không dùng liên tục kéo dài.

- Thuốc chống trầm cảm: uống Mmirtazapine 15-30mg/ngày hoặc sertraline 50mg/lần, 1-2 lần/ngày hoặc các thuốc chống trầm cảm khác thuộc nhóm SSRI.

-

Điều trị các bệnh cơ thể phối hợp



- Lưu ý phát hiện và xử trí kịp thời Ccác biến chứng, tác dụng không mong muốn khi sử dụng thuốcdo thuốc.: lưu ý các tác dụng phụ ngoại tháp do thuốc chống loạn thần (loạn trương lực cơ cấp, bồn chồn bất an, hội chứng giống parkinson…)
IV. Theo dõi, tái khám sau khi bệnh nhân đã ra viện

TRẦM CẢM LIÊN QUAN SỬ DỤNG ATS

1. Biểu hiện lâm sàng:

a) Các triệu chứng đặc trưng của trầm cảm thường gặp là: giảm năng lượng và dễ mệt mỏi, khí sắc trầm, giảm quan tâm thích thú.

b) Các triệu chứng thường gặpkhác của trầm cảm: rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung chú ý, giảm tự trọng, bi quan ảm đạm, ăn ít ngon miệng.

c) Hoàn cảnh xuất hiện trầm cảm do ATS :

Trầm cảm có thể xuất hiện ở người bệnh lạm dụng hoặc nghiện ATS

Trầm cảm có thể xuất hiện, trong hội chứng cai ATS.

d) Đặc biệt bệnh nhân có thể có ý tưởng và hành vi tự sát là triệu chứng cần lưu ý phát hiện sớm ở các bệnh nhân sử dụng ATS.

2. Điều trị trầm cảm liên quan sử dụng ATS

a) Sử dụng các thuốc chống trầm cảm:

uống mirtazapine 15-30mg/ngày hoặc sertraline 50mg/lần, 1-2 lần/ngày Mirtazapine 30- 60mg/ngày;

Sertraline 50- 100mg/ngày

hoặc các thuốc chống trầm cảm khác thuộc nhóm SSRI.

b) Thuốc giải lo âu: uống diazepam 5 mg/lần, 1-2 lần/ngày, không quá 07 ngày.

c) Tư vấn tâm lý.
V. Nếu bệnh nhân có biểu hiện lo âu kèm theo: Diazepam 5- 10mg/ngày, không dung liên tục kéo dài.
TRẠNG THÁI CAI ATS

1. Biểu hiện lâm sàng:

a) Thường xuất hiện sau 1- 3 ngày sau khi giảm hoặc ngừng sử dụng ATS ở người nghiện ATS.

b) Hội chứng cai có thể bị triệu chứng loạn thần che lấp hoặc mờ đi do điều trị thuốc chống loạn thần.

2. Biểu hiện (chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệ thống ở Việt Nam)

Chẩn đoán:

A - Các tiêu chuẩn chung đối với trạng thái cai (F1X.3) phải được đáp ứng

B - Có rối loạn khí sắc (ví dụ buồn hoặc mất khoái cảm)

C - Hai trong 6 dấu hiệu sau đây phải có mặt:

+ + Mất ngủ hoặc ngủ lịm và mệt mỏi

+ Chậm chạp hoặc kích động tâm thần vận động

+ Cảm giác thèm khát với một chất kích thích

+ Tăng khẩu vị

+ Có các giấc mơ khó chiu hoặc kỳ quặc

Từ ngày thứ 4 sau khi giảm hoặc ngừng ATS, bệnh nhân thường xuất hiện thêm hội chứng trầm cảm.



3. Điều trị

- Cách ly và/ giám sát bệnh nhân, không để bệnh nhân sử dụng lại chấtATS.

- Liệu pháp tâm lý đối với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân.

- Thuốc chống trầm cảm: uống mirtazapine 15-30mg/ngày hoặc sertraline 50mg/lần, 1-2 lần/ngày hoặc các thuốc chống trầm cảm khác thuộc nhóm SSRI.

- Thuốc yên dịu: thuốc giải lo âu: diazepam 5 mg/lần, 1-2 lần/ngày,diazepam 5- 10 mg/ ngày đường uống/ hoặc tiêm bắp.
VI. hoặc chống loạn thần thế hệ mới nếu cần thiết.

Thuốc chống trầm cảm: Mirtazapine 15- 30mg/ ngày
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN ATS

1. Thường gặp:

a) Người trẻ tuổi, có tiền sử bản thân và/hoặc gia đình nghiện chất (opiate, rượu…)

b) Cả nam và nữ

c) Thường tham gia các lễ hội, đi vũ trường, nhà nghỉ

d) Có thời gian sử dụng, lạm dụng ATS trước đó.

