Bộ NỘi vụ chưƠng trình bồi dưỠng công chức chuyên trách cải cách hành chính hà NỘI, tháng 12/2013


II. THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH



tải về 1.62 Mb.
trang9/15
Chuyển đổi dữ liệu10.11.2017
Kích1.62 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15

II. THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1. Theo dõi, đánh giá

Theo dõi thực hiện CCHC là hoạt động thường xuyên, định kỳ thu thập và phân tích thông tin/số liệu về tiến độ thực hiện kế hoạch. Nhằm xác định các khó khăn/trở ngại và đề xuất kịp thời các giải pháp khắc phục. Đánh giá cũng là hoạt động định kỳ, tuy nhiên mục đích của đánh giá là rà soát lại kết quả đạt được để rút ra bài học cho công tác lập kế hoạch trong tương lai.

Theo dõi thực hiện kế hoạch CCHC chủ yếu cung cấp thông tin về:

- Tiến độ thực hiện các hoạt động so với kế hoạch và chỉ số kết quả của các hoạt động tương ứng;

- Mức độ đạt được các kết quả đầu ra so với kế hoạch và chỉ số kết quả các đầu ra tương ứng;

- Tình hình huy động và sử dụng các nguồn lực (tài chính, cơ sở vật chất & chuyên gia, nhân sự…) theo kế hoạch.

- Trong theo dõi và đánh giá, phải xác định rõ các yếu tố và ý nghĩa của từng yêu tố, bao gồm:


  1. Mục đích: TD ĐG để làm gì (như định nghĩa ở trên);

  2. Phạm vi/mức độ: TD ĐG đến cấp độ nào, với phạm vi nào;

  3. Nội dung: TD ĐG những gì;

  4. Tần suất: Theo định kỳ thời gian nào;

  5. Công cụ: Các tài liệu và hệ thống thông tin phục vụ TD ĐG;

  6. Cách thức: Thực hiện nội bộ hay thuê ngoài;

  7. Trách nhiệm: Đơn vị, đối tượng thực hiện/tham gia.

Bảng dưới đây nêu và so sánh chi tiết các yếu tố trong theo dõi và đánh giá trong CCHC.

Các yếu tố trong theo dõi và đánh giá thực hiện CCHC






THEO DÕI

ĐÁNH GIÁ

Mục đích

Nhằm đo lường tiến độ thực hiện so với kế hoạch và chỉ số để kịp thời có giải pháp khắc phục/điều chỉnh.

Nhằm đánh giá hiệu suất/hiệu quả sử dụng nguồn lực, tác động, tình phù hợp, tính bền vững và rút ra bài học để cải tiến trong tương lai

Phạm vi/mức độ

Rộng, bao trùm hầu hết các hoạt động

Tập trung vào những kết quả, lĩnh vực chính

Nội dung chính

Nguồn lực, hoạt động và kết quả đầu ra

Kết quả đầu ra, lĩnh vực và mục tiêu

Cơ cấu, hệ thống và các quy trình tổ chức thực hiện (kế hoạch/ chương trình)



Tần suất

Theo định kỳ hàng tuần, hàng tháng và hàng quý.

Theo định kỳ 6 tháng, hàng năm, giữa kỳ (5 năm) và cuối kỳ (10 năm).

Công cụ

Hệ thống báo cáo (Tiến độ hàng tháng, tiến độ và báo cáo tài chính hàng tháng/quý)

Hệ thống thông tin quản lý cơ sở dữ liệu




Hệ thống báo cáo (Kiểm điểm và báo cáo tài chính 6 tháng, hàng năm, kiểm điểm giữa kỳ chương trình (5 năm), kết thúc chương trình (10 năm)

Báo cáo điều tra (nội bộ hoặc độc lập) lĩnh vực CCCHC (1 cửa, ISO, thông tin/truyền thông …)



Cách thức

Nội bộ


Nội bộ

Thuê bên ngoài (đánh giá độc lập)



Trách nhiệm thực hiện

Sở ngành/huyện thị

Sở Nội vụ



Sở Nội vụ

UBND/Ban Chỉ đạo CCHC tỉnh thành

Chuyên gia/công ty tư vấn độc lập


Mặc dù theo dõi và đánh giá là hai hoạt động riêng rẽ, song có sự tương hỗ và gắn bó mật thiết với nhau vì muốn đánh giá thành công lại phải lệ thuộc vào thông tin và dữ liệ thu thập được trong quá trình theo dõi. Vì vậy, hệ thống theo dõi và đánh giá CCHC được thiết kế thành một hệ thống chung.

2. Thu thập thông tin/dữ liệu và cơ chế theo dõi

Nhìn chung việc theo dõi quá trình thực hiện CCHC ở cấp tỉnh tiến hành định kỳ hàng tuần, hàng tháng, hàng quý. Để đảm bảo công tác theo dõi và đánh giá CCHC được kịp thời, chính xác và khách quan, ngoài các cuộc họp mang tính hành chính định kỳ và đột xuất, công tác thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin và dữ liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng. Theo dõi nhằm thu nhận những thông tin cho các mục đích sau đây:

- Theo dõi mức độ hoàn thành các hoạt động và kết quả đầu ra so với kế hoạch công tác;

- Kiểm tra tiến độ nhằm đạt được các chỉ số kết quả và tác động đã đề ra trong kế hoạch;

- Bảo đảm huy động và sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) theo kế hoạch.

- Xuất phát từ yêu cầu, mục đích và điều kiện cụ thể, các đơn vị trực tiếp tham gia các hoạt động CCHC (các sở ngành và huyện thị) và quản lý CCHC (Sở Nội vụ, Ban Chỉ đạo CCHC) nên sử dụng một hoặc kết hợp một số phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu.

- Dưới đây là một số phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu phổ biến.

Một số phương pháp thu thập thông tin/dữ liệu


Phương pháp

Ví dụ

Trách nhiệm

thực hiện

Nghiên cứu

các báo cáo



Các báo cáo định kỳ hàng tháng/quý, báo cáo kiểm điểm, đánh giá CCHC

Biên bản họp, ghi chép hội nghị của các cơ quan liên quan



Cán bộ CCHC của các cơ quan liên quan

CBCC phòng CCHC hay các nhóm theo dõi, đánh giá




Quan sát/thị

sát trực tiếp



Quan sát chất lượng trang thiết bị tại đơn vị “một cửa”

Tính toán thời gian cần thiết để xử lý một hồ sơ



CBCC phòng CCHC hay các nhóm theo dõi, đánh giá

Cán bộ điều tra độc lập




Trao đổi, thảo luận


Phỏng vấn CBCC về tiến độ công việc và kết quả đạt được.

Phỏng vấn công dân để lấy ý kiến về chất lượng dịch vụ.



CBCC phòng CCHC hay các nhóm theo dõi, đánh giá

Cán bộ điều tra độc lập




Điều tra (gồm

các kỹ thuật

mang tính tham

gia)


Có thể điều tra bằng phiếu hỏi để đánh giá mức độ hài long và lấy ý kiến của các CBCC và người dân.

Có thể sử dụng các kỹ thuật mang tính tham gia như phỏng vấn nhóm có trọng tâm để lấy ý kiến mang tính định tính



CBCC phòng CCHC hay các nhóm theo dõi, đánh giá

Cán bộ điều tra độc lập




Cần theo dõi thường xuyên thế nào? Một số dữ liệu cần thường xuyên thu thập (hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng), các dữ liệu khác có thể thu thập ít thường xuyên hơn (hàng quý hay thậm chí hàng năm). Vì vậy, cần có kế hoạch thu thập dữ liệu về CCHC bao gồm các nội dung sau:

- Dữ liệu cần thiết để đánh giá chỉ số đã xây dựng trong kế hoạch CCHC;

- Nguồn dữ liệu là từ đâu ra;

- Phương pháp sử dụng để thu thập dữ liệu là gì;

- Khi nào thì thu thập và mức độ thu thập thường xuyên thế nào;

- Ai là người chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu, phân tích và báo cáo.



3. Các phương pháp đánh giá:

Đánh giá thực hiện CCHC là hoạt động định kỳ kiểm điểm và đánh giá việc hoàn thành các kết quả của kế hoạch, các lĩnh vực và mục tiêu của Chương trình CCHC của tỉnh (so với các chỉ số kết quả đầu ra, lĩnh vực và mục tiêu). Thông thường, công tác đánh giá thực hiện CCHC ở cấp tỉnh được thực hiện theo định kỳ 6 tháng, hàng năm, giữa kỳ (5 năm) và cuối kỳ (10 năm). Cũng có thể có đánh giá đột xuất về những lĩnh vực CCHC cụ thể. Ví dụ như tiến hành đánh giá về đầu tư cho một đơn vị “một cửa” hay đánh giá thực hiện một thủ tục hành chính mới được đơn giản hóa.

Các nội dung đánh giá thực hiện CCHC bao gồm:

- Đánh giá tính hiệu suất và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực;

- Đánh giá tác động của kế hoạch/chương trình đối với kinh tế xã hội của địa phương;

- Đánh giá tính phù của các hoạt động, kết quả, lĩnh vực và mục tiêu đã được xây dựng và thực hiện;

- Đánh giá tính bền vững của các kết quả đã đạt được;

- Đánh giá cơ cấu, hệ thống và các quy trình tổ chức thực hiện kế hoạch/chương trình;

- Rút ra các bài học kinh nghiệm cho kế hoạch/giai đoạn tiếp theo.

Một nguyên tắc quan trọng là phải xác định được tác động mong muốn của CCHC và các chỉ số để đo lường sự thành công ngay từ khi xây dựng kế hoạch. Lý do là vì cần xác định sớm loại dữ liệu cần có để đánh giá sau này, qua đó mới xây dựng được hệ thống thu thập đúng hạn. Nguyên tắc quan trọng khác trong đánh giá là phải đo lường được những gì đã thực hiện. Tuy nhiên, điều đó không nhất thiết là phải đo lường mọi thứ do công tác thu thập dữ liệu, phân tích và viết báo cáo là khá tốn kém.

Như vậy, cần đặc biệt chú ý tới việc đánh giá tác động của CCHC như thế nào, ví dụ:



1. Mục đích


Ai quan tâm tới kết quả đánh giá và họ muốn biết điều gì? Việc đánh giá chỉ liên quan tới một lĩnh vực nội dung, ví dụ như hiệu quả hoạt động của đơn vị “Một cửa”? Đánh giá cuối năm kế hoạch hay đánh giá sau 5 năm thực hiện?

2. Tần suất


Đây là đợt đánh giá cuối năm kế hoạch, đánh giá giữa kỳ hay đánh giá kêt thúc chương trình CCHC 5 năm?

3. Nội dung

Cần đánh giá gì? Việc đánh giá chú trọng tới hiệu quả thực hiện nhiệm vụ CCHC hay về tác động của CCHC?

4. Công cụ

Cần vận dụng phương pháp nào để thu thập dữ liệu? Có sẵn các tài liệu dữ liệu nào và yêu cầu thu thập ra sao? Phân tích kết quả thế nào và viết báo cáo gì? Liệu có thể sử dụng hệ thống quản lý thông tin nào để hỗ trợ việc theo dõi, đánh giá không?

5. Nguồn lực:

Cần có các nguồn lực tài chính và nhân lực nào để theo dõi, đánh giá? Ai cần tham gia trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện? Nên để một đơn vị nội bộ theo dõi đánh giá hay hợp đồng cho một đơn vị từ bên ngoài?

6. Trách nhiệm:

Các tuyến quản lý và báo cáo gồm những ai? Ai sẽ là đầu mối? Trách nhiệm và nhiệm vụ của các đơn vị và cá nhân liên quan là gì?

Trong đánh giá thực hiện CCHC, đánh giá nội bộ và đánh giá độc lập là hai phương pháp được sử dụng phổ biến:

Đánh giá nội bộ là công việc đánh giá do đơn vị chịu trách nhiệm hoạt động, kết quả đầu ra hoặc đơn vị quản lý chương trình/kế hoạch CCHC trực tiếp thực hiện. Ví dụ: Trong trường hợp đơn vị cấp trên (Sở Nội vụ) đánh giá kết quả công việc (triển khai ISO, Một cửa) của các đơn vị cấp tỉnh (Sở KHCN) hay đơn vị cấp dưới (cấp huyện) thì vẫn được coi là đánh giá nội bộ.

Đánh giá độc lập: Tỉnh có thể lựa chọn một đơn vị bên ngoài thực hiện đánh giá kết quả các hoạt động, đầu ra hay đánh giá chương trình. Trường hợp phổ biến thuộc phương pháp này là: Đánh giá sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ Một cửa, đánh giá giữa kỳ và kết thúc Chương trình CCHC.

B. CHỈ SỐ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHỈ SỐ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Bước vào thập niên đầu Thế kỷ XXI, từ kết quả công cuộc đổi mới và xuất phát từ thực trạng, yêu cầu, của nền hành chính, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương phải đẩy mạnh cải cách hành chính, xác định là khâu đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 (gọi tắt là Chương trình tổng thể). Trong đó đã xác định cải cách hành chính được đẩy mạnh và tiến hành đồng bộ trên các lĩnh vực: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công. Mục tiêu chung của giai đoạn này là “xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”.

Thực hiện Chương trình tổng thể, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27/4/2006 phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn II (2006 - 2010); từ năm 2007, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá X) của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP ngày 07/11/2007 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá X), Nghị quyết số 26/2008/NQ-CP ngày 17/11/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 53/2007/NQ-CP. Trên cơ sở đó, cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ từ Trung ương tới địa phương với các chương trình, dự án, đề án cụ thể cho từng giai đoạn. Kết quả cải cách hành chính 10 năm qua cho thấy nền hành chính đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế, dân chủ hóa đời sống xã hội, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, củng cố và duy trì ổn định chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001 - 2010, chúng ta chưa có một công cụ để theo dõi, đánh giá quá trình triển khai cũng như kết quả đạt được của CCHC hàng năm một cách khoa học, định lượng và có sự so sánh giữa các bộ, giữa các địa phương với nhau. Đây là một hạn chế trong công tác theo dõi, đánh giá về CCHC giai đoạn vừa qua, dẫn đến khó khăn trong việc xác định mức độ đạt được hoặc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch CCHC hàng năm của các bộ, ngành, địa phương để có giải pháp điều chỉnh cần thiết nhằm đẩy mạnh CCHC ở những năm tiếp theo. Để khắc phục hạn chế này, một giải pháp đề ra trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 ban hành theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ là “Xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Như vậy việc xác định Chỉ số cải cách hành chính tại các bộ, ngành, địa phương là rất cần thiết trong triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính 10 năm tới; theo đó, nó sẽ giúp giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cần phải đổi mới trong triển khai cải cách hành chính nhà nước, đó là:



1. Đổi mới công tác theo dõi, đánh giá cải cách hành chính theo hướng dựa trên kết quả

Trong giai đoạn CCHC 10 năm trước, công tác theo dõi, đánh giá cải cách hành chính (CCHC) chủ yếu là đánh giá quá trình triển khai, không chú trọng đến hoạt động theo dõi và đánh giá kết quả đầu ra. Việc xác định Chỉ số CCHC trong giai đoạn tới sẽ hướng tới đổi mới về quan niệm trong đánh giá, đó là kết hợp theo dõi với đánh giá, đánh giá quá trình kết hợp với đánh giá kết quả đầu ra và tác động của CCHC đối với cả chủ thể là cơ quan hành chính nhà nước và đối tượng thụ hưởng thành quả của CCHC là người dân, tổ chức, theo hướng coi trọng đánh giá và sự tham gia của người dân, tổ chức đối với tiến trình cải cách hành chính. Thông qua Chỉ số CCHC chúng ta có thể lượng hoá được kết quả đạt được trên từng lĩnh vực CCHC của Chương trình tổng thể để từ đó so sánh, đánh giá kết quả, mặt mạnh, mặt yếu trong CCHC hàng năm của từng bộ, ngành, địa phương. Qua đó, giúp cho công tác quản lý thực hiện Chương trình đạt kết quả, hiệu quả cao hơn.



2. Áp dụng thống nhất công cụ theo dõi, đánh giá kết quả và quá trình triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính tại các bộ, ngành, địa phương

Quá trình triển khai CCHC của từng bộ, ngành, địa phương có sự khác nhau về nội dung, nhiệm vụ, cách làm, do vậy công tác theo dõi, đánh giá của cần phải bảo đảm đánh giá đúng, khách quan kết quả đạt được trong CCHC, đồng thời tránh việc khai thác những yếu tố mang lại lợi thế riêng cho từng bộ, ngành, địa phương để bảo đảm việc đánh giá được công bằng, bình đẳng. Từ đó, việc xác định Chỉ số CCHC sẽ giúp Chính phủ có một công cụ thống nhất trong quản lý thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính tại các bộ, ngành, địa phương.



3. Đánh giá, xếp hạng kết quả triển khai CCHC của các bộ, ngành, địa phương hàng năm

Việc lượng hoá kết quả triển khai CCHC trên từng lĩnh vực, với một hệ thống tiêu chí chung, đồng nhất trong theo dõi, đánh giá giúp cho Chính phủ có cái nhìn tổng quan về kết quả triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC, đồng thời phân loại được kết quả thực hiện cải cách hành chính của các bộ, ngành, địa phương một cách chính xác, qua đó so sánh, xếp hạng kết quả CCHC hàng năm giữa các bộ với nhau và giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nhau. Với ý nghĩa so sánh, xếp hạng nêu trên, Chỉ số Cải cách hành chính là cơ sở để khen thưởng đúng, đích đáng những đơn vị đạt được kết quả cao trong CCHC và giúp các đơn vị yếu kém có khả năng tự nhìn nhận, đánh giá quá trình triển khai CCHC của mình để có giải pháp nhằm cải thiện tình hình trong năm tới.



II. NỘI DUNG CỦA CHỈ SỐ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH

Trên cơ sở Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và đặc điểm quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương, Chỉ số cải cách hành chính được xây dựng riêng cho cấp bộ và cấp tỉnh. Nội dung của Chỉ số cải cách hành chính cấp bộ, cấp tỉnh được quy định cụ thể tại Quyết định số 1294/QĐ-BNV ngày 03/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Cụ thể như sau:



1. Chỉ số CCHC cấp bộ

a) Các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần:

Chỉ số CCHC cấp bộ được xác định trên 7 lĩnh vực, 31 tiêu chí và 89 tiêu chí thành phần, cụ thể là:

- Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính: 6 tiêu chí; 18 tiêu chí thành phần;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi phản lý nhà nước của bộ: 6 tiêu chí; 17 tiêu chí thành phần;

- Cải cách thủ tục hành chính: 3 tiêu chí; 11 tiêu chí thành phần;

- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: 5 tiêu chí; 8 tiêu chí thành phần;

- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức: 5 tiêu chí; 17 tiêu chí thành phần;

- Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập: 3 tiêu chí; 6 tiêu chí thành phần;

- Hiện đại hoá hành chính: 3 tiêu chí; 12 tiêu chí thành phần;

Các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp bộ được quy định cụ thể tại Bảng 1 Quyết định số 1294/QĐ-BNV.

b) Thang điểm đánh giá:

- Thang điểm đánh giá là 100.

- Điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là 40/100.

Thang điểm đánh giá được xác định cụ thể đối với từng tiêu chí, tiêu chí thành phần tại Bảng 1.

c) Phương pháp đánh giá:

- Tự đánh giá của các bộ: các bộ tự theo dõi, đánh giá và cho điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của bộ và các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo các tiêu chí, tiêu chí thành phần được quy định trong Chỉ số CCHC cấp bộ và hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Điểm các bộ tự đánh giá được thể hiện tại cột “Bộ tự đánh giá” của Bảng 1.

- Đánh giá thông qua điều tra xã hội học: Số tiêu chí, tiêu chí thành phần đánh giá qua điều tra xã hội học là 24, được thể hiện tại cột “Ghi chú” và các dòng có chữ viết tắt “ĐTXHH” của Bảng 1. Việc điều tra xã hội học được tiến hành lấy ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng khác nhau.

- Điểm tự đánh giá của các bộ sẽ được Bộ Nội vụ xem xét, công nhận hoặc điều chỉnh nếu cần thiết. Điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là điểm do Bộ Nội vụ thực hiện. Tổng hợp điểm qua điều tra xã hội học và điểm Bộ Nội vụ đánh giá là điểm đạt được thể hiện ở các cột tương ứng trong Bảng 1, là căn cứ để tính Chỉ số CCHC cho từng bộ. Chỉ số CCHC được xác định bằng tỉ lệ % giữa điểm đạt được và điểm tối đa (100 điểm). Ngoài Chỉ số CCHC của bộ được thể hiện ở dòng cuối cùng của Bảng 1 còn có các chỉ số theo lĩnh vực, tiêu chí.

d) Bộ câu hỏi điều tra xã hội học:

Bộ câu hỏi điều tra xã hội học được xây dựng với số lượng, nội dung câu hỏi tương ứng với các tiêu chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp bộ.

2. Chỉ số CCHC cấp tỉnh

a) Các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần:

Chỉ số CCHC cấp tỉnh được xác định trên 8 lĩnh vực, 34 tiêu chí và 104 tiêu chí thành phần, cụ thể là:

- Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính: 6 tiêu chí; 19 tiêu chí thành phần;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh: 3 tiêu chí; 12 tiêu chí thành phần;

- Cải cách thủ tục hành chính: 2 tiêu chí; 8 tiêu chí thành phần;

- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: 5 tiêu chí; 8 tiêu chí thành phần;

- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: 6 tiêu chí; 20 tiêu chí thành phần;

- Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập: 5 tiêu chí; 13 tiêu chí thành phần;

- Hiện đại hoá hành chính: 3 tiêu chí; 13 tiêu chí thành phần;

- Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông: 4 tiêu chí; 11 tiêu chí thành phần;

Các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp tỉnh được quy định cụ thể tại Bảng 2 Quyết định số 1294/QĐ-BNV.

b) Thang điểm đánh giá:

- Thang điểm đánh giá là 100.

- Điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là 38/100.

Thang điểm đánh giá được xác định cụ thể đối với từng tiêu chí, tiêu chí thành phần tại Bảng 2.

c) Phương pháp đánh giá:

- Tự đánh giá của các tỉnh: các tỉnh tự theo dõi, đánh giá và cho điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính của tỉnh và các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo các tiêu chí, tiêu chí thành phần được quy định trong Chỉ số CCHC cấp tỉnh và hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Điểm các tỉnh tự đánh giá được thể hiện tại cột “Tỉnh tự đánh giá” của Bảng 2.

- Đánh giá thông qua điều tra xã hội học: Số tiêu chí, tiêu chí thành phần đánh giá qua điều tra xã hội học là 33, được thể hiện tại cột “Ghi chú” và các dòng có chữ viết tắt “ĐTXHH” của Bảng 2. Việc điều tra xã hội học được tiến hành lấy ý kiến đánh giá của các nhóm đối tượng khác nhau.

- Điểm tự đánh giá của các tỉnh sẽ được Bộ Nội vụ xem xét, công nhận hoặc điều chỉnh nếu cần thiết. Điểm đánh giá qua điều tra xã hội học là điểm do Bộ Nội vụ thực hiện. Tổng hợp điểm qua điều tra xã hội học và điểm Bộ Nội vụ đánh giá là điểm đạt được thể hiện ở các cột tương ứng trong Bảng 2, là căn cứ để tính Chỉ số CCHC cho từng tỉnh. Chỉ số CCHC được xác định bằng tỷ lệ % giữa tổng điểm đạt được và điểm tối đa (100 điểm). Ngoài Chỉ số CCHC của tỉnh được thể hiện ở dòng cuối cùng của Bảng 2 còn có các chỉ số theo lĩnh vực, tiêu chí.

d) Bộ câu hỏi điều tra xã hội học:

Bộ câu hỏi điều tra xã hội học được xây dựng với số lượng, nội dung câu hỏi tương ứng với các tiêu chí, tiêu chí thành phần của Chỉ số CCHC cấp tỉnh.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương