Bộ giáo dục và ĐÀo tạo vụ giáo dục trung họC


Sự mạnh mẽ, can đảm của con người



tải về 3.39 Mb.
trang10/21
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2019
Kích3.39 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   21
Sự mạnh mẽ, can đảm của con người

  • 2 ý A và B

  • 2 ý A và C

    Câu 10.

    Em hãy viết bài văn tả cảnh biển vào một ngày nắng đẹp hoặc một chiều mưa.

    .......................................................................................................................................


    • Lớp 7

    Văn bản 1

    CA DAO


    1. Ơn cha nặng lắm ai ơi

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    1. Con người có cố, có ông,

    Như cây có cội, như sông có nguồn.

    1. Anh em như chân với tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Câu 1. Các câu ca dao trên cùng viết về chủ đề nào?

    1. Tình yêu quê hương

    2. Tình yêu nam nữ

    3. Tình cảm bạn bè

    4. Tình cảm gia đình

    Câu 2. Biện pháp tu từ nào cùng được sử dụng trong các câu ca dao trên?

    1. Nhân hóa

    2. So sánh

    3. Hóan dụ

    4. Ẩn dụ

    Câu 3. Giải nghĩa của các từ sau đây:

    • Cưu mang:…………………………………………………………………

    • Cố:…………………………………………………………………………

    • Nguồn:……………………………………………………………………

    Câu 4. Viết đoạn văn nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu “Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang”.

    .......................................................................................................................................



    Câu 5. Viết bài văn kể lại một câu chuyện có thật (mà em chứng kiến hoặc là người tham gia) có nội dung tương tự câu ca dao: Anh em như chân với tay - Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    .......................................................................................................................................



    Văn bản 2

    ĂN KEM


    Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này: Ngày nọ, Jim - tên của cậu bé - sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạn tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.

    Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một đĩa kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu”, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một đĩa kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.

    Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho đĩa kem mà Jim đã gọi - Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.

    (Phương Thảo - Theo Inspiration and Friendship)



    Câu 1. Jim có tất cả bao nhiêu tiền?

    1. 50 xu

    2. 5 xu

    3. 35 xu

    4. 15 xu

    Câu 2. Vì sao Jim không gọi món kem mà cậu thích?

    ………………………………………………………………………………………



    Câu 3. Nhận định nào đúng về nghĩa của từ “tiền boa” ở dòng cuối của văn bản trên?

    1. Là số tiền bắt buộc phải trả cho món kem mà Jim yêu cầu

    2. Là tiền mà Jim biếu thêm cho người phục vụ để cảm ơn cô ấy

    3. Là tiền thuế mà Jim phải trả khi mua món kem

    4. Là tiền mà Jim góp vào hòm từ thiện của cửa hàng

    Câu 4. Vì sao người phục vụ lại bật khóc khi nhìn thấy số tiền Jim để lại trên bàn?

    1. Vì cô ấy quá sung sướng khi nhận được số tiền boa lớn

    2. Vì cô ấy quá thất vọng khi nhận được số tiền boa ít ỏi

    3. Vì cô ấy cảm động trước những hành động của Jim

    4. Vì cô ấy lo lắng khi thấy Jim không trả đủ tiền cho đĩa kem

    Câu 5.

    Bài học rút ra từ việc làm của Jim trong câu chuyện trên là gì? Hãy viết đoạn văn (khoảng 10-15 dòng) theo một phép lập luận đã học để bàn về bài học ấy.

    .......................................................................................................................................


    • Lớp 8

    Văn bản 1

    HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ



    Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. Có 3 hình thức hát xoan: hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe; và hát lễ hội là hình thức để nam nữ giao duyên.

    Theo sử sách ghi lại thì hát Xoan đã tồn tại hơn 2.000 năm, là di sản văn hóa dân gian hết sức quý báu. Trên chặng đường dài đó, loại hình nghệ thuật này đã được nhiều người có vị thế và uy tín trong xã hội, nhiều văn nhân thi sĩ nâng đỡ, tạo điều kiện cho phát triển. Trong đó có phần công lao to lớn của bà Lê Thị Lan Xuân, mà phường Xoan truyền tụng như một ân nhân. Để tỏ lòng biết ơn bà, các phường Xuân kiêng tên bà gọi chệch đi là hát Xoan. 

    Các làn điệu Xoan cổ đều được bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa bàn trung tâm bộ Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Gốc của hát Xoan ở vùng Phú Thọ, sau đó lan tỏa tới các làng quê thuộc đôi bờ sông Lô, sông Hồng, qua cả tỉnh Vĩnh Phúc. Bốn phường Xoan cổ là An Thái, Phù Đức, Kim Đới và Thét nằm ở 2 xã Kim Đức và Phương Lâu (Phú Thọ). 

    Ca nhạc của Xoan là ca nhạc biểu diễn với đầy đủ các dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp. Về sắc thái âm nhạc, nhạc Xoan vừa có những giọng nghiêm trang, thong thả vừa có những điệu dồn đuổi khỏe mạnh, lại có những giọng duyên dáng, trữ tình.

    Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca. Các tiết mục múa hát thường theo thứ tự nhất định. Mở đầu là 4 tiết mục có tính nghi thức, mang nội dung khấn nguyện, chúc tụng, xen mô tả sản xuất. Đây là những bài ca cổ, chủ yếu hát nói hoặc ngâm ngợi; theo thứ tự: giáo trống, giáo pháo, thơ nhang, đóng đám. Tiếp theo là phần hát cách (còn gọi là quả cách). Trong phần này, ông Trùm hoặc một kép chính giở sách ngân nga 14 bài thơ nôm dài với giọng phụ họa của các cô đào đứng ở phía sau. Mười bốn quả cách trong hát Xoan là những áng thơ khuyết danh với các đề tài khác nhau như: mô tả lao động, sinh hoạt ở nông thôn, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể các tích chuyện xưa. Sau phần hát cách đến các tiết mục có tính chất dân gian với nội dung đậm nét trữ tình, mang dáng dấp của các bài dân ca, ví giao duyên, hát trống quân. Mỗi tiết mục nối tiếp nhau ở đây thường gắn với những động tác và đội hình múa, hoặc lối diễn mang tính chất hoạt cảnh như: hát gái, bỏ bộ, xin huê, đố huê, đố chữ, gài huê, hát đúm, đánh cá... Sức sống của hát Xoan chính là ở sự kết hợp của loại hình hát lễ nghi với hát giao duyên, tồn tại lâu dài và được nhiều thế hệ yêu thích. 

    (Theo http://www.vietnamtourism.com)



    Câu 1. Trong hát Xoan, không có hình thức hát nào?

    1. Hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng

    2. Hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe

    3. Hát lễ hội để nam nữ giao duyên.

    4. Hát kể các tích chuyện xưa

    Câu 2. Hát Xoan được tổ chức vào mùa nào trong năm?

    1. Mùa xuân

    2. Mùa hạ

    3. Mùa thu

    4. Mùa đông

    Câu 3. Trong hát Xoan, các tiết mục múa và hát thường theo thứ tự mấy bước?

    1. 2 bước

    2. 3 bước

    3. 4 bước

    4. 5 bước

    Câu 4. Từ “huê” trong đoạn cuối của văn bản đồng nghĩa với từ nào?

    1. hương

    2. trầu

    3. hoa

    4. thơ

    Câu 5. Thống kê các dạng thức nhạc hát trong hát Xoan và nhận xét về các dạng thức ấy.

    ……………………………………………………………………………………….............



    Câu 6.

    Dựa vào văn bản Hát xoan Phú Thọ, hãy viết bài văn về một làn điệu dân ca hoặc một loại hình nghệ thuật mà em biết hoặc yêu thích.

    ................................................................................................................................................

    Văn bản 2

    TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU

    Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ, giận mẹ nhưng không thể xúc phạm một cách trực tiếp, cậu chạy đến một thung lũng cạnh một khu rừng rậm. Cậu lấy hết sức mình và thét lên: "Tôi ghét người". Cậu ngạc nhiên vô cùng vì từ khu rừng có tiếng vọng lại: "Tôi ghét người". Cậu hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở. Cậu không thể hiểu được từ trong rừng đã có người thù ghét cậu.

    Người mẹ nắm tay đưa cậu trở lại khu rừng và bảo cậu hãy hét lên: "Tôi yêu người". Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì cũng có người nói vọng lại: "Tôi yêu người". Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau: "Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì người đó gặt bão. Nếu con thù ghét người, thì người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thương người, thì người cũng sẽ yêu thương con".

    Hận thù lúc nào cũng kéo theo hận thù, bạo động lúc nào cũng sinh ra bạo động. Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu. Bạo động và hận thù không thể là phương thế để cải tạo xã hội. Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người. Bạn hãy sống cao thượng. Bạn hãy lấy tình yêu để đáp trả lại hận thù. Tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương lúc nào cũng là tiếng vọng của bình an tự trong đáy tâm hồn chúng ta.

      (Theo Trí Quyển - Quà tặng cuộc sống – NXB Trẻ TP HCM, 2006)



    Câu 1.

    Nội dung chính của văn bản trên là gì?

    .................................................................................................................................................

    Câu 2.

    Ý nghĩa của câu chuyện trên được rút ra từ một tình huống truyện độc đáo, đó là tình huống nào?

    …………………………………………………………………………………..…….……

    Câu 3.

    Văn bản trên có sự kết hợp những phương thức biểu đạt nào? Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thể hiện của văn bản trên là gì?

    .........................................................................................................................................

    Câu 4.

    Viết lại câu sau bằng cách chuyển từ ngữ in đậm thành khởi ngữ: “Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người”



    Câu 5:

    Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về ý nghĩa của câu văn:“Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu”.



    • Lớp 9

    Văn bản 1

    LẶNG LẼ SA PA

    ... Một anh thanh niên hai mươi bảy tuổi! Đây là đỉnh Yên Sơn, cao hai nghìn sáu trăm mét. Anh ta làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Cách đây bốn năm, có hôm tôi cũng đang đi thế này chợt thấy một khúc thân cây chắn ngang đường, phải hãm lại. Một anh thanh nhien ở đâu chạy đến, hè với tôi và khách đi xe đảy khúc cây ra một bên cho xe đi. Hỏi ở đây mà ai đẩy cây ra giữa đường thế này, anh chỉ đỏ mặt. Th́ì ra anh ta mới lên nhận việc, sống một ḿnh trên đỉnh núi. Bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo, chưa quen, thèm người quá, anh ta kiếm kế dừng xe lại để gặp chúng tôi, nhìn trông và nói chuyện một lát.



    (Lặng lẽ Sa Pa - Ngữ Văn 9, tập 1)

    Câu 1.

    Những thông tin sau đây về văn bản “Lặng lẽ SaPa” đúng hay sai?



    Thông tin

    Đúng

    Sai

    1. Được viết trong công kháng chiến chống Pháp







    2. Anh thanh niên sống một mình trên đỉnh núi cao







    3. Nhân vật anh thanh niên, ông kĩ sư vườn rau là những nhân vật xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm







    4. Anh thanh niên được điều động lên làm việc ở đỉnh núi cao







    5. Anh thanh niên đã từng phát hiện ra đám mây khô giúp quan ta bắn được nhiều máy bay địch







    Câu 2.

    Đoạn được trần thuật ở ngôi thứ mấy?

    A. Ngôi thứ nhất

    B. Ngôi thứ hai

    C. Ngôi thứ ba

    Câu 3.

    Nội dung của đoạn văn trên là gì?

    A. .Miêu tả hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên

    B. Ngợi ca phẩm chất đẹp của anh thanh niên

    C. Ngợi ca phong cách sống đẹp của anh thanh niên

    D. Ca ngợi vẻ đẹp của những con người lao động thầm lặng trên SaPa



    Câu 4.

    Giả sử một ngày nào đó, em được lựa chọn: một là đi làm công việc yêu thích trên một đỉnh núi hiu quạnh, suốt năm tháng chỉ làm bạn với mây mù và hoa cỏ; hoặc là em làm một công việc không yêu thích nhưng lại ở ngay thành phố. Em sẽ lựa chọn như thế nào?



    Câu 5 .

    Kể tên 1 văn bản trong chương trình Ngữ Văn 9 cũng được viết vào giai đoạn lịch sử giống như “Lặng lẽ Sa Pa”. Nêu ngắn gọn nội dung tác phẩm đó .

    ………………………………………………………………………………………………

    Văn bản 2

    ĐỌC VĂN, HỌC VĂN

    Bài thơ tả lại một ngày ra thăm lăng Bác, từ tinh sương cho đến trưa, đến chiều. Nhưng thời gian trong tưởng niệm là thời gian vĩnh viễn của vũ trụ, của tâm hồn. Cả bài thơ bốn khổ, khổ nào cũng trào dâng một niềm thương nhớ bao la và xót thương vô hạn. Bốn khổ thơ, khổ nào cũng đầy ắp ẩn dụ, những ẩn dụ đẹp và trang nhã, thể hiện sự thăng hoa của tình cảm cao cả, nâng cao tâm hồn con người”

    ( Trần Đình Sử, Đọc văn học văn)



    Câu 1.

    Đoạn văn trên gợi nhớ cho em tới văn bản nào được học trong chương trình Ngữ Văn 9?



    A. Viếng lăng Bác

    B. Con cò

    C. Sang thu

    D. Mùa xuân nho nhỏ

    Câu 2.

    Nội dung của đoạn văn trên là gì?



    1. Nêu hoàn cảnh sáng tác văn bản

    2. Nêu trình tự thời gian vào viếng lăng

    3. Nêu nội dung và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

    4. Nêu cảm xúc của tác giả

    Câu 3.

    Câu thơ “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi” đã sử dụng biện pháp tu từ nào?



    1. Ẩn dụ

    2. So sánh

    3. Nhân hóa

    4. Hoán dụ

    Câu 4.

    Hãy kể tên một văn bản cũng viết về Bác Hồ, nêu nội dung chính của văn bản đó?

    .................................................................................................................................................

    Câu 5.

    Em đã một lần vào lăng viếng Bác. Hãy viết một đoạn văn ghi lại lần trải nghiệm đó.

    .......................................................................................................................................

    Văn bản 3

    NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI

    Tôi, một quả bom trên đồi. Nho, hai quả dưới lòng đường. Chị Thao, một quả dưới chân cái hầm ba-ri-e cũ.

    Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.

    Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng...

    (Trích Những ngôi sao xa, Lê Minh Khuê)

    Câu 1.

    Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?

    A. Giới thiệu về công việc của ba cô gái trong tổ phá bom

    B. Miêu tả cảnh phá bom

    C. Giới thiệu nỗi vất vả của tổ phá bom

    D. Cảnh phá bom và tâm trạng của nhân vật tôi khi đi phá bom



    Câu 2.

    Điểm đặc sắc nhất về nghệ thuật trong đoạn văn trên là gì?

    A. Sử dụng các kiểu câu linh hoạt có ý nghĩa biểu đạt cao

    B. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế

    C. Cách kể chuyện xen lẫn miêu tả tự nhiên, sinh động

    D. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện hấp dẫn



    Câu 3.

    Từ ngữ gạch chân trong câu văn " Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt." có vai trò gì?



    1. Khởi ngữ đầu câu

    2. Kết nối với câu trước nó

    3. Thành phần chủ ngữ của câu

    4. Thành phần trạng ngữ của câu

    Câu 4.

    Hãy lựa chọn 2 từ ngữ trong số những từ ngữ sau đây để nói đúng về tâm trạng của nhận vật ”tôi” trong đoạn văn: hồi hộp, lo lắng, thảng thốt, lo âu, bình tĩnh, tự tin, thản nhiên, lạnh lùng.



    Câu 5.

    Cho câu văn sau:

    Trong bom đạn, giữa hiểm nguy, các cô gái thanh niên xung phong vẫn bình tĩnh, tự tin thực hiện công việc của mình.

    Lấy câu văn trên làm câu chủ đề, hãy hoàn thành đoạn văn (từ 7 đến 10 câu) dựa theo nội dung của đoạn trích trên.

    Văn bản 4

    CHIM ƯNG - CỖ MÁY SĂN MỒI

    Chim ưng là một cỗ máy hoàn chỉnh với cấu tạo cơ thể đáp ứng mọi yêu cầu về khí động học để trở thành loài chim săn mồi hung tợn và nhanh nhẹn nhất.



    Tốc độ kỉ lục mà loài chim này đạt được là 389km/g khiến chúng trở thành loài vật nhanh nhất trên hành tinh. Với những vạt lông vũ nhỏ ở cánh, chúng có thể dễ dàng thay đổi tốc độ và hướng bay. Những mẩu sụn tí xíu trong lỗ mũi có tác dụng như một màng ngăn giữ cho túi khí trong phổi khỏi bị vỡ tung khi bay với tốc độ lớn. Trọng lượng cơ thể không lớn do xương có cấu tạo rỗng nên chim ưng có thể bay lượn linh hoạt, trở thành sát thủ săn mồi trên mặt đất.

    Khả năng nhìn xa của chim ưng gấp ba lần người, đến mức có thể nhìn rõ một con chuột đang chạy ở khoảng cách 300m. Sở dĩ như vậy là vì trong khi số lượng tế bào trên một mm diện tích võng mạc của mắt người là 200.000 thì của chim ưng lên tới hơn một triệu. Chính vì thế, đôi mắt của loài chim này có khối lượng lớn hơn bộ não. Tất cả mối quan tâm của chim ưng chỉ là thức ăn. Cả đời chúng dành 90% thời gian đứng bất động để tiêu hoá những thứ đã ăn và tìm kiếm những con mồi mới. Không hót, không bay lượn vui đùa và chẳng thân thiện với người nuôi chim, âm thanh duy nhất mà chim ưng phát ra là tiếng “quác quác” mỗi khi người nuôi chim mang thức ăn đến chuồng nhốt.

    Từ xa xưa, chim ưng đã được nuôi và huấn luyện để trở thành những con chim săn mồi bằng cách tạo cho chúng thói quen được thưởng mỗi khi chúng hoàn thành nhiệm vụ. Người ta không bao giờ thả chim đã ăn no đi săn vì như thế rất có thể chúng sẽ không quay về nữa. Họ tính toán làm sao để lượng thức ăn vừa đủ tiêu hao hết và chim phải quay về lĩnh thưởng. Ngày nay, để kiểm soát những con chim ưng quý, người ta buộc vào chân chúng bộ phát sóng radio để theo dõi mỗi khi thả chim đi săn. (Nguồn: Popular Science - Báo Tia sáng số 6, ngày 22.10.2002)

    Câu 1.

    Văn bản trên đề cập đến nội dung nổi bật gì?

    1. Đặc tính của chim ưng

    2. Công dụng của chim ưng

    3. Sự hung bạo của chim ưng

    4. Sức mạnh của chim ưng

    Câu 2.

    Phương pháp trình bày nào không được sử dụng trong văn bản trên?



    1. So sánh

    2. Liệt kê

    3. Giải thích

    4. Định nghĩa

    Câu 3.

    Câu văn nào sau đây là câu bị động?

    A. Tốc độ kỉ lục mà loài chim này đạt được là 389km/g khiến chúng trở thành loài vật nhanh nhất trên hành tinh.

    B. Trọng lượng cơ thể không lớn do xương có cấu tạo rỗng nên chim ưng có thể bay lượn linh hoạt, trở thành sát thủ săn mồi trên mặt đất.

    C. Từ xa xưa, chim ưng đã được nuôi và huấn luyện để trở thành những con chim săn mồi bằng cách tạo cho chúng thói quen được thưởng mỗi khi chúng hoàn thành nhiệm vụ.

    D. Những mẩu sụn tí xíu trong lỗ mũi có tác dụng như một màng ngăn giữ cho túi khí trong phổi khỏi bị vỡ tung khi bay với tốc độ lớn.



    Câu 4.

    Liệt kê 3 chi tiết trong văn bản nói về đặc điểm của chim ưng, trong đó có sử dụng lối nói so sánh.

    .........................................................................................................................................

    Câu 5.

    Viết câu trả lời khái quát cho câu hỏi: "Tại sao chim ưng được gọi là cỗ máy săn mồi"?

    ................................................................................................................................

    2. Hướng dẫn biên soạn câu hỏi/bài tập gắn với đời sống thực tiễn

    Trong môn học Ngữ văn, để hướng tới mục tiêu dạy học theo quan điểm giao tiếp, gắn với thực tiễn, có thể tăng cường những câu hỏi/bài tập mang tính tình huống, giúp HS phát huy được sự trải nghiệm của cá nhân, tạo hứng thú và hiệu quả học tập cho các giờ học. Chẳng hạn, một số dạng câu hỏi, bài tập sau đây :

    - Xây dựng dự án học tập: Các dự án học tập là một hình thức hoạt động nhằm giúp HS có thêm những trải nghiệm đối với các vấn đề được học, đồng thời phát huy khả năng hợp tác, sáng tạo của HS trong học tập. Dự án học tập được thực hiện đối với những nội dung học tập mang tính thực tiễn, gắn với cuộc sống và những vấn đề HS quan tâm và mong muốn giải quyết.

    Trong môn học Ngữ văn, có thể yêu cầu HS xây dựng các dự án đối với một số nội dung học tập gắn với thực tiễn địa phương. Các dự án học tập là một hình thức hoạt động nhằm giúp HS có thêm những trải nghiệm đối với các vấn đề được học, đồng thời phát huy khả năng hợp tác, sáng tạo của HS trong học tập. Dự án học tập được thực hiện đối với những nội dung học tập mang tính thực tiễn, gắn với cuộc sống và những vấn đề HS quan tâm và mong muốn giải quyết.

    Chẳng hạn, để HS cảm nhận được rõ nét về vẻ đẹp của một miền đất cực nam của Tổ quốc và sự sinh động trong việc quan sát, miêu tả của tác giả, đối với những HS ở vùng đất Cà Mau, GV có thể cho các em trải nghiệm “tập làm nhà văn” bằng cách xây dựng các dự án: tìm hiểu về vẻ đẹp của sông nước Cà Mau và tìm hiểu về chợ Năm Căn. GV chia HS theo các nhóm, mỗi nhóm xây dựng kế hoạch tìm hiểu về đối tượng, chọn điểm nhìn để quan sát, ghi chép, trao đổi để thống nhất lựa chọn chi tiết và sắp xếp các chi tiết đặc trưng của đối tượng, từ đó báo cáo sản phẩm (bằng ngôn ngữ hoặc hình ảnh). Khi đã được trải nghiệm về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng sông nước Cà Mau, HS sẽ có dịp so sánh với tác phẩm của Đoàn Giỏi để có thêm những cảm nhận về văn bản, hình dung một cách rõ nét về những hình ảnh được tái hiện trong văn bản, bổ sung những vẻ đẹp của thực tế cũng như những gì chưa được đẹp trong cuộc sống hôm nay, từ đó xác định những gì mình có thể làm để góp phần giữ gìn, bảo vệ cảnh sắc thiên nhiên và nếp sinh hoạt của cuộc sống quê hương.

    Dự án học tập có thể được thực hiện dưới dạng một nhiệm vụ mang tính giả định. Chẳng hạn, với bài học Cây tre Việt Nam (Ngữ văn 6), có thể yêu cầu HS thực hiện nhiệm vụ sau:



    Giả sử em phải giới thiệu cho du khách nước ngoài hoặc những người chưa biết về cây tre Việt Nam, em sẽ nói những gì ? Hãy lập dàn ý, ghi lại những ý chính em định trình bày và tập nói cho bạn bè hoặc những người thân trong gia đình cùng nghe.

    - Chuyển thể văn bản: có thể chuyển thể các văn bản hoặc một nội dung văn bản theo hình thức: vẽ tranh, sáng tác thơ, nhạc, đóng kịch,… Hình thức chuyển thể văn bản tạo cho HS thêm các cơ hội để tiếp cận và trải nghiệm với văn bản, với con người, cuộc sống, với những nhân vật mà các em yêu thích. Đồng thời phát huy năng lực cảm thụ thẩm mĩ, thưởng thức văn học của HS.

    - Xây dựng các tình huống giao tiếp: có thể đưa ra các tình huống giao tiếp giả định, yêu cầu HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học về hội thoại để xây dựng các hội thoại phù hợp, hoặc đưa ra các đoạn hội thoại để HS chỉ ra các yếu tố hội thoại (phương châm hội thoại, hành động nói),… giúp tăng cường khả năng giao tiếp cho người học.

    - Đọc hiểu các văn bản gắn với những tình huống đặt ra trong cuộc sống: Các văn bản nhật dụng là các văn bản đề cập đến những vấn đề của thực tiễn đời sống, phù hợp với nhận thức của người học. Việc đưa ra các văn bản nhật dụng nhằm tăng cường kiểm tra năng lực nhận thức về những giá trị sống của HS, gắn với những tình huống ứng xử của cuộc sống. Việc ra các văn bản này vừa đánh giá khả năng đọc hiểu của HS vừa giúp HS làm giàu cảm xúc, tâm hồn mình, có kĩ năng sống tích cực.

    Chẳng hạn, có thể kiểm tra khả năng tiếp nhận văn bản của HS (lớp 9) như sau:

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

      CÂU CHUYỆN VỀ HẠT LÚA



    Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy.

    Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm: “ Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng ở khuất trong kho lúa để lăn vào đó. Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.

    Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng. Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì - nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới...

    (Hạt giống tâm hồn, NXB 2004)



    Câu 1.

    Văn bản trên có sự kết hợp những phương thức biểu đạt nào? Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thể hiện của văn bản trên là gì?

    .................................................................................................................................................

    Câu 2.

    Hình ảnh “Hạt lúa thứ hai dù tan nát trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hát lúa mới” gợi cho anh chị những suy nghĩ gì?

    .................................................................................................................................................

    Câu 3.

    Viết lại câu sau thành một câu đơn: “Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt”.

    .................................................................................................................................................

    Câu 4.

    Từ câu chuyện của hạt lúa thứ hai, em hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa đích thực của cuộc sống: không chỉ thu mình trong bỏ bọc bình yên mà phải biết vươn ra, chấp nhận thử thách, chông gai để đóng góp cho cuộc đời.

    .................................................................................................................................................

    Câu 5.

    Kể tên 1 văn bản ca ngợi ý chí, nghị lực con người. Nêu ngắn gọn nội dung tác phẩm đó ?

    .................................................................................................................................................
    3. Hướng dẫn biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực của các chủ đề trong chương trình GDPT cấp THCS hiện hành

    3.1. Quy trình biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực của một chủ đề

    Bước 1: Lựa chọn chủ đề: các chủ đề dạy học ở môn Ngữ Văn có thể căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Theo đó, Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn là 3 mạch nội dung lớn và cũng là 3 phân môn hợp thành của môn Ngữ Văn. Trong mỗi mạch nội dung này này lại có các chủ đề nhỏ. Ví dụ, mạch Tiếng Việt có thể phân tách ra các chủ đề nhỏ hơn như: Từ vựng; Ngữ pháp; Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ; Hoạt động giao tiếp; mạch Tập làm văn bao gồm: những vấn đề chung về văn bản, các kiểu văn bản,…; mạch Văn học bao gồm các tác phẩm sắp xếp theo cụm thể loại: truyện, thơ, nghị luận, nhật dụng,…

    Bước 2: Xác định chuẩn KT-KN cần đạt: Chuẩn kiến thức, kĩ năng được xác định căn cứ theo chuẩn được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành. Tuy nhiên khi xác định chuẩn theo chủ đề có thể cụ thể hoá hơn, gắn với những bài học/cụm bài học cụ thể. Trong một số chủ đề có thể xác định cả chuẩn thái độ. Theo định hướng hình thành và phát triển năng lực nên khi xác định chuẩn kiến thức kĩ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành và phát triển sau khi học chủ đề.

    Đối với môn Ngữ Văn trong chương trình phổ thông nói chung và môn Ngữ Văn ở bậc THCS nói riêng, khi đặt các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ trong mối quan hệ tích hợp có nghĩa là đã nhấn mạnh đến việc hình thành và phát triển các năng lực của học sinh. Tuy nhiên, khi xem xét đánh giá năng lực học tập Ngữ văn có thể có những cách hiểu khác nhau tuỳ theo phạm vi rộng hẹp của khái niệm. Trước hết, năng lực học tập Ngữ Văn được xác định là khả năng của mỗi học sinh thể hiện trong việc thực hiện những mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ mà các em đã có sẵn hoặc tiếp thu được và vận dụng trong quá trình học tập để từ đó hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn bao gồm: năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở bốn kĩ năng cơ bản (đọc, viết, nghe, nói); năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng (trong đó chú trọng tới việc giải quyết những tình huống thực tiễn).



    Bước 3: Lập bảng mô tả các mức độ đánh giá theo định hướng năng lực: bảng mô tả các mức độ đánh giá theo năng lực nhằm cụ thể hoá chuẩn KT-KN theo các mực độ khác nhau, nhằm đánh giá được khả năng đạt được của HS. Các mức độ này được sắp xếp theo các mức: nhận biết – thông hiểu – vận dụng thấp – vận dung cao. Khi xác định các biểu hiện của từng mức độ cần chú ý đến hướng phát triển của HS qua từng mức độ, để đến mức độ vận dụng cao chính là HS đã thể hiện một cách rõ nét nhất những năng lực cần thiết theo chủ đề.

    Để hướng tới việc đổi mới đánh giá theo định hướng năng lực, giáo viên cần lưu ý những vấn đề sau:

    1) Vì các mạch cụ thể (Đọc hiểu, Tiếng Việt, Làm Văn) trong môn Ngữ văn không học một cách riêng rẽ mà thường được khai thác dựa trên các đoạn trích hoặc văn bản. Điều này không những giúp học sinh có kĩ năng đọc và tiếp nhận văn bản dưới góc độ ngôn ngữ, mà còn trang bị cho các em những hiểu biết tương đối hệ thống về các kiến thức làm văn (các vấn đề về tạo lập văn bản, các kiểu văn bản). Do đó, câu hỏi kiểm tra môn Ngữ văn theo định hướng chú trọng phát triển năng lực không nên chỉ dừng ở mức độ ghi nhớ, tái hiện các khái niệm lí thuyết thuần tuý mà cần yêu cầu học sinh nhận diện chúng trong các tình huống cụ thể , hiểu ý nghĩa sử dụng của chúng trong đoạn trích hoặc văn bản.

    2) Năng lực Ngữ văn của học sinh thể hiện ở kết quả thực hành các kĩ năng mà học sinh có được từ các bài học (được soi sáng bởi những kiến thức, những vấn đề có tính chất lí thuyết). Những kĩ năng này không chỉ bộc lộ trong việc giải quyết các bài tập tích hợp của chương trình mà còn thể hiện trong việc ứng dụng vào các tình huống đa dạng của cuộc sống. Kĩ năng cơ bản của môn Ngữ văn mà học sinh cần đạt được chính là những kĩ năng vận dụng từ ngữ để đọc hiểu và tạo lập văn bản, kĩ năng giao tiếp... Các kĩ năng này không chỉ hình thành trong giờ học một phân môn cụ thể mà được rèn luyện, phát triển tổng hợp trong cả các giờ Đọc hiểu, Tiếng Việt và Làm văn. Do đó việc kiểm tra đánh giá năng lực học tập môn Ngữ văn lí tưởng nhất là thiết kế được một bài thực hành tổng hợp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận và tạo lập văn bản.



    3) Các câu hỏi kiểm tra cần chú trọng phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, chủ động của học sinh khi làm bài (hạn chế sử dụng các văn bản, các tình huống quá quen thuộc với HS, nếu sử dụng những văn bản này GV cần tìm tòi đổi mới trong cách thiết kế câu hỏi). GV cần tìm hiểu để xây dựng những tình huống giả định sát thực tiễn, lựa chọn những tình huống tạo được tính hấp dẫn, lôi cuốn với học sinh dựa trên những vấn đề vừa có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa giáo dục sâu sắc, vừa nằm trong phạm vi vấn đề mà học sinh quan tâm… tạo hứng thú và cung cấp thêm những thông tin bổ ích cho HS.

    Tham khảo cách mô tả các mức độ nhận thức sau đây:



    Mức độ Biết

    - Biết ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại. 

    - Những hoạt động tương ứng với mức độ biết có thể là xác định, đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên. 

    - Các động từ tương ứng với mức độ Biết: xác định, phân loại, mô tả, phác thảo, lấy ví dụ, liệt kê, gọi tên, giới thiệu/chỉ ra, nhận biết, nhớ lại, đối chiếu.

    - Các hoạt động trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ Biết

    + Vấn đáp tái hiện

    + Phiếu học tập 

    + Các trò chơi, câu đố có hướng dẫn trước

    + Tra cứu thông tin 

    + Tìm các định nghĩa



    Mức độ Hiểu

    - Hiểu là khả năng diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn. Dự đoán được kết quả hoặc hậu quả. Hiểu là mức độ khá gần với nhớ nhưng ở đây HS phải có khả năng hiểu thấu đáo ý nghĩa của kiến thức. Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó mà HS phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của mình. 

    - Những hoạt động tương ứng với mức độ hiểu có thể là diễn giải, tổng kết, kể lại, viết lại theo cách hiểu của mình.

    - Các động từ tương ứng với mức độ Hiểu: tóm tắt, giải thích, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng, diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại, lấy ví dụ.

    - Các hoạt dộng trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ Hiểu: Sắm vai tranh luận, Dự đoán, Đưa ra những dự đoán hay ước lượng, Cho ví dụ, Diễn giải,… 

    Mức độ Vận dụng thấp

    Năng lực sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác. Sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới.

    - Vận dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo. Tức là vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới. 

    - Vận dụng có thể được hiểu là khả năng sử dụng kiến thức đã học trong những tình huống cụ thể hay tình huống mới. 

    - Những hoạt động tương ứng với mức độ vận dụng có thể là chuẩn bị, sản xuất, giải quyết, vận hành hoặc theo một công thức. 

    - Các động từ tương ứng thể hiện mức độ Vận dụng thấp: giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, dự đoán, áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế , chứng minh

    - Các hoạt động trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ Vận dụng thấp:

    + Các hoạt động mô phỏng:  Sắm vai và đảo vai trò.

    + Sáng tác chuyện báo, quảng cáo …

    + Xây dựng mô hình

    + Phỏng vấn 

    + Trình bày theo nhóm hoặc theo lớp

    + Xây dựng các phân loại 

    Mức độ Vận dụng cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

    - Là khả năng phát hiện và phân biệt, hợp nhất các thành phần, rút ra kết luận, phán xét các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân tích, phân loại. 

    - Các hoạt động liên quan đến mức độ vận dụng cao có thể là vẽ biểu đồ, lập dàn ý, phân biệt hoặc chia nhỏ các thành phần, thiết kế, đặt kế hoạch, tạo hoặc sáng tác, biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận.

    - Các động từ tương ứng thể hiện mức độ Vận dụng cao: Phân tích, suy luận, lựa chọn, vẽ biểu đồ, phân biệt, đối chiếu, so sánh, phân loại, liên hệ, Xác định vấn đề, Đưa ra các suy luận, giả thiết, lập kế hoạch, tranh luận, kết luận



    Bước 4: Biên soạn bộ câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học mỗi chủ đề đã xác định theo các loại và các mức độ đã mô tả

    Để thực hiện tốt bước quan trọng này, GV cần xác định các hình thức/công cụ đánh giá (các dạng câu hỏi, bài tập): công cụ đánh giá bao gồm các câu hỏi/bài tập định tính, định lượng, nhằm cung cấp các bằng chứng cụ thể liên quan đến các chủ đề và nội dung học tập, tương ứng với các mức độ trên. Bên cạnh đó cần tăng cường các bài tập thực hành, gắn với các tình huống của cuộc sống, tạo cơ hội để HS được trải nghiệm theo các bài học.



    GV nên lựa chọn đa dạng các hình thức câu hỏi để góp phần thực hiện tốt mục đích đánh giá mà mình đặt ra đồng thời phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh khi làm bài. Việc biên soạn câu hỏi cần bám sát vào ma trận chủ đề đã thiết lập để thực hiện định hướng phát triển năng lực của học sinh.

    • Câu hỏi bài tập định tính và định lượng bao gồm:


    + Trắc nghiệm KQ (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại , chi tiết nghệ thuật, nhận biết các khái niệm, hiện tượng ngôn ngữ, đặc điểm của văn bản…

    + Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá về văn bản, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật…)

    + Bài nghị luận (trình bày cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân về một vấn đề liên quan đến văn bản, đến hiện tượng ngôn ngữ được đề cập…)

    + Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị tác phẩm…)


    • Các bài tập thực hành bao gồm:


    + Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)

    + Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề)



    + Bài trình bày miệng (thuyết trình, trình bày một vấn đề…)

    Để bám sát định hướng kiểm tra đánh giá chú trọng tới vấn đề phát triển năng lực của người học, khi biên soạn câu hỏi kiểm tra giáo viên cần chú ý đảm bảo tính tích hợp giữa ba thành tố kiến thức, kĩ năng, thái độ. Cần giảm bớt những câu chỉ hỏi các đơn vị kiến thức độc lập, tăng cường những câu đánh giá được cả năng lực đọc hiểu của học sinh bằng cách khai thác các văn bản ngữ liệu trong và ngoài sách giáo khoa.



    3.2. Câu hỏi bài tập minh họa theo các chủ đề

    3.2.1. Lớp 6 - Chủ đề: Truyện dân gian

    • Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chủ đề

    a) Kiến thức :

    - Hiểu được đặc trưng của các thể loại truyện dân gian (truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyên cười) qua các tác phẩm cụ thể.

    - Nắm vững giá trị nội dụng, nghệ thuật, ý nghĩa của các văn bản truyện dân gian (Việt Nam và nước ngoài).

    b) Kĩ năng :

    - Biết cách đọc- hiểu các thể loại truyện dân gian theo đặc trưng của từng thể loại.

    - Vận dụng kiến thức tổng hợp viết đoạn/bài văn tự sự.

    c) Thái độ :

    - Bồi dưỡng niềm tự hào đối với nguồn gốc giống nòi, với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ;

    - Biết cảm thông với số phận những con người bất hạnh ; biết tin vào đạo đức, công lí, lí tưởng nhân đạo, những khả năng kì diệu, siêu việt của con người ; sống yêu đời, lạc quan.


    • Bảng mô tả các mức độ đánh giá theo định hướng năng lực

    Nội dung

    Nhận biết

    Thông hiểu

    Vận dụng thấp

    Vận dụng cao

    - Thể loại văn bản

    - Đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật,...

    - Ý nghĩa nội dung

    - Giá trị nghệ thuật (chi tiết, hình ảnh, biện pháp,…)



    - Nhận biết các thông tin về tác phẩm, thể loại

    Hiểu đặc điểm thể loại truyện

    -Vận dụng hiểu biết về tác phẩm, thể loại để lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật của từng tác phẩm.

    - Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản

    Tóm tắt được cốt truyện, chỉ ra được đề tài, chủ đề của tác phẩm.

    - Lý giải sự phát triển của các tình tiết, sự kiện, tình huống

    So sánh giữa các tình tiết, sự kiện, tình huống trong cùng một tác phẩm hoặc giữa các tác phẩm cùng thể loại để chỉ ra điểm giống và khác nhau

    - Biết tự đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng một thể loại

    - Nhận diện thống nhân vật (nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính nghĩa- phi nghĩa)

    - Chỉ ra được nguồn gốc ra đời, đặc điểm tính cách, số phận của nhân vật, ý nghĩa

    - Từ cuộc đời, tính cách, số phận của nhân vật khái quát giá trị nội dung của tác phẩm, ý nghĩa tư tưởng mà tác giả gửi đến bạn đọc

    - Vận dụng tri thức đọc hiểu văn bản để kiến tạo những giá trị sống của cá nhân (những bài học rút ra và được vận dụng vào cuộc sống)

    - Chỉ ra các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật đặc sắc của mỗi truyện và các đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện.

    - Lý giải ý nghĩa, tác dụng của các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật trong tác phẩm

    - Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra điểm khác biết giữa các chi tiết trong cùng tác phẩm hoặc cùng thể loại










    - Đọc diễn cảm tác phẩm

    - Kể chuyện theo ngôi kể

    - Thuyết trình về tác phẩm


    - Kể sáng tạo

    - Chuyển thể văn bản ( thơ, kịch, vẽ tranh…)

    - Nghiên cứu KH, dự án


    Câu hỏi định tính, định lượng

    -Trắc nghiệm KQ (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại , chi tiết nghệ thuật…)

    - Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá…)

    - Bài nghị luận (trình bày cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân…)

    - Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị tác phẩm…)


    Bài tập thực hành

    - Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)

    - Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề)

    - Bài trình bày miệng (thuyết trình, kể chuyện, trình bày một vấn đề…)






    • Câu hỏi, bài tập minh hoạ

    Văn bản 1 : Con Rồng cháu Tiên


    Nhận biết

    Thông hiểu

    Vận dụng thấp

    Vận dụng cao

    - Truyện thuộc thể loại dân gian nào ?

    - Lạc Long Quân là con trai của ai ? Thuộc nòi gì ?

    - Âu Cơ là thuộc họ gì ?

    - Kể các chi tiết mang yếu tố kì ảo của truyện .




    - Vì sao tác giả dân gian đặt tên cho truyện là "Con Rồng cháu Tiên" ?

    - Em hiểu thế nào là chi tiết kì ảo ? Hãy nói rõ về vai trò của những chi tiết này trong truyện ?

    - Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và điều này có ý nghĩa gì ?


    - Lời dặn của Lạc Long Quân với Âu Cơ khi chia con : Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con vào núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển khi có việc thì giúp đỡ nhau, đừng quên hoạn nạn gợi nhắc cho chúng ta về truyền thống gì của dân tộc ?

    - Nêu ý nghĩa của truyện "Con Rồng cháu Tiên" ?




    - Các dân tộc ít người cũng có rất nhiều truyện giải thích về nguồn gôc dân tộc mình giống truyện "Con Rồng cháu Tiên" như : người Mường có Quả trứng tơ nở ra con người, người Khoe- mú có chuyện Quả bầu mẹ… Theo em, sự giống nhau ấy khẳng định điều gì ?

    - Kể lại truyện "Con Rồng cháu Tiên" theo lời kể của em. Qua đó, em hiểu gì về ý nghĩa của câu ca dao sau : "Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một nước phải thương nhau cùng".

    - Ngày 2/9/1945, khi đọc tuyên ngôn trên quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã nói "Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?". Vì sao từ "đồng bào" trong câu nó trên của Bác lại gây xúc động trong lòng người dân Việt Nam đến vậy ?

    Văn bản 2 : Thạch Sanh




    Nhận biết

    Thông hiểu

    Vận dụng thấp

    Vận dụng cao

    - Truyện thuộc thể loại dân gian nào ?

    - Thạch Sanh là do ai đầu thai xuống hạ giới ?

    - Ai là anh kết nghĩa của Thạch Sanh?

    - Kể ( ít nhất 2) chi tiết mang yếu tố kì ảo của truyện.




    - Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có gì khác thường ? Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, theo em, nhân dân muốn thể hiện điều gì ?

    - Truyện cổ tích thường xây dựng hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, hãy kể tên hai tuyến nhân vật này trong truyện « Thạch Sanh » ? – Trước khi được kết hôn với cong chúa, Thạch Sanh đã phải trải qua những thử thách như thế nào ? Chàng đã bộc lộ những phẩm chất gì qua những thử thách đó ?



    - Chi tiết : “Tiếng đàn của chàng (Thạch Sanh) vừa cất lên thì quân sĩ mười tám nước bủn rủn tay chân, không còn nghĩ được gì tới chuyện đánh nhau nữa” thể hiện khát vọng gì của nhân dân ?

    - Trong phần kết thúc truyện, mẹ con Lí Thông phải chết, còn Thạch Sanh thì kết hôn cùng công chúa và lên ngôi vua. Qua cách kết thúc ấy nhân dân ta muốn nói điều gì ?



    - Đóng vai nhân vật công chúa kể lại truyện Thạch Sanh.

    - Nếu em là Thạch Sanh em có tha chết cho mẹ con Lí Thông không ? Vì sao ?





    3.2.2. Lớp 7 - Chủ đề: Tập làm văn

    • Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chủ đề

    1. Kiến thức

    • Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản

    + Hiểu được khái niệm liên kết, mạch lạc, bố cục của văn bản

    + Hiểu vai trò của liên kết, mạch lạc trong văn bản



    • Các kiểu văn bản

    + Hiểu thế nào là văn biểu cảm

    + Hiểu vai trò của các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn biểu cảm

    + Nắm được bố cục, cách thức xây dựng đoạn và lời văn trong bài văn biểu cảm

    + Hiểu thế nào là văn nghị luận

    + Hiểu vai trò của luận điểm, luận cứ, cách lập luận trong văn nghị luận

    + Nắm được bố cục, phương pháp lập luận, cách thức xây dựng đoạn và lời văn trong bài văn nghị luận giải thích và chứng minh

    + Hiểu thế nào là văn bản kiến nghị, văn bản báo cáo

    + Nắm được bố cục và cách thức tạo lập văn bản kiến nghị và văn bản báo cáo

    + Nhận biết được đặc điểm thơ lục bát


    1. Kĩ năng

    + Biết vận dụng các kiến thức về văn bản vào đọc hiểu văn bản;

    + Biết các bước tạo lập một văn bản: định hướng lập đề cương, viết, đọc lại và sửa chữa văn bản

    + Biết viết bài văn, đoạn văn có bố cục mạch lạc và sự liên kết chặt chẽ

    + Biết vận dụng các kiến thức liên kết về mạch lạc bố cục vào đọc hiểu văn bản và thực tiễn nói

    + Biết viết bài văn đoạn văn biểu cảm

    + Biết trình bày cảm nghĩ về một sự vật, sự việc, con người có thật trong đời sống; về một nhân vật; một tác phẩm văn học đã học

    + Biết viết bài văn đoạn văn nghị luận

    + Biết trình bày miệng bài văn giải thích, chứng minh một vấn đề xã hội, văn học đơn giản, gần gũi

    + Biết viết kiến nghị và báo cáo thông dụng theo mẫu

    + Tập làm thơ lục bát



    • Bảng mô tả các mức độ đánh giá theo định hướng năng lực




    Mức độ

    Chủ đề

    Nhận biết

    Thông hiểu

    Vận dụng thấp

    Vận dụng cao

    1. Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản

    - Nhớ các khái niệm: liên kết, mạch lạc, bố cục của văn bản.

    - Nhớ được các bước tạo lập một văn bản.



    - Chỉ ra được những đặc điểm về liên kết, mạch lạc, bố cục của văn bản.

    - Chỉ ra được tác dụng, ý nghĩa của tính liên kết, mạch lạc trong một văn bản cụ thể.

    - Lập đề cương cho văn bản theo yêu cầu.


    - Viết đoạn văn có bố cục mạch lạc và sự liên kết chặt chẽ/Nhận xét về bố cục, liên kết, mạch lạc giữa các văn bản.

    - Nhận xét, so sánh về bố cục, cách triển khai bố cục của các văn bản.



    - Phát hiện, sửa chữa những lỗi về liên kết, mạch lạc trong văn bản.

    - Viết bài văn, có bố cục mạch lạc và sự liên kết chặt chẽ.




    2. Các kiểu văn bản


    - Nhớ các đặc điểm của văn biểu cảm.

    - Nhớ đặc điểm về bố cục, cách thức xây dựng đoạn trong văn bản biểu cảm.

    - Nhớ đặc điểm về văn nghị luận (luận điểm, luận cứ, cách lập luận…).

    - Nhớ các kiểu loại văn bản hành chính công vụ; cách thức tạo lập văn bản hành chính công vụ.




    - Chỉ ra được các yếu tố biểu cảm trong văn bản;

    - Chỉ ra được đặc điểm về bố cục, cách thức xây dựng đoạn trong một văn bản biểu cảm cụ thể.

    - Chỉ ra được luận điểm, luận cứ, cách lập luận trong một văn bản nghị luận cụ thể.

    - Chỉ ra được những đặc điểm về bố cục của văn bản hành chính công vụ.

    - Phát hiện và sửa những lỗi sai về văn bản hành chính công vụ.


    - Biết viết đoạn văn biểu cảm

    - Biết phân tích, lí giải so sánh về tác dụng của các yếu tố tự sự, miêu tả trong văn biểu cảm.

    - Triển khai được một luận điểm thành đoạn văn nghị luận.

    - Tạo lập được văn bản hành chính công vụ theo yêu cầu.



    - Biết viết bài văn biểu cảm.

    - Biết trình bày cảm nghĩ về một sự vật, sự việc, con người có thật trong đời sống.

    - Biết viết bài văn nghị luận.


    3. Hoạt động ngữ văn

    - Nhận diện được thể loại thơ lục bát.


    - Chỉ ra được một số đặc điểm chính của thơ lục bát.

    - Làm trọn vẹn hoặc làm tiếp nối được một số câu thơ lục bát.







    Câu hỏi định tính, định lượng

    -Trắc nghiệm khách quan (khái niệm liên kết, mạch lạc, đặc điểm của các kiểu loại văn bản…)

    - Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá…)

    - Bài nghị luận (phát biểu suy nghĩ, trình bày kiến giải riêng của cá nhân…)

    - Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị của văn bản dựa trên đặc trưng loại thể…)


    Bài tập thực hành

    - Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành của học sinh)

    - Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh các đặc điểm nổi bật của văn bản, của nhân vật theo chủ đề)

    - Bài trình bày miệng (thuyết trình, trao đổi thảo luận…)






    • Câu hỏi, bài tập minh họa

    Chủ đề 1: Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản


    Mức độ

    Chủ đề

    Nhận biết

    Thông hiểu

    Vận dụng thấp

    Vận dụng cao

    Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản



    - Vì sao giữa các câu, các đoạn trong văn bản cần phải có sự liên kết?

    - Em hiểu thế nào là bố cục của một văn bản?

    - Tính mạch lạc của văn bản thể hiện ở những đặc điểm nào?


    - Hãy chỉ ra tính liên kết của văn bản sau …?

    - Đọc kĩ văn bản sau (…) và xác định các phần của văn bản, nội dung chính của từng phần là gì?

    - Hãy chỉ ra tính mạch lạc của văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”


    - Hai đoạn trích sau (…) cùng nói về tình cảm của người con dành cho mẹ. Em thấy đoạn trích nào thể hiện rõ hơn tính liên kết? Vì sao?

    - Nếu phần thân đoạn được viết lại như sau (…), thì bố cục của văn bản có đảm bảo được sự rành mạch, hợp lí hay không? Vì sao?

    - Trong văn bản này (Cuộc chia tay của những con búp bê), tác giả đã không thuật lại tỉ mỉ nguyên nhân dẫn đến sự chia ta của hai người lớn. Theo em điều đó có làm cho văn bản thiếu mạch lạc hay không? Hãy viết 3-4 câu lí giải về quan điểm của em.


    - Viết một đoạn văn khoảng 5 câu với chủ đề tự chọn. Sau đó hãy chỉ ra tính liên kết của đoạn văn em vừa viết.

    - Hãy lựa chọn một bài viết văn gần đây nhất của em và đổi cho bạn cùng bàn. Cả hai đọc, nhận xét, nêu cách sửa những điểm hạn chế về bố cục bài viết của bạn.

    - Hãy sưu tầm, lựa chọn một văn bản ngắn (ngoài sách giáo khoa) khoảng từ 10-12 câu mà em cho rằng tác giả đã thể hiện rõ tính mạch lạc. Chỉ ra tác dụng cụ thể của tính mạch lạc đó đối với việc thể hiện nội dung văn bản.




    Поделитесь с Вашими друзьями:
  • 1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   21


    Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
    được sử dụng cho việc quản lý

        Quê hương