đ) Tiền sử có các đợt rối loạn tâm thần và hành vi ngắn, cấp diễn.

Cảm xúc không ổn định, dao động giữa hai thái cực: vui vẻ, nhanh nhẹn và buồn chán, chậm chạp.

2. Có biểu hiện hội chứng nghiện ATS: 6 triệu chứng của ICD- 10

a) Sự thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm giác bắt buộc phải sử dụng ATS;

b) Khó khăn trong việc kiếm soát các hành vi sử dụng ATS như khởi đầu, chấm dứt hoặc mức độ sử dụng;

c) Có Hhội chứng cai (đã mô tả ở trên) khi ngừng hoặc giảm sử dụng ATS;

d) Có hiện tượng tăng dung nạp với ATS

đ) NCàng ngày càng trở nên thờ ơ với các thú vui hoặc sở thích khác;

e) Tiếp tục sử dụng ATS ma túy mặc dù biết rõ về các hậu quả có hại.

Để chẩn đoán xác định cần có ≥ 3 triệu chứng trên trong 12 tháng vừa qua.



3. Các biểu hiện có thể có:

a) Trạng thái loạn thần;

b) Hội chứng trầm cảm;

c) Xét nghiệm nước tiểu (+)dương tính với ATS.



VII. HƯỚNG DẪN CÁC CƠ SỞ Y TẾ TIẾP NHẬN, QUẢN LÝ, ĐIỀU TRỊ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ DẤU HIỆU TÂM THẦN

DO SỬ DỤNG ATS

1. Tiếp nhận

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có bác sĩ đã được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tập huấn “hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thường gặp do sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamin” bao gồm:

- Trạm y tế xã, phường, thị trấn

- Bệnh viện đa khoa tuyến huyện

- Bệnh viện tâm thần tỉnh, trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh, bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có đơn vị (khoa hoặc đơn nguyên) điều trị người bệnh tâm thần

- Bệnh viện/viện tâm thần tuyến trung ương

- Cơ sở có chức năng điều trị, cai nghiện ma túy (nhà nước và tư nhân) được thành lập theo quy định của pháp luật.

2. Điều trị

- Trạm y tế xã, phường,thị trấn điều trị tâm lý và điều trị triệu chứng đối với các rối loạn tâm thần do ATS: Hội chứng cai, trầm cảm mức độ nhẹ, vừa.

- Bệnh viện tuyến huyện, cơ sở có chức năng điều trị, cai nghiện ma túy (nhà nước và tư nhân) được thành lập theo quy định của pháp luật: điều trị tâm lý và điều trị triệu chứng đối với các rối loạn tâm thần do ATS: Hội chứng cai, loạn thần, ngộ độc cấp, trầm cảm các mức độ.

- Bệnh viện/viện tâm thần tuyến trung ương, bệnh viện tâm thần tỉnh, trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh, bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có đơn vị (khoa hoặc đơn nguyên điều trị người bệnh tâm thần) điều trị tâm lý và điều trị triệu chứng đối với các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS: Hội chứng cai, loạn thần, ngộ độc cấp, trầm cảm các mức độ, nghiện.

- Trường hợp người bệnh nặng, điều trị kém hiệu quả cần hội chẩn với tuyến trên để chuyển tuyến.

3. Quản lý

- Cho người bệnh ra (ra viện) khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (chuyển về nơi gửi đến: gia đình hoặc cơ quan chức năng về phòng chống ma túy hoặc trạm y tế của xã, phường, thị trấn chủ quản theo dõi tiếp).

- Trong thời gian điều trị, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quản lý không để người bệnh sử dụng ATS./.
SA SÚT TRÍ TUỆ

(F00-F04)
PGS.TS. Nguyễn Kim Việt

Viện trưởng VSKTT

Chủ nhiệm bộ môn Tâm thần – Đại học Y Hà Nội

Sa sút trí tuệ (SSTT) là một hội chứng được đặc trưng bởi sự suy giảm nhiều chức năng cao cấp của vỏ não mà không có rối loạn ý thức. Các triệu chứng này gây suy giảm và trở ngại đáng kể cho các hoạt động nghề nghiệp, xã hội và cả các hoạt động sống hàng ngày của cá thể.

Nguyên nhân gây sa sút trí tuệ rất đa dạng và thường là phát hiện được. Khả năng hồi phục của sa sút trí tuệ phụ thuộc vào bệnh lý nằm bên dưới và việc áp dụng kịp thời các trị liệu có hiệu quả sẵn có. 15% các bệnh nhân bị sa sút trí tuệ là do các bệnh có thể điều trị được nếu được phát hiện kịp thời trước khi xuất hiện các tổn thương không hồi phục

I. DỊCH TỄ HỌC

Sa sút trí tuệ thực chất là một bệnh tuổi già. Ở Mỹ trong số những người trên 65 tuổi có khoảng 5% bị sa sút trí tuệ nặng. 15% bị sa sút trí tuệ ở mức độ nhẹ. Khoảng 20% số người trên 80 tuổi bị sa sút trí tuệ nặng. Tuổi thọ con người càng cao thì quẩn thể người già càng chiếm tỷ lệ cao trong dân số và số người bị sa sút trí tuệ sẽ càng tăng

Trong tâm thần học người già sa sút trí tuệ là bệnh phổ biến thứ 2 sau trầm cảm. Sa sút trí tuệ là gánh nặng trong CSSK cộng động ở mọi quốc gia. Sa sút trí tuệ đứng hàng thứ 4 trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ hiện nay.

II. BỆNH NGUYÊN

1 - Bệnh Alzheimer : ( 50-60%) các bệnh nhân sa sút trí tuệ

2 - Các bệnh thần kinh :

- Các bệnh mạch máu ( 10-20% các bệnh nhân) : Nhồi máu đa ổ ( multiple infarcts) , Ổ ổ khuyết ( lacunae) , Bệnh Bínwanger Bisnwanger , Nhồi máu vi thể ở vỏ não

- Các khối u nội sọ : U não, abces não ( 1-5% các bệnh nhân)

- Chấn thương sọ não ( 1-5% các bệnh nhân) , Sa sút trĩ tuệ ở những võ sĩ quyền anh

- Thủy thũng não áp lực bình thường ( 1-5% các bệnh nhân)

- Các bệnh thoái hóa thần kinh : Bệnh Parkinson ( 1%) , Huntington ( 1%),bệnh Pick ( 1%) , liệt trên nhân tiến triển ( 1%), bệnh Wilson , xơ hóa cột bên teo cơ ,bệnh thoái triển tủy sống tiểu não

- Các bệnh nhiễm trùng thần kinh : Bệnh Creutzfeldt – Jacob , AIDS ( 1% các bệnh nhân SSTT) ,viêm não vi rút, giang mai thần kinh, viêm màng não do vi khuẩn mãn tính , hội chứng behcet



3 - Các bệnh nội khoa :

- Nhiễm độc rượu, ma túy ( 1-5% )

- Các rối loạn dinh dưỡng : Hội chứng Wernicke - Korsakoff ( 1-5% ) , thiếu vitamin B12 ,thiếu acide folate , Pentagra , thiếu kẽm

- Các rối loạn chuyển hóa :Rối loạn chức năng tuyến giáp, suy thận ,suy gan ,bệnh tuyến giáp trạng , hội chứng Cushing

- Các bệnh viêm mãn tính : Xơ cứng rải rác ,bệnh Whipple , bệnh lupus và các rối loạn collagen có viêm mạch nội sọ….

4- Các nguyên nhân khác : Sa sút tâm thần còn có thể là giai đoạn cuối của một số bệnh lý tâm thần mãn tính (Tâm thần phân liệt, động kinh… )



III. PHÂN LOẠI SA SÚT TRÍ TUỆ.

Sa sút trí tuệ là một hội chứng lâm sàng chứ không phải là một bệnh.

Theo ICD.10 sa sút trí tuệ được xếp ở mục F.0. Bao gồm:

F.00 sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer

F.01 sa sút trí tuệ trong bệnh mạch máu

F.02 sa sút trí tuệ trong các bệnh lý được xếp loại ở chỗ khác

F.03 sa sút trí tuệ không biệt định

Tuy nhiên theo quan điểm truyền thống sa sút trí tuệ được phân thành hai loại

- Sa sút trí tuệ nguyên phát , : Sa sút trí tuệ trong các bệnh thoái triển ( Alzheimer, pick, creutzfeldt-jakob, levibody….), Sa sút trí tuệ trong các bệnh mạch máu ( tắc mạch, nhồi máu)

- Sa sút trí tuệ thứ phát ( sau nhiễm độc rượu, u não, nhiễm trùng, thiếu vitamin…)



IV. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG.

Các triệu chứng chính của sa sút trí tuệ gồm các lĩnh vực : định hướng, trí nhớ, tri giác, khả năng suy luận, quyết định…. Các chức năng này bị suy giảm ngày càng rõ rệt và trầm trọng theo tiến triển của bệnh. Các thay đổi về cảm xúc, hành vi thường gặp. Các biến đổi về nhân cách cũng rõ rệt ở các giai đoạn sau của bệnh.

A . CÁC BIỂU HIỆN SUY GIẢM NHẬN THỨC

1. Sự suy giảm trí nhớ.

Suy giảm trí nhớ là một triệu chứng đặc trưng, sớm, điển hình và nổi bật của sa sút trí tuệ. Trong các bệnh lý do chấn thương sọ não, tai biến mạch não… quên xuất hiện nhanh chóng, và trầm trọng sau một thời gian ngắn. Trong các bệnh bị thoái triển…. suy giảm trí nhớ xuất hiện từ từ, kín đáo, khó nhận biết được bởi người thân, đồng nghiệp. Đặc biệt là trong sa sút trí tuệ do bệnh Alzhieme : ở thời kỳ đầu suy giảm trí nhớ có thể còn nhẹ và thường rõ rệt nhất đối với các sự kiện mới xảy ra ( quên do ghi nhận) - bệnh nhân hay quên số điện thoại, không nhớ được các sự kiện xảy ra trong ngày, không nhớ được nội dung một bài báo vừa đọc, một bản tin vừa xem trên tivi….. Theo tiến trình của bệnh, suy giảm trí nhớ ngày càng nặng hơn và bệnh nhân quên cả các sự kiện xảy ra ngày hôm trước, tuần trước, tháng trước…. quên tên người quen cũ, đồng nghiệp, quên các kiến thức đã học… rồi quên cả các sự kiện quan trong liên quan đến cuộc sóng cá nhân ( nơi sinh, năm sinh, tên vợ , chồng…)



2. Rối loạn định hướng

Bởi vì trí nhớ là một nhân tố quan trọng cho việc định hướng, do vậy trong sa sút trí tuệ khả năng định hướng cũng từng bước bị ảnh hưởng. Trong một số bệnh rối loạn định hướng là những triệu chứng quan trọng trong bệnh cảnh lâm sàng ( Ví dụ: rối loạn định hướng về không gian, địa lý rất rõ rệt, và thường thấy ở bệnh nhân bị bệnh Alzhemer…)



3. Rối loạn ngôn ngữ

Là triệu chứng quan trọng trong chẩn đoán sa sút trí tuệ do tổn thương ở thùy đỉnh , vỏ não ( Alzhemer, mất trí trong bệnh mạch máu não….). Triệu chứng điển hình và được dùng làm tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ trong DSM – IV là Vong ngôn (aphasia) . Có thể là vong ngôn biểu hiện hoặc vong ngôn tiếp nhận. Các triệu chứng có thể bao gồm : lời nói mơ hồ, nói lặp từ, nói định hình, nói gián tiếp. Bệnh nhân có thể rất khó khăn trong việc tìm từ, gọi tên đồ vật……



4. Vong tri

Giảm hoặc mất khả năng nhận biết, gọi tên đồ vật, đối tượng…mặc dù các cơ quan cảm giác, giác quan không bị tổn thương.



5. Vong hành

Rối loạn khả năng hoạt động, làm một việc gì đó mặc dù các cơ quan chức năng vận động không bị tổn thương. Bệnh nhân không làm được các công việc thông thường như chải tóc, mặc quần áo… hoặc không xếp được, không vẽ được một hình theo yêu cầu của người khám….



6. Giảm khả năng tư duy trừu tượng

Bệnh nhân thấy khó khăn trong việc khái quát từ một ví dụ đơn giản thành một quan niệm và nắm được sự giống nhau, khác nhau trong các quan niệm….Khả năng suy luận, phán đoán và giải quyết vấn đề cũng bị suy giảm theo tiến triển của bệnh, ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động nghề nghiệp, các quan hệ xã hội và ngay cả trong cuộc sống gia đình, hoạt động sống hàng ngày của bệnh nhân.

B . CÁC TRIỆU CHỨNG KHÔNG THUỘC LĨNH VỰC NHẬN THứC

1 Các triệu chứng loạn thần

- 30-40% các bệnh nhân sa sút trí tuệ có hoang tưởng. Mọi hoang tưởng đều có thể gặp song tThường thấy nhất là hoang tưởng bị thiệt hại, bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuông. Các hoang tưởng thường không hệ thống mà là các hoang tưởng lẻ tẻ, nhất thời.

- Ảo giác có ở 20-30% bệnh nhân sa sút trí tuê. Các ảo giác được coi là biểu hiện của một giai đoạn bệnh lý nặng. Các ảo giác thị giác được lưu ý là hay gặp trong các bệnh lý thực tổn.

- Hội chứng Capgras : hay gặp nhất là trong bệnh Alzhemer. Bệnh nhân cho rằng có người nào đó đã giả dạng, thay thế cho người thân của mình. Bệnh nhân thấy như có người lạ đang ở trong nhà mình ,không nhận ra mình trong gương, đối xử với các nhân vật trong TV như những người trong cuộc sống thực tại…



2. Các rối loạn cảm xúc: Trầm cảm và lo âu được gặp ở 40-50% các bệnh nhân sa sút trí tuệ. Trầm cảm xuất hiện từ giai đoạn sớm và chủ yếu biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể. Có thể có các biểu hiện kích động cảm xúc (cơn kêu khóc ban đêm …).

3. Các thay đổi về nhân cách

Các thay đổi về nhân cách ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ là những triệu chứng gây khó khăn cho gia đình trong việc chăm sóc và chịu đựng đối với người bệnh , trong đó gồm cả các nét nhân cách tiền bệnh lý được nhấn mạnh. Bệnh nhân trở nên thu mình lại, ít hoặc không quan tâm đến hậu quả của các hành vi mà họ gây ra, mất dần các ham thích hứng thú cũ, trở lên cáu kỉnh độc đoán… Có bệnh nhân trở nên bủn xỉn, hoài nghi, ghen tuông vô lý, trẻ con hóa… Tác phong ăn mặc cẩu thả, có khuynh hướng cóp nhặt bẩn thỉu. Có bệnh nhân có hành vi thù địch với người thân và người chăm sóc cho họ. Bệnh nhân có tổn thương thùy trán và thái dương có thể có biến đổi nhân cách rõ rệt dưới dạng bùng nổ, kích động, đi lang thang…



4. Các triệu chứng khác

Các dấu hiệu thần kinh có thể thấy trong sa sút trí tuệ như: Co giật ở 10% bệnh nhân Alzhemer và 20% bệnh nhân sa sút trí tuệ do bệnh lý mạch máu não. Các phản xạ nắm, mút, bú, phản xạ gan tay cằm… có thể thấy ở những giai đoạn nặng . Các dấu hiệu thần kinh tùy thuộc bệnh lý gây sa sút trí tuệ.

Hội chứng hoàng hôn ( Sundown) được đặc trưng bởi các biểu hiện rối loạn chu kỳ thức ngủ: ngủ gà ngủ gật ban ngày, thức tỉnh kích động ban đêm.

Lú lẫn, kích động, ngã… Các biểu hiện này thường xuất hiện ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ khi điều kiện tri giác các kích thích bên ngoài như ánh sáng, giọng nói quen thuộc… bị cản trở và suy giảm.



V. CHẨN ĐOÁN

1.Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ

Để chẩn đoán sa sút trí tuệ cần căn cứ vào các tiêu chuẩn sau (ICD 10 và DSM-IV):



  1. SUY GIẢM TRÍ NHỚ

Tùy nguyên nhân nằm bên dưới, đặc biệt là giảm khả năng ghi nhận các thông tin mới và khả năng nhớ lại các kiến thức đã học được trước kia. Có thể do quên và ở giai đoạn đầu bệnh nhân còn ý thức được về bệnh của mình , một số bệnh nhân có hiện tượng bịa chuyện….

B. SUY GIẢM CÁC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC KHÁC:

Để chẩn đoán cần có ít nhất một trong các biểu hiện sau:

Vong ngôn

Vong tri


Vong hành

Năng lực hoạt động trí tuệ bị suy giảm: Giảm khả năng tư duy trừu tượng, khả năng tính toán, lập kế hoạch, sáng tạo, quyết định, khả năng phối hợp, theo dõi và thực hiện các hoạt động phức tạp.



C. SUY GIẢM TRÍ NHỚ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC đã làm giảm đáng kế hoặc mất khả năng hoạt động nghệ nghiệp, xã hội và cả trong cuộc sống hàng ngày của người bệnh.

D. CÁC TRIỆU CHỨNG KHÁC CÓ THỂ CÓ :

Cảm xúc giao động, bàng quan, dễ bị kích thich, trầm cảm

Các triệu chứng loạn thần: hoang tưởng, ảo giác, tri giác sai thực tại..

Các rối loạn hành vi: các hành vi cứng nhắc, thô bạo trong công tác…., các hành vi kích động, kêu khóc, đi lang thang….

Các biến đổi về nhân cách, tư thế dáng điệu, các cơn động kinh, các rối loạn định hướng về thời gian, địa lý….

E. CÁC TRIỆU CHỨNG TRÊN XẢY RA MÀ KHÔNG CÓ RỐI LOẠN Ý THỨC KÈM THEO

F. CÁC TRIỆU CHỨNG ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC BỆNH LÝ GÂY RA SA SÚT TRÍ TUỆ

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ do các căn nguyên cụ thể ( Alzheimer, sa sút trí tuệ do bệnh lý mạch máu, bệnh nội khoa khác (tham khảo ICD-10 và DSM-IV )

Việc nghiên cứu cận lâm sàng một cách toàn diện cần được thực hiện nhằm chẩn đoán xác định và khám phá ra các nguyên nhân sa sút trí tuệ có thể điều trị được . Các tiến bộ của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh não hiện nay (như chụp C.T, sọ não, MRT, SPECT) đã giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán nguyên nhân sa sút trí tuệ.



VI. TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG.

Tiến triển cổ điển của sa sút trí tuệ là : khởi phát ở bệnh nhân từ 50- 60 tuổi với sự tiến triển dần dần đến kết cục cuối cùng là chết . Khởi phát từ từ của các triệu chứng thường là thấy trong bệnh Alzheimer , các bệnh nội tiết, các rối loạn chuyển hóa… Trái lại khởi phát của sa sút trí tuệ do chấn thương sọ não, viêm não, thiếu oxy não.. lại thường là đột ngột. Bằng các điều trị dược lý, tâm lý xã hội và có thể một phần là do khả năng tự điều chỉnh của não, các triệu chứng sa sút trí tuệ có tiến triển chậm lại hoặc thuyên giảm đôi chút. Ở những trường hợp căn nguyên có thể điều trị và được điều trị kịp thời sa sút trí tuệ có thể hồi phục gần như hoàn toàn.



VII. ĐIỀU TRỊ

- Nguyên tắc chung để điều trị là tổ chức não bị các rối loạn chức năng vẫn duy trì được một khả năng hồi phục nếu được điều trị kịp thời. Do vậy việc khám toàn diện cả lâm sàng và cận lâm sàng…. để tìm các nguyên nhân gây ra sa sút trí tuệ nằm bên dưới nhằm có được một trị liệu đặc hiệu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

- Cần đánh giá mức độ sa sút trí tuệ , nhất là khả năng sống độc lập của người bệnh, từ đó đưa ra một kế hoạch điều trị hợp lý . Đặc biệt chế độ chăm sóc, quản lý người bệnh tại bệnh viện, tại các nhà an dưỡng, tại cộng đồng…. Đồng thời có kế hoạch giúp cho gia đình bệnh nhân trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

- Với các triệu chứng về nhận thức, nhất là với bệnh Alzheimer (50-60% các bệnh nhân sa sút trí tuệ ) , sự suy giảm lượng acetylcholin trong não được xem là một cơ chế chủ yếu của bệnh. Các thuốc tác động theo cơ chế này đang được sử dụng phổ biến và có thể chọn lựa là: Donepezil 5– 10 mg / ngày, hoặc Rivastigmin 1,5– 3 mg /ngày hoặc Galantamine 4- 12 mg / ngày ...

- Một số thuốc đã được nghiên cứu điều trị suy giảm nhận thức trong sa sút trí tuệ là : các thuốc dinh dưỡng thần kinh, các thuốc tăng cường chuyển hóa, tuần hoàn não: Cerebrolysine 20 ml /ngày hoặc tanakan 400 – 800 mg / ngày hoặc Piracetam 800– 1600mg / ngày ...
- Đối với các rối loạn như hoang tưởng, ảo giác, trầm cảm, kích động …. có thể sử dụng các thuốc an thần kinh, chống trầm cảm, giải lo âu… song cần lưu ý những hiệu quả đặc ứng do thuốc có thể xảy ra ở người già. Nhìn chung các thuốc có hoạt tính kháng cholinergic có thể gây lú lẫn, yên dịu quá mức .. ở người già. Người già thường được sử dụng nhiều loại thuốc cho cả bệnh lý cơ thể kèm theo sa sút trí tuệ.... và thường có nhiều tác dụng không mong muốn do phản ứng chéo giữa các thuốc. Liều lượng thuốc ở người già thường rất thấp so với người trẻ tuổi. Các thuốc có thể chọn lựa:

+ Với các triệu chứng loạn thần : Risperidone 2mg / ngày hoặc Quetiapine 50-100mg / ngày, hoặc Depakine 200 400 mg / ngày

+ Với các triệu chứng trầm cảm: Sertraline 50–100mg/ngày, hoặc mirtazapine 30 mg / ngày

- Một số thuốc đã được nghiên cứu điều trị suy giảm nhận thức trong sa sút trí tuệ là : các thuốc dinh dưỡng thần kinh, các thuốc tăng cường chuyển hóa, tuần hoàn não: Cerebrolysine 20 ml /ngày hoặc tanakan 400 – 800 mg / ngày hoặc Piracetam 800– 1600mg / ngày ...

- Điều trị các bệnh lý cơ thể kèm theo, vấn đề dinh dưỡng, trợ giúp các hoạt đống sống hàng ngày kể cả tắm rửa, vệ sinh cá nhân đối với các bệnh nhân nặng…. có ý nghĩa quan trọng, tránh các tai biến và nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh

MÊ SẢNG

(F.05)

1. ĐẠI CƯƠNG (viết lại)

Mê sảng là rối loạn ý thức và thường có sự suy giảm tổng thể các chức năng nhận thức. Mê sảng là một hội chứng có nhiều nguyên nhân. Mê sảng khởi phát cấp diễn (từ vài giờ đến vài ngày), diễn biến ngắn, dao động, và cải thiện nhanh chóng khi các yếu tố nguyên nhân được nhận diện và loại trừ. Các đặc điểm đặc trưng này có thể khác nhau tùy theo từng bệnh nhân.


Mê sảng là một rối loạn phổ biến. Theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Mỹ (DSM-IV-TR) thì tỉ lệ của mê sảng ở dân số chung là 0,4% ở những người ≥ 18 tuổi, 1,1% ở những người ≥ 55 tuổi. Tỉ lệ này cao hơn ở các bệnh nhân nội trú và thay đổi tùy theo chuyên khoa .
2. NGUYÊN NHÂN

2.1. Các nguyên nhân do tổn thương, bệnh lý tại não

Động kinh

Chấn thương sọ não (đặc biệt là chấn động não)

Các nhiễm trùng: viêm màng não, viêm não

Các khối u

Các rối loạn mạch máu

2.2. Các nguyên nhân ngoài não, ảnh hưởng tới hoạt động chức năng não

- Do nhiễm độc

+ Các thuốc kháng cholinergic, các thuốc chống co giật, các thuốc chống tăng huyết áp, các thuốc chữa parkinson, các thuốc chống loạn thần, các chất yên dịu (bao gồm rượu thuốc ngủ),

+ Cimetidine, clonidine, disulfiram, insulin, các chất dạng thuốc phiện, phencyclidine, salicylates, steroids

+ Các chất gây độc: CO, các kim loại nặng và các chất độc công nghiệp khác.

- Các bệnh nội khoa

+ Nội tiết: rối loạn (giảm hoặc tăng chức năng): tuyến yên, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến cận giáp

+ Bệnh lý các cơ quan khác: bệnh suy chức năng gan - thận, suy tim, loạn nhịp tim, hạ huyết áp

+ Các bệnh lý do thiếu chất: vitamin B1, B12, và thiếu acid folic, sắt

+ Các nhiễm trùng hệ thống với sốt và nhiễm trùng huyết

+ Mất thăng bằng điện giải vì bất cứ lý do gì

+ Các trạng thái hậu phẫu

Các chất dẫn truyền thần kinh chính được giả thiết có liên quan đến me sảng là acetylcholine, và vùng giải phẫu học thần kinh chính là cấu tạo lưới. Các nhà nghiên cứu đã gợi ý các cơ chế sinh bệnh học khác đối với mê sảng. Đặc biệt là mê sảng do cai rượu là đi kèm với sự tăng hoạt động của hệ dẫn truyền thần kinh noradrenergic. Các chất dẫn truyền thần kinh khác có liên quan là serotonin và glutamate.



3. CHẨN ĐOÁN

3.1. Chẩn đoán xác định:

3.1.1. Lâm sàng và tiêu chuẩn chẩn đoán

Sảng thường bị gây ra bởi một hay nhiều rối loạn hệ thống tại não hay hệ thống làm ảnh hưởng chức năng não . Để chẩn đoán sảng theo ICD 10 cần có các triệu chứng và tiêu chuẩn sau :






  • Có tật chứng về sự u ám ý thức và sự chú ý : giảm sự sáng sủa của sựtrong nhận biết về môi trường, giảm khả năng tập trung, duy trì, hay chuyển đổi sự chú ý. giảm khả năng định hướng, giảm khả năng tập trung, duy trì, hay chuyển đổi sự chú ý. Đi từ mù mờ đến hôn mê, giảm khả năng định hướng

  • Sự rối loạn nhận thức được thể hiện bởi cả:

    • Sự suy giảm trí nhớ ngay lập tức và thì và trí nhớ gần, với t Trí nhớ xa còn tương đối nguyên vẹn;

2. Rối loạn định hướng lực về thời gian, không gian, và con người. và xung quanh

3. giảm khả năng tập trung, duy trì, hay chuyển đổi sự chú ý.



  • Hiện diện tối thiểu một trong các rối loạn tâm thần vận động sau đây:

    • Chuyển đổi nhanh, không lường trước được từ giảm vận động sang tăng vận động;

    • Thời gian phản ứng tăng;

    • Dòng tư duy ngôn ngữ tăng hoặc giảm;

    • Phản ứng giật mình tăng.

  • Có sự rối loạn giấc ngủ hay chu kỳ thức-ngủ, biểu hiện bởi tối thiểu một trong các biểu hiện sau:

    • Mất ngủ, trong trường hợp nặng có thể là mất ngủ hoàn toàn, hay đảo ngược chu kỳ thức-ngủ;

    • Các triệu chứng nặng hơn vào ban đêm;

    • Các giấc mơ khó chịu hay các ác mộng, mà có thể tiếp tục như là các ảo giác hay ảo tưởng sau khi thức dậy.

  • Rối loạn cảm xúc như trầm cảm, lo âu, cáu kỉnh, khoái cảm, vô cảm hoặc bàng hoàng ngơ ngác

  • Các triệu chứng có khởi phát nhanh, và thay đổi trong ngày và toàm bộ thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng.

  • Có bằng chứng khách quan từ bệnh sử, thăm khám cơ thể và thần kinh, hay các xét nghiệm về một bệnh lý não hay hệ thống nằm dưới mà được cho là nguyên nhân cho các biểu hiện lâm sàng ở tiêu chuẩn A đến D.








Mê sảng là một hội chứng được gây ra do một hay nhiều nguyên nhân. DSM-IV-TR đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán cho từng loại sảng: (1) sảng do một bệnh nội khoa , (2) mê sảng do cai hoặc nhiễm độc chất, (3) mê sảng do nhiều bệnh nguyên, và (4) mê sảng không biệt định khác đối với sảng mà không biết nguyên nhân hay do những nguyên nhân chưa được liệt kê, như sự mất giác quan. Tuy nhiên, hội chứng là giống nhau bất kể nguyên nhân, Tùy theo loại nguyên nhân mà tiêu chuẩn cuối cùng tương ứng sẽ khác nhau.


a/ Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV-TR cho mê sảng do một bệnh lý nội khoa.

  1. Có bằng chứng từ bệnh sử, thăm khám cơ thể, hay các kết quả xét nghiệm cho thấy rằng sự rối loạn được gây ra do hậu quả sinh lý trực tiếp của một bệnh lý nội khoa tổng quát.

Ghi chú: Cần ghi rõ tên của bệnh lý nội khoa tổng quát ở trục I, ví dụ Mê sảng do bệnh lý não gan, đồng thời cũng ghi bệnh lý não gan ở trục III.
b/ Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV-TR cho mê sảng do cai hoặc nhiễm độc chất.
D. Có bằng chứng từ bệnh sử, thăm khám cơ thể, hay các kết quả xét nghiệm cho thấy hoặc là (a) hoặc là (b):

    1. Triệu chứng ở tiêu chuẩn A và B xuất hiện trong khi cai hoặc nhiễm độc chất

    2. Việc sử dụng chất có liên quan về mặt bệnh nguyên với rối loạn

Các chất hay gây ra mê sảng: rượu, amphetamine, các chất giống amphetamine, cần sa, cocaine, chất gây ảo giác, chất hít, thuốc phiện, phencyclidine, chất giống phencyclidine, chất yên dịu, thuốc ngủ, thuốc giải lo âu, các chất khác (cimetidine, digitalis, benztropine)
d/ Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV-TR đối với mê sảng do nhiều bệnh nguyên

D. Có bằng chứng từ bệnh sử, thăm khám cơ thể, hay các kết quả xét nghiệm cho thấy rằng mê sảng có nhiều bệnh nguyên (chẳng hạn như có nhiều bệnh lý nội khoa, hoặc một bệnh lý nội khoa cộng với nhiễm độc chất hay tác dụng phụ của thuốc).

Ghi chú: sử dụng nhiều mã phản ánh sảng và bệnh nguyên cụ thể, chẳng hạn như Sảng do viêm não virus; Sảng do cai rượu.
e/ Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV-TR đối với mê sảng không biệt định khác

Phân loại này nên được sử dụng để chẩn đoán một sảng không thỏa mãn cho bất cứ loại sảng cụ thể nào ở trên.



Ví dụ bao gồm:

  • Một biểu hiện lâm sàng của sảng mà nghi ngờ là do một bệnh lý nội khoa tổng quát hay do sử dụng chất nhưng không có đủ bằng chứng để thiết lập một bệnh nguyên cụ thể.

Mê sảng do những nguyên nhân không được liệt kê trong bài này (chẳng hạn như do mất giác quan (sensory deprivation)).










KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(đã ký)

Nguyễn Thị Xuyên

Каталог: LegalDoc -> Lists -> OperatingDocument -> Attachments -> 246
Attachments -> A giao colla Corii Asini
Attachments -> Bộ y tế Số: 1018/byt-tt-kt v/v hướng dẫn hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ năm 2014 CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> Bộ y tế DỰ Án hỗ trợ y tế CÁc tỉnh vùng đÔng bắc bộ VÀ ĐỒng bằng sông hồng phụ lục 1 khung quản lý MÔi trưỜng-xã HỘI
Attachments -> Cục y tế DỰ phòng và MÔi trưỜng số: 1385
246 -> Là một bệnh lý tâm thần. Bởi vì trong. Ccơ chế bệnh sinh của nghiện chất có cả các yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Tcác triệu chứng của nghiện bao gồm cả các triệu chứng về cơ thể và các triệu chứng tâm thần

tải về 82.26 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương