Bộ NÔng nghiệp và phát triển nông thôN



tải về 181 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích181 Kb.
#4391

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỊT LỢN AN TOÀN CHẤT LƯỢNG CAO

Lã Văn Kính1, Trần Thị Hạnh2, Lê Văn Lăng3, Bùi Văn Miên4, Phạm Tất Thắng1
TÓM TẮT

Xây dựng hệ thống sản xuất thịt lợn an toàn, chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay là vấn đề thiết yếu, đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ từ khâu chăn nuôi đến chế biến và phân phối sản phẩm. Những kết quả khả quan từ việc thay thế sử dụng kháng sinh trong khẩu phần bằng cách các chất hỗ trợ khác như probiotic, axit hữu cơ để hạn chế tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thịt mà không ảnh hưởng đến năng xuất sản xuất và tiêu tốn thức ăn. Trong công tác phòng trị bệnh, các chế phẩm thảo dược FR và FH cũng có thể đảm đương vai trò phòng bệnh tiêu chảy và đường hô hấp. Kết quả cho thấy tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn khi sử dụng thảo dược thấp tương đương với thuốc kháng sinh. Ngoài ra, xây dựng được chuỗi sản suất hợp lí từ chăm sóc nuôi dưỡng cũng góp phần không nhỏ đến hiệu quả sản suất. Và khâu giết mổ và phân phối thịt đến thị trường được thực hiện nghiêm ngặc đã cho kết quả tốt trong phòng ngừa nhiễm vi sinh. Một hệ thống chăn nuôi an toàn sinh học và phân phối sản phẩm sạch, chất lượng đã được xây dựng khi kết hợp các yếu tố trên.


Từ khóa: an toàn sinh học, chất kháng sinh, chế phẩm thảo dược, thịt lợn an toàn, tồn dư kháng sinh
1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong ngành chăn nuôi, kháng sinh không những được sử dụng để điều trị bệnh mà còn được sử dụng để phòng bệnh và kích thích sinh trưởng. Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh bừa bãi trong chăn nuôi gây ra tác hại rất lớn cho sức khỏe cộng đồng. Kết quả điều tra của Lã Văn Kính và ctv (2001) ở các mẫu thức ăn hỗn hợp cho lợn, gà cho thấy có 100 % số mẫu có sử dụng Oxytetracyclin, 67% có Chloramphenicol, 37% có Olaquindox, 77% có Dexamethasol. Có 52,17% số mẫu thịt lợn, gà có tồn dư kháng sinh cao gấp hàng chục tới hàng ngàn lần so với tiêu chuẩn quốc tế (CODEX). Nguyễn Như Pho và Võ Thị Trà An (2003) ghi nhận ở khu vực TP. Hồ Chí Minh chỉ có 20 % số trại sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn của cán bộ thú y; 39,05 % sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất và không có trại nào sử dụng kháng sinh theo kết quả xét nghiệm và thử kháng sinh đồ; 28,6 % số mẫu thận lợn và 13,2 % số mẫu thịt lợn có tồn dư kháng sinh. Bên cạnh vấn đề kháng sinh và hóc môn tồn dư trong thịt, vấy nhiễm vi sinh trên quầy thịt ở các cơ sở giết mổ, chợ cũng khá phổ biến. Theo kết quả kiểm tra của Chi cục Thú y TP. HCM năm 1997 có 84,56 % mẫu thịt xét nghiệm không đạt yêu cầu về vệ sinh thực phẩm. Đặng Thị Hạnh và ctv (1999) báo cáo rằng 100 % mẫu thịt phân tích đều không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn vi sinh đối với các chỉ tiêu: TVKHK, E.coli, Staphylococcus aureus, Clostridium sinh H2S, Salmonella, Shigella và Vibrio. Trước tình hình thực tế đó cần thiết phải nghiên cứu các giải pháp khoa học để kiểm soát tận gốc các nguyên nhân làm mất vệ sinh thực phẩm cũng như xây dựng các mô hình an toàn từ chăn nuôi, giết mổ, chế biến, phân phối; xây dựng được quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất và quản lý trong sản xuất thịt lợn an toàn và chất lượng cao theo tiêu chuẩn sản xuất thịt lợn an toàn.



2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dự án nghiên cứu sản xuất thịt lợn an toàn chất lượng cao được tiến hành tại các doanh nghiệp sản xuất thức ăn và các trại chăn nuôi lợn thịt; các cơ sở giết mổ thủ công, bán công nghiệp và các điểm bán buôn, bán lẻ thịt lợn ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận như Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh và Tiền Giang từ tháng 01/2004 đến tháng 02/2007.



2.1. Điều tra khảo sát

Điều tra thực trạng tình hình sử dụng thuốc kháng sinh làm chất kích thích sinh trưởng trong thức ăn cho lợn, ở các trại chăn nuôi lợn thịt. Tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở giết mổ, chế biến, vận chuyển thịt lợn. Các cơ sở tiến hành điều tra bao gồm: Nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, Trại chăn nuôi lợn ,Cơ sở giết mổ và cách thức vận chuyển, Các cơ sở bán buôn, bán lẻ



2.2 Nghiên cứu các giải pháp khoa học để sản xuất thịt lợn an toàn và chất lượng cao

2.2.1 Các giải pháp KHCN sản xuất thịt an toàn và chất lượng cao ở khâu chăn nuôi trước khi giết mổ.

Nghiên cứu tập trung vào các giải pháp về con giống và giải pháp về dinh dưỡng thức ăn để tăng cường sức khoẻ, hạn chế bệnh tật nên hạn chế sử dụng kháng sinh. Đồng thời còn nghiên cứu các biện pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi. Lợn được sử dụng trong thí nghiệm là lợn lai Duroc x (Yorshire x Landrace), lúc 60 ngày tuổi có trọng lượng trung bình 20kg.

- Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của việc sử dụng một số loại kháng sinh phổ biến nhất trong thức ăn chăn nuôi đến lượng tồn dư trong thịt lợn: 480 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 10 nghiệm thức với 4 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần thêm Chlotetracyclin (với tỷ lệ 150, 180 và 225 ppm); khẩu phần bổ sung Tiamulin (với tỷ lệ 10, 30, và 50 ppm); khẩu phần bổ sung Avilamycin (với tỷ lệ 10, 25 và 40 ppm). Kết thúc thí nghiệm khi lợn đạt 100kg, mỗi lô chọn 4 con (2 đực, 2 cái) ở 4 thời điểm ngưng thuốc khác nhau (0 ngày, 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày) để mổ lấy mẫu thịt, gan và thận để phân tích tồn dư kháng sinh.

- Thí nghiệm ảnh hưởng bổ sung axit hữu cơ thay thế chất kháng sinh trong thức ăn cho lợn thịt: 400 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung 180 ppm chlotetracycline, khẩu phần bổ sung axít formic với tỷ lệ 0,14; 0,21 và 0,28%

- Thí nghiệm nghiên cứu tác dụng và hiệu quả của việc bổ sung probiotic trong thức ăn cho lợn thịt. Chế phẩm probiotic dùng trong thí nghiệm với thành phần gồm: Lactobacillus acidophilus (167x106 KL/gam); Streptococcus faecium (167x106 KL/gam). 750 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 5 nghiệm thức với 6 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung probiotic (với tỉ lệ 0,02; 0,03 và 0,04% tương đương với các mức vi khuẩn là (33,4x106; 50,1x106 và 66,8x106 vi khuẩn mỗi loại/kg thức ăn), khẩu phần bổ sung 180 ppm chlotetracyclin. Lấy mẫu phân lợn ở các thời điểm trước khi ăn thức ăn thí nghiệm 1 ngày và sau khi ăn thức ăn thí nghiệm 1, 7 và 21 ngày để nuôi cấy và phân tích sự biến động của các vi khuẩn có hại trong đường ruột của lợn.

- Thí nghiệm sử dụng các chất hấp phụ độc tố nấm (Aflatoxin) trong thức ăn gia súc. Tổng số 500 con lợn được bố trí thành 5 nghiệm thức, 5 lần lặp lại. Các nghiệm thức lần lượt là: khẩu phần chứa độc tố thấp < 70 ppb; khẩu phần chứa độc tố cao > 150 ppb, khẩu phần chứa độc tố cao bổ sung 0,1 % Mycosorb (nấm men Saccharomyces cerevisiae), khẩu phần chứa độc tố cao bổ sung 0,1 % Mycofix plus (aluminosilicat + enzyme), khẩu phần chứa độc tố cao bổ sung 0,1 % Daimentine (một loại bentonite)

- Thí nghiệm sử dụng thảo dược có nguồn gốc tự nhiên, bao gồm các nội dung sau:

Bào chế các chế phẩm thảo dược phòng bệnh tiêu chảy (chế phẩm R (berberin) và FR (palmatin)) và hô hấp (chế phẩm FH (hoạt chất chính alkaloid)) cho lợn.

Thí nghiệm nghiên cứu tác dụng của chế phẩm thảo dược ở lợn thịt, bao gồm: nghiên cứu tác dụng của chế phẩm FR, FH và thí nghiệm kết hợp 2 loại chế phẩm

a) Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm thảo dược FR bổ sung vào thức ăn để phòng bệnh tiêu chảy ở lợn thịt: 400 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung 180 ppm chlotetracyclin, khẩu phần bổ sung chế phẩm FR (với tỷ lệ 0,2; 0,3 và 0,4%)

b) Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm thảo dược FH bổ sung vào thức ăn để phòng bệnh hô hấp ở lợn thịt: 400 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 5 nghiệm thức với 4 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung 0,2% tiamulin, khẩu phần bổ sung chế phẩm FH (với tỷ lệ 0,4; 0,5 và 0,6%)

c) Nghiên cứu tác dụng của việc bổ sung đồng thời các chế phẩm thảo dược FR và FH vào thức ăn để phòng bệnh và kích thích tăng trưởng lợn thịt: 320 lợn được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 4 nghiệm thức với 4 lần lặp lại lần lượt là: khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung 180 ppm chlotetracyclin, khẩu phần bổ sung 0,2% tiamulin, khẩu phần bổ sung 0,3%FR + 0,5% FH (với tỷ lệ 0,4; 0,5 và 0,6%)

Nghiên cứu tồn dư kháng sinh thảo dược trong thịt lợn: Tổng số 400 con lợn được bố trí thành 4 nghiệm thức, 5 lần lặp lại lần lượt là khẩu phần đối chứng, khẩu phần bổ sung 0,3% chế phẩm R, khẩu phần bổ sung 0,3% FR, khẩu phần bổ sung 0,5% FH. Kết thúc thí nghiệm, tiến hành ngưng bổ sung thuốc vào thức ăn ở các thời điểm 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày và sau đó chọn mỗi lô 6 con lợn để mổ khảo sát. Mẫu thịt, gan và thận kiểm tra mức độ tồn dư các kháng sinh thảo dược trong sản phẩm. Lấy mẫu phân để nuôi cấy xác định khả năng kháng các kháng sinh thảo dược trên của một số vi khuẩn gây bệnh chủ yếu như E.coli, Salmonella, Staphylococcus, Streptococcus bằng kháng sinh đồ.

Giải pháp ở khâu giống, chuồng trại như: mật độ nuôi, điều kiện tiểu khí hậu trong chuồng.

2.2.2 Các giải pháp sản xuất thịt an toàn và chất lượng cao ở khâu giết mổ và vận chuyển

Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy giết mổ qui mô nhỏ từ 15-30 con/giờ, đạt tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, cải tiến khâu giết mổ, vận chuyển lợn và thịt lợn



2.3 Xây dựng các mô hình chăn nuôi đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm

Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn an toàn ở ven 2 thành phố lớn: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, với các quy mô lớn, nhỏ khác nhau: 30-100; 150 và 300-350 lợn thịt xuất chuồng/lứa.



2.4 Phương pháp chung lấy mẫu và phân tích. Lấy mẫu thức ăn, thịt và phân tích theo tiêu chuẩn Việt nam

2.5 Phương pháp thí nghiệm và xử lý số liệu

Phương pháp thí nghiệm là các phương pháp chuẩn trên thế giới và sử dụng phổ biến ở Việt nam. Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh vật học, phân tích ANOVA dựa trên các phần mềm MINITAB, STAT GRAPHIC PLUS, SAS…



3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Qua 3 năm nghiên cứu (2004-2006) đã tiến hành thí nghiệm trên 4.214 lợn thịt từ 60 ngày tuổi đến xuất chuồng về các giải pháp KHCN để sản xuất thịt lợn đạt tiêu chuẩn an toàn của CODEX và TCVN.



3.1 Kết quả điều tra tình hình an toàn thực phẩm

- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà máy thức ăn chăn nuôi. 100% số nhà máy được điều tra đều có sử dụng kháng sinh, thường sử dụng là Chlotetracycline (min 120 ppm, max 200 ppm), tiamulin (min 100 ppm, max 150 ppm), colistin (min 100 ppm, max 150 ppm).

- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở trại chăn nuôi lợn. Vấn đề sử dụng kháng sinh ở các trại chăn nuôi lợn cũng khá phổ biến và sử dụng tràn lan, không tuân thủ các nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh, không ngưng thuốc trước khi giết thịt. Hầu hết các trại chăn nuôi lợn ở cả phía Bắc và phía Nam đều chưa tuân thủ thời gian ngưng thuốc theo quy định trước khi xuất chuồng..



- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở giết mổ và cách thức vận chuyển. 90% cơ sở giết mổ ở Hà Nội là giết mổ thủ công ngay trên nền sân hay nền chuồng rồi để thịt trên bệ gỗ sau đó vận chuyển bằng xe đạp, xe máy hay ba gác. Mức độ vấy nhiễm vi sinh trong thịt rất cao: 50 % số mẫu nghiên cứu dương tính với Salmonella. Các cơ sở giết mổ ở phía Nam là giết mổ bán thủ công có nhiều mẫu nhiễm Coliform, E.coli, 20% mẫu dương tính với Salmonella

- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở chợ bán sỉ và lẻ thịt lợn. 83% cơ sở ở Hà Nội bày bán thịt trên sạp gỗ, chỉ có 17% cơ sở bày bán thịt trên sạp inox. Hầu hết các sạp gỗ không được vệ sinh tẩy rửa hàng ngày. 90% các sạp bày bán được điều tra ở TP. Hồ Chí Minh đều sử dụng bàn inox, tuy nhiên việc vệ sinh trước và sau khi bán đều không đạt yêu cầu, số lượng vi khuẩn gây bệnh cao.

3.2 Kết quả sử dụng các chất thay thế kháng sinh trong khẩu phần lợn thịt

3.2.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng kháng sinh trong khẩu phần đến tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tồn dư kháng sinh trong cơ thể lợn.

Bảng 1: Tăng trọng bình quân hàng ngày, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỉ lệ tiêu chảy trên lợn khi được cho ăn khẩu phần có các mức độ kháng sinh kháng nhau



Nghiệm thức

Chỉ tiêu theo dõi

Tăng trọng (g)

FCR

Tỉ lệ tiêu chảy (%)

Đối chứng

654  2,6d

2,95  0,03a

4,33

150 ppm Chlotetracycline

678  7,3a

2,84  0,05b

2,98

180 ppm Chlotetracycline

678  4,7a

2,84  0,05b

2,85

225 ppm Chlotetracycline

676  2,3ab

2,86  0,03b

2,83

10 ppm Tiamulin

664  1,8bc

2,92  0,01ab

3,48

30 ppm Tiamulin

669  3,0b

2,90  0,02ab

3,24

50 ppm Tiamulin

666  3,5bc

2,92  0,05ab

3,29

10 ppm Avilamycin

670  2,3b

2,86  0,01b

3,09

25 ppm Avilamycin

679  4,3a

2,84  0,03b

2,92

40 ppm Avilamycin

676  2,6ab

2,86  0,02b

2,98

Việc bổ sung kháng sinh trong thức ăn đã giúp cải thiện tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và giảm tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở lợn hơn so với khẩu phần đối chứng. Khẩu phần bổ sung kháng sinh Chlotetracycline và Avilamycin cho hiệu quả tốt hơn sử dụng Tiamulin.

Khẩu phần có bổ sung Chlortetracycline không vượt quá tỷ lệ 180 ppm, Tiamulin với liều 30 ppm hoặc Avilamycin với tỷ lệ 25 ppm sẽ không phải ngưng thuốc trước khi giết mổ và sẽ không có tồn dư trong thịt.



3.2.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng acid hữu cơ thay thế kháng sinh trong khẩu phần đến năng suất sinh trưởng của lợn

Bảng2: Tăng trọng bình quân hàng ngày, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỉ lệ tiêu chảy trên lợn khi được cho ăn khẩu phần thí nghiệm



Chỉ tiêu

Nghiệm thức

Đối chứng

Chlotetra

0,14 %

Axít Formic

0,21 %

Axít Formic

0,28 %

Axít Formic




XSD

XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

654  2,6c

671  3,5a

664  1,8b

669  3,0ab

666  3,5ab

FCR

2,950,03a

2,84 0,04b

2,92 0,01a

2,900,02ab

2,920,05a

Chi phí thức ăn (đồng)

9.509114a

9219 119b

9.490 48a

9.44762ab

9.519142a

TL tiêu chảy ( %)

4,33

2,80

3,48

3,24

3,29

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,05

Việc bổ sung axít formic trong thức ăn cho lợn thịt đã có tác dụng cải thiện tăng trọng, chuyển hóa thức ăn và giảm tỷ lệ tiêu chảy của lợn. Khẩu phần được bổ sung 0,21 % axít formic có kết quả tốt nhất, đã cải thiện 2,3% tăng trọng, 1,69 % hệ số chuyển hóa thức ăn và giảm 25,2 % tỷ lệ tiêu chảy của lợn so với không bổ sung. Khi so sánh với khẩu phần có bổ sung kháng sinh chlotetracycline thì bổ sung 0,21% axít formic cho kết quả về sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ tiêu chảy không có khác biệt thống kê so với bổ sung kháng sinh.



3.2.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng probiotic thay thế kháng sinh trong khẩu phần đến năng suất sinh trưởng của lợn

Bảng 3: Tăng trọng bình quân hàng ngày, hệ số chuyển hóa thức ăn và tỉ lệ tiêu chảy trên lợn khi được cho ăn khẩu phần có thí nghiệm



Chỉ tiêu

Nghiệm thức

Đối chứng

0,02 %

0,03 %

0,04 %

CTC




XSD

XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

660  2,51c

664  4,84bc

6713,55b

6722,85b

680  2,9a

FCR

2,82  0,01a

2,79 0,03ab

2,760,02b

2,760,02b

2,740,02b

Chi phí TĂ (đ/kgTT)

9086a

9066ab

8973b

9006b

8912b

Tỷ lệ tiêu chảy ( %)

4,05

3,40

2,40

2,44

1,72

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,01

Khẩu phần được bổ sung probiotic vào thức ăn cho lợn nuôi thịt có tác dụng cải thiện tăng trọng, chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ tiêu chảy của lợn. Mức bổ sung 0,03% probiotic vào khẩu phần lợn thịt cho kết quả tốt về giảm lượng E.coli trong phân, cải thiện 1,82 % tăng trọng, giảm 2,13 % FCR, giảm 0,88 % chi phí thức ăn/ kg tăng trọng và giảm 40,6 % số ngày con tiêu chảy của lợn so với đối chứng. Kết quả thí nghiệm này cũng tương tự nghiên cứu của Kyriakis và ctv. (1999) cho rằng bổ sung bacillus licheniformis thức ăn đã làm giảm tỷ lệ tiêu chảy của lợn (p<0,05), tăng trọng và tiêu tốn thức ăn cũng cải thiện tốt hơn lô đối chứng. Đồng thời cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Như Pho và Trần Thị Thu Thủy (2003) và một số tác giả về tác dụng của probiotic làm giảm tỷ lệ tiêu chảy 1,5 – 3% ở lợn con theo mẹ; 1,5 – 5,7% ở lợn con cai sữa, tỷ lệ hao hụt giảm 2 – 6%. Việc bổ sung probiotic có tác dụng tốt đối với lợn ở giai đoạn sinh trưởng nhưng kém hiệu quả đối với lợn ở giai đoạn vỗ béo.



3.2.4 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chất hấp phụ độc tố trong khẩu phần đến năng suất sinh trưởng của lợn

Bảng 4: Kết quả về tăng trọng hệ số chuyển hóa thức ăn và số ngày tiêu chảy của lợn



Chỉ tiêu

Nghiệm thức

ĐC dương

ĐC âm

Mycosorb

Mycofix plus

Daimentine




XSD

XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

628 ± 2,2a

615 ± 4,1b

625 ± 2,9a

625 ± 3,3a

618 ± 3,9b

FCR

2,99 ± 0,03b

3,06 ± 0,03a

3,01 ±0,03ab

2,99 ± 0,03b

3,03 ±0,04ab

Số ngày tiêu chảy

57,0 ± 11,9b

78,2 ± 9,6a

59,2 ± 5,9b

54,4 ± 5,5b

58,2 ± 6,8b

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,01

Bổ sung các chất hấp phụ độc tố Mycosorb với tỷ lệ 0,1%, Mycofix với tỷ lệ 0,1% và bentonite 1% đã có tác dụng giảm lần lượt 37%; 35% và 23% hàm lượng aflatoxin trong thức ăn, nâng cao sức đề kháng của lợn, giảm số ngày con tiêu chảy của lợn. Việc sử dụng chất hấp phụ Mycosorb và Mycofix plus có tăng trọng cao hơn và hệ số chuyển hóa thấp hơn khẩu phần có nhiễm độc tố cao trên 150ppm mà không bổ sung chất hấp phụ. Khẩu phần có bổ sung các chế phẩm Mycosorb, Mycofix và Diamentine đã có tác dụng làm giảm tổng số ngày con tiêu chảy lần lượt 24,3 %; 30,4 % và 25,6 % so với khẩu phần có độc tố cao trên 150ppm.



3.3 Kết quả điều chế chế phẩm thảo dược dùng phòng trị bệnh đường ruột và bệnh hô hấp ở lợn thịt và hiệu quả sử dụng chúng trên lợn

3.3.1 Chế phẩm thảo dược được bào chế

Đã bào chế thành công 2 chế phẩm thảo dược phòng trị bệnh đường ruột “FR” có tác dụng kháng các vi khuẩn E. coli, Shigella dysenteriae và Vibrio cholerae, Salmonella và chế phẩm thảo dược phòng trị bệnh đường hô hấp “FH”có tác dụng kháng các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp Staphylococcus aureus, Streptococcus sp.

Bảng 5: Khả năng kháng khuẩn của kháng sinh thảo dược


Kháng sinh thảo dược

Số mẫu

Khả năng kháng khuẩn ( %)







E.coli

Salmonella

Strep

Staph

Berberin trong chế phẩm R

5

100

100

-

-

Palmatin trong chế phẩm FR

5

100

100

-

-

Alkaloid trong chế phẩm FH

5

100

-

100

100

Strep: Streptococcus; Staph: Staphylococcus

Việc tiến hành lập kháng sinh đồ của các hoạt chất này cho thấy mức độ kháng khuẩn với các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp như Staphylococcus Streptococcus là rất tốt, 100 % số mẫu kiểm tra đều nhạy đối với các vi khuẩn gây bệnh. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy 100 % số mẫu đều kháng với E.coli tuy đường kính kháng khuẩn của chúng đối với E.coli không lớn bằng đường kính kháng khuẩn của chúng đối với các vi khuẩn Staphylococcus Streptococcus.



3.3.2 Hiệu quả sử dụng chể phẩm thảo dược thay thế chất kháng sinh trong khẩu phần của lợn.

Bảng 6. Ảnh hưởng của việc sử dụng các mức độ chiết xuất FR so với chất kháng sinh trong khẩu phần heo thịt



Chỉ tiêu

Nghiệm thức

Đối chứng

CTC

0,2 % FR

0,3 % FR

0,4 % FR




XSD

XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

660,6 ± 4,3b

680,4±2,7a

674,5±4,7a

677,5±2,8a

674,4±4,4a

FCR (kg)

2,84 ± 0,02a

2,75±0,02b

2,79±0,02b

2,77±0,01b

2,78± 0,02b

Chi phí TĂ (đ/kgTT)

9650 ±252a

9122 ± 68b

9246 ±58b

9185± 48b

9236 ± 58b

Số ngày tiêu chảy (ngày)

74,3 ± 10,4a

45,3 ± 3,2b

59,0±7,8ab

54,5 ±6,4b

56,5±13,5ab

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,01

Khẩu phần được bổ sung chlotetracyclin với tỷ lệ 180 ppm và chế phẩm thảo dược FR với các tỷ lệ từ 0,2 % đến 0,4 % đã có tác dụng cải thiện 3,0 % và 2,6 % tăng trọng, và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn 4,2 % đến 5,5 % so với khẩu phần không có chất bổ sung. Bổ sung 0,3 % chế phẩm FR cho kết quả tương đương với kháng sinh kích thích tăng trưởng trong thức ăn cho lợn thịt. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả tóm tắt của Zimmerman (1986) cho thấy khi bổ sung chất kháng khuẩn vào thức ăn đã có tác dụng cải thiện tăng trọng 10,6 % đối với lợn choai và 4,25 % đối với lợn vỗ béo. Wheeler và Wilson (1996) cho rằng các chất bào chế từ thảo mộc có tác dụng kích thích sinh trưởng, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ hao hụt và cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn trên lợn.

Bảng 7. Ảnh hưởng của việc sử dụng các mức độ chiết xuất FH so với chất kháng sinh trong khẩu phần heo thịt


Chỉ tiêu

Nghiệm thức

Đối chứng

0,2 % Tia

0,4 % FH

0,5 % FH

0,6 % FH




XSD

XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

662 ± 5,19b

675 ±7,16a

671±3,27ab

673 ± 0,9a

668±6,32ab

FCR (kg)

2,93 ± 0,04a

2,78±0,03b

2,82±0,03b

2,81±0,01b

2,81± 0,02b

Chi phí TĂ (đ/kgTT)

9528 ± 103a

9232 ± 95b

9365±97ab

9326 ±47b

9338± 74b

Số ngày tiêu chảy (ngày)

123,8 ± 21,6a

80,8±13,7b

105,5±11,7ab

104,5±21,6ab

109,5±20,8ab

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,05

Tăng trọng ở lô bổ sung 0,5% chế phẩm FH và 0,2% tiamulin cao hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với đối chứng, không có sự khác biệt giữa các lô bổ sung 0,4% và 0,6% chế phẩm FH với các lô còn lại. Như vậy bổ sung 0,2% tiamulin và 0,5% chế phẩm thảo dược FH đã có tác dụng cải thiện 1,96% và 1,66% tăng trọng so với đối chứng. Hệ số chuyển hóa thức ăn của lợn ở lô bổ sung tiamulin và các lô bổ sung chế phẩm FH đã giảm lần lượt 5,1% và 4,1% (P<0,05) so với đối chứng và không có sự khác biệt thống kê giữa các lô bổ sung chế phẩm FH với lô bổ sung tiamulin. Tuy nhiên, trong thời gian tiến hành thí nghiệm này, việc vệ sinh thú y và phòng bệnh của cơ sở rất tốt, vì thế hầu như chúng tôi không phát hiện số lợn có triệu chứng ho. Hơn nữa qua theo dõi số lợn xuất bán và mổ tại các lò mổ thì phổi của lợn ở thí nghiệm này rất tốt, không phát hiện thấy có bệnh tích nào ở phổi.

Bảng 8. So sánh hiệu quả của việc sử dụng hỗn hợp chế phẩm FR và FH so với các chất kháng sinh trong khẩu phần lợn thịt


Chỉ tiêu

Nghiệm thức

Đối chứng

0,12 % CTC

0,2 % Tia

0,3FR+ 0,5FH




XSD

XSD

XSD

XSD

Tăng trọng (g/ngày)

662 ± 4,4b

677 ± 1,3a

674 ± 2,2a

675 ± 1,1a

FCR (kg)

2,93 ± 0,06a

2,82 ± 0,03b

2,88 ± 0,02ab

2,86 ± 0,06ab

Chi phí TĂ (đ/kgTT)

9719 ± 267

9377 ± 112

9558 ± 79

9476 ± 191

Số ngày tiêu chảy (ngày)

124 ± 15,8a

89,3 ± 8,5b

109 ± 7,5ab

97,5 ± 2,4b

a,b Các số trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì sai khác nhau có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,01

Tăng trọng của lợn ở các khẩu phần được bổ sung kháng sinh và bổ sung các chế phẩm thảo dược cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô không bổ sung. Việc bổ sung 180 ppm CTC; 0,2 % tiamulin và 0,3 % FR + 0,5 % FH đã có tác dụng cải thiện tăng trọng lần lượt 2,27 %; 1,81 % và 1,96 % so với không bổ sung. Không có sự khác biệt thống kê về tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các khẩu phần bổ sung kháng sinh với khẩu phần bổ sung đồng thời các chế phẩm thảo dược. Chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng không có khác biệt thống kê giữa các lô thí nghiệm. Việc bổ sung 180 ppm CTC và 0,3 % FR + 0,5 %FH đã có tác dụng làm giảm số ngày con tiêu chảy lần lượt 27,98 % và 21,37 % so với không bổ sung.



3.3.3 Kết quả các định mức độ tồn dư chế phẩm thảo dược trong thịt, gan và thận lợn thịt

Thí nghiệm mang lại kết quả khả quan trong việc đánh giá mức độ tồn dư kháng sinh của chế phẩm thảo dược ở các thời điểm ngưng thuốc 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày trước khi giết mổ. Từ các mẫu thịt, gan và thận thu thập trên heo thí nghiệm không có phát hiện tồn dư kháng sinh thảo dược đã tạo ra hướng mới trong việc sử dụng chế phẩm thảo dược thay thế thuốc kháng sinh trong khẩu phần lợn thịt.



3.4 Một số kết quả nổi bật đạt được trong quá trình thực hiện các giải pháp khoa học công nghệ sản xuất thịt an toàn và chất lượng cao

- Thiết kế và chế tạo thùng vận chuyển thịt lợn ở nhiệt độ thường và nhiệt độ lạnh (sử dụng nước đá) phù hợp cho các phương tiện vận chuyển thô sơ như honda, ba gác, xe tải nhỏ. Kết quả cho thấy sử dụng thùng cải tiến để vận chuyển thịt lợn trong điều kiện nhiệt độ thường giảm 3-5 lần vấy nhiễm vi sinh vật quầy thịt so với thịt không được bao gói. Nếu sử dụng thùng cải tiến để vận chuyển thịt lợn trong điều kiện nhiệt độ lạnh thì mức vấy nhiễm vi sinh còn thấp hơn nữa.

- Xây dựng thành công 13 mô hình chăn nuôi lợn đạt tiêu chuẩn an toàn quy mô 30 lợn thịt/lứa; 3 mô hình chăn nuôi lợn quy mô 150 lợn thịt/lứa và 2 mô hình chăn nuôi lợn quy mô 300-350 lợn thịt/lứa. Kết quả tăng trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn ở các mô hình không giảm so với đối chứng, kiểm tra mẫu thịt lợn lấy từ các mô hình cho thấy không phát hiện tồn dư kháng sinh hay hóc môn.

- Xây dựng được quy trình an toàn sinh học, quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi an toàn, quy trình chăn nuôi lợn để sản xuất được thịt lợn an toàn và rà soát lại quy trình giết mổ lợn đạt tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn cho người sử dụng.

- Đã đề xuất xây dựng các văn bản pháp quy về áp dụng các tiêu chuẩn an toàn từ khâu sản xuất thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, vận chuyển và phân phối thịt lợn

4. KẾT LUẬN

4.1 Để sản xuất thịt lợn an toàn trước khi giết mổ (khâu chăn nuôi) cần áp dụng giải pháp tổng hợp về an toàn sinh học, dinh dưỡng thức ăn, giống và kỹ thuật chăn nuôi



    1. Bổ sung Chlortetracycline không vượt quá tỷ lệ 180 ppm; Tiamulin với liều 30 ppm hoặc Avilamycin với tỷ lệ 25 ppm sẽ không phải ngưng thuốc trước khi giết mổ và sẽ không có tồn dư trong thịt.

    2. Các chất thay thế probiotic, acid hữu cơ, chế phẩm thảo dược vẫn đảm bảo được tăng trưởng và hiệu quả sản xuất.

    3. Khi lợn bị bệnh tiêu chảy hoặc hội chứng hô hấp thì có thể dùng thảo dược trị bệnh vẫn đạt kết quả điều trị tốt và không có chất tồn dư

4.3 Để đảm bảo an toàn cho quầy thịt không bị nhiễm vi sinh trong khâu giết mổ, thì cần phải: Giết mổ treo hoặc cũng có thể giết mổ trên nền có bề mặt trơn láng; vệ sinh, khử trùng dụng cụ giết mổ, bề mặt tiếp xúc, nhân viên; nước phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh

4.4 Để đảm bảo an toàn cho khâu vận chuyển cần: Vận chuyển thịt lợn bằng xe ô tô chuyên dụng, bảo ôn; Vận chuyển bằng xe lam, xe vận tải nhe thì cần bao bọc bề mặt tiếp xúc bằng inox, dùng quạt và/hoặc có đá lạnh trên xe, đóng kín cửa xe khi chạy trên đường; vận chuyển bằng xe máy hay thì dùng thùng inox, tôn có nắp đậy kín, có đá hoặc không có đá ở đáy thùng; vệ sinh sát trùng tất cả dụng cụ chuyên chở

4.5 Để đảm bảo an toàn cho quầy thịt không bị nhiễm vi sinh trong khâu phân phối, thì cần phải:Bảo quản thịt bán trong thùng chứa bằng Inox (bảo quản lạnh); bàn và dụng cụ bày bán bằng inox có bề mặt trơn láng, dễ vệ sinh sát trùng; vệ sinh, khử trùng dụng cụ, bề mặt tiếp xúc, nhân viên bán hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đặng Thị Hạnh. 1999. Tình hình nhiễm vi khuẩn trên thịt lợn tươi tại một số chợ thuộc địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trong: Báo cáo khoa học ban Chăn nuôi thú y, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Huế, 28-30/6/1999.

Kiriakis, SC., Tsiloyiannis, V.K., Vlemmas, J., 1999. The effect of probiotic LSP 122 on the control of post-weaning diarrhoea syndrome of piglets. Research in Veterinary Science 67 (3): 223-228.

Lã Văn Kính, Đặng Thị Hạnh, Bùi Văn Miên và Nguyễn Ngọc Điền. 2001. Nghiên cứu các giải pháp sản xuất và chế biến thịt lợn, gà an toàn. Báo cáo khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT 2000-2001, Tiểu ban Chăn nuôi-Thú y, phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi (các báo cáo bổ sung).

Nguyễn Như Pho và Trần Thị Thu Thủy. 2003. Tác dụng của probiotic đến bệnh tiêu chảy trên lợn con. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Thú y lần IV. Đại học Nông Lâm TPHCM.

Nguyễn Như Pho và Võ Thị Trà An. 2003. Tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi lợn và tồn dư kháng sinh trong thịt và thận lợn. Kỷ yếu hội thảo khoa học "Sản xuất và chế biến thực phẩm sạch” Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, trang 147-152.

Wheeler, G.E. and D. Wilson. 1996. Supplementation of herbal “Nebsui” in feed for improved pig production. Indian Journal of Indigenous Medicines 18(2): 95-100.

Zimmerman, D.R.1986. Role of subtherapeutic antimicrobials in pig production. Journal of Animal Science 62 (Suppl. 3): 6.


SAFE AND QUALIFY PORK PRODUCTION

Lã Văn Kính1, Trần Thị Hạnh2, Lê Văn Lăng3, Bùi Văn Miên4, Phạm Tất Thắng1

Institute of Animal Sciences for Southren Vietnam, National Institute of Animal Sciences

SUMMARY

Establishing the system of safe and qualify meat production has required close linkage from farming to processing and distributing products. The additives (such as pro-biotic, organic acid) can replace antibiotic in pig diet to reduce antibiotic residue in meat without affecting on performance and feed conversion ratio. Moreover, the herbal extract FR and FH can effectively prevent from diarrhea and respiratory disease as compared to antibiotic. In addition, housing and nursing also contribute to performance and feed efficiency. Slaughtering and delivering to the market should be controlled strictly to limit contamination. The combination of factors will create a sustainable model and bio-security in swine production to produce safe and quality meat.



Key word: bio-security, antibiotic, herbal extract, safe meat, antibiotic residue


1 Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ, 2 Viện thú y, 3 Đại học y dược TP Hồ chí Minh, 4 Đại học nông lâm TP Hồ chí minh


tải về 181 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương