Bộ giáo dục và ĐÀo tạo trưỜng đẠi học sài gòn tài liệu học tập học phần tiếng việt thực hành



tải về 0.84 Mb.
trang6/8
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích0.84 Mb.
#3311
1   2   3   4   5   6   7   8

3.2.3. Đúng về đặc điểm ngữ pháp

a. Đúng với khả năng kết hợp của từ

- Nghĩa của từ quy định khả năng kết hợp của chính nó.



Ví dụ 1: cỏ chết, trâu bò chết, xe chết máy, tên cướp đã chết... (+)

cỏ hi sinh, trâu bò hi sinh, tên cướp đã hi sinh... (-)

 vì hi sinh là từ được dùng để chỉ cho những cái chết của con người vì việc nghĩa.

Ví dụ 2:  rất cao, hơi lùn, đen quá, hơi trắng, đỏ quá... (+)

 vì cao, lùn, đen, trắng, đỏ là những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất so sánh được về độ.

rất cao kều, hơi lùn tịt, đen sì quá, hơi trắng lốp, đỏ lòm quá... (-)

 vì cao kều, lùn tịt, đen sì, trắng lốp, đỏ lòm là những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất ở mức độ tuyệt đối, cá biệt hóa không so sánh được.



Ví dụ 3: Các bông cúc trở nên tưng bừng nhảy múa dưới ánh nắng chói chang của mặt trời.

 Sau động từ trở nên chỉ có thể là tính từ chỉ kết quả biến hóa (trở nên đẹp hơn) chứ không thể là cụm động từ tưng bừng nhảy múa.

 Sửa:

Các bông cúc trở nên tươi đẹp hơn dưới ánh nắng chói chang của mặt trời.

Các bông cúc trở nên sinh động hơn dưới ánh nắng chói chang của mặt trời.

Ví dụ 4: Do lượng mưa năm nay kéo dài nên đã gây thiệt hại cho mùa màng (sai: lượng mưa không thể kéo dài).

Sửa: Do mùa mưa năm nay kéo dài nên đã gây thiệt hại cho mùa màng.



Do lượng mưa năm nay nhiều nên đã gây thiệt hại cho mùa màng.

b. Đúng với hệ thống, đúng với câu văn, mạch diễn đạt

- Các từ khi được dùng trong câu, trong văn bản, luôn luôn có mối quan hệ với nhau về ngữ nghĩa và ngữ pháp. Chúng nằm trong các mối quan hệ với những từ đi trước và những từ đi sau. Các mối quan hệ này có thể có cơ sở ngay trong bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp của mỗi từ và nó được thể hiện ra bằng sự kết hợp của các từ.



Ví dụ 1: “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”. (Hồ Chí Minh)

 Ở câu đầu, từ cho có quan hệ kết hợp với hai cụm từ đi sau là các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Ở đây không thể thiếu cụm từ thứ hai vì nếu như thế thì câu sẽ mang ý nghĩa khác.

 Ở câu hai, từ bóc lột cũng có quan hệ kết hợp với hai cụm từ đi sau là công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp mà một trong hai cụm từ này (thậm chí cả hai) có thể vắng mặt. Điều đó là do bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp khác nhau của hai từ bóc lột cho.

Ví dụ 2: Những bệnh nhân không cần phải mổ mắt, được Khoa Dược tích cực pha chế, điều trị bằng những thứ thuốc tra mắt đặc biệt.

 Đây là câu bị động, các từ ngữ trong câu không phù hợp về quan hệ kết hợp. Chỉ có thể viết: bệnh nhân được điều trị. Không thể viết: bệnh nhân được pha chế.

 Sửa: Những bệnh nhân không cần phải mổ mắt được Khoa Dược tích cực điều trị bằng những thứ thuốc tra mắt đặc biệt do Khoa pha chế.

- Khi xuất hiện trong câu, từ không phải là những đơn vị rời rạc được sắp xếp cạnh nhau một cách máy móc, mà ngược lại, từ được sắp xếp trong một chỉnh thể, mỗi một từ đều có sự tương hổ làm rõ cho nhau.



Ví dụ: Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

 Yếu tố ngữ âm của các từ láy được gạch dưới góp phần cộng hưởng cho cái không khí náo nức, vui tươi của buổi sáng mở đầu lễ hội.

3.2.4. Dùng từ thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản

Mỗi phong cách ngôn ngữ văn bản đòi hỏi và cho phép việc dùng những nhóm từ nhất định, tức là từ trong mỗi phong cách văn bản mang những đặc điểm nhất định.

- Văn bản khoa học: thuật ngữ khoa học xuất hiện với tần số cao, từ ngữ mang tính trừu tượng, đơn nghĩa, chính xác, trung hòa về sắc thái biểu cảm; không sử dụng các từ ngữ biểu thị tình thái chủ quan (ôi, chao, hỡi, à, ư, nhỉ...), không dùng từ địa phương, từ khẩu ngữ, không sử dụng các biện pháp tu từ (nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ...).

- Văn bản chính luận: thường sử dụng lớp từ ngữ biểu thị các khái niệm chính trị xã hội, từ ngữ mang màu sắc trang trọng, khách quan, có tính thuyết phục cao, có sử dụng các biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh).

- Văn bản văn chương: sử dụng mọi biến thể của từ ngữ, khai thác tối đa tính đa nghĩa của từ và các biện pháp tu từ. Trong văn bản văn chương, các từ chuyển nghĩa được sử dụng rất phổ biến. Những trường hợp dùng từ với nghĩa lâm thời cũng được khuyến khích sử dụng và nó được xem là sự sáng tạo của nhà nghệ sỹ.

- Văn bản báo chí: thường sử dụng từ ngữ có tính đại chúng, sử dụng những kết hợp từ ngữ mới lạ để thu hút sự chú ý của độc giả.

- Văn bản hành chính – công vụ: thường sử dụng từ ngữ ngắn gọn, dùng lớp từ ngữ hành chính, mang tính trang trọng, khách quan, khuôn sáo, từ ngữ đơn nghĩa; không sử dụng các từ ngữ biểu thị tình thái chủ quan, từ ngữ địa phương, từ khẩu ngữ, không dùng các biện pháp tu từ.

3.3. NHỮNG LỖI DÙNG TỪ THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH SỬA

3.3.1. Dùng từ sai vỏ ngữ âm

- Các lỗi này liên quan đến các lỗi về chính tả, viết sai hay đọc sai đều có thể làm người nghe, người đọc không hiểu hoặc hiểu sai từ ngữ đó.



Ví dụ: Đúng âm Không đúng âm

Xán lạn sáng lạng

(tươi sáng, đẹp đẽ) (vô nghĩa)

- Nguyên nhân: không hiểu chính xác nghĩa của từ, không phân biệt được các từ gần âm nhưng khác nghĩa, không nhớ hoặc không phân biệt được âm thanh và hình thức cấu tạo của từ. Dùng từ sai âm cũng có thể do thói quen phát âm tiếng địa phương. Để khắc phục tình trạng này, ngoài việc tìm hiểu tiếng Việt, người sử dụng ngôn ngữ còn cần phải tăng cường giao tiếp tiếng Việt đa lĩnh vực (đối thoại, nghe radio, ti vi, đọc sách báo…)

Ví dụ 1: Ông quyết tâm đem hết tài lực, chí lực ra để cứu nước cứu dân.

 Sai: nhầm lẫn các từ gần âm chí lựctrí lực.

 Sửa: thay từ chí lực bằng từ trí lực.

Ông quyết tâm đem hết tài lực, trí lực ra để cứu nước cứu dân.



Ví dụ 2: Đến khi ra pháp trường, anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn hiên ngang đến phút chót lọt.

 Sai: từ chót lọt dùng không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo.

Trong tiếng Việt, không có từ chót lọt, chỉ có một số từ như sau:

Chót: phần ở điểm giới hạn, đến đó là hết, là chấm dứt (màn chót của vở kịch, tin giờ chót...).

Trót: lỡ làm hoặc lỡ để xảy ra một việc không hay, sau đó thấy ân hận (trót đánh vỡ cái chén, trót hẹn vào sáng nay...).

Trót lọt: tiến hành xong một công việc sau khi đã trải qua khó khăn, cản trở (chuyến hàng đã chuyển đến nơi trót lọt...).

 Sửa: Đến khi ra pháp trường, anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn hiên ngang đến phút chót.

- Cách sửa:

+ Phải luôn có ý thức kiểm tra, sửa chữa.

+ Thường xuyên tra từ điển và ghi nhớ cách sửa lỗi chính tả.



3.3.2. Dùng từ sai do không hiểu nghĩa

a. Không chính xác về nội dung ý nghĩa cơ bản của từ

Ví dụ 1: Dù nhà trường đã có quy định gửi xe ở cổng song vẫn có nhiều sinh viên hiên ngang chạy xe vào thẳng kí túc xá.

 Sai: Ở câu này, ta thấy thái độ bất chấp quy định của nhà trường không thể coi là hiên ngang (tỏ ta đường hoàng, tự tin, không chịu cúi đầu khuất phục trước sự đe dọa).

 Sửa: từ dùng thích hợp là ngang nhiên (tỏ ra bất chấp mọi quyền lực, quy định, cứ làm theo ý mình, không chút e sợ).

Dù nhà trường đã có quy định gửi xe ở cổng song vẫn có nhiều sinh viên ngang nhiên chạy xe vào thẳng kí túc xá.



Ví dụ 2: Sau khi vợ mất được sáu năm, ông tái giá với một nữ đồng nghiệp.

 Sai: Người viết đã dùng sai từ tái giá một cách “hồn nhiên” vì không hiểu đúng ý nghĩa của từ và cách dùng. Từ này chỉ dùng cho nữ giới, không dùng cho nam giới.

 Sửa: thay từ tái giá bằng từ tục huyền.

Sau khi vợ mất được sáu năm, ông tục huyền với một nữ đồng nghiệp.



b. Không đúng về nghĩa biểu thái

Ví dụ: Dưới đầm lầy, những chú cá sấu đang nhe răng như chực đớp lấy bàn tay của những người chèo thuyền.

 Từ chú được dùng để gọi các con vật một cách thân thiện, âu yếm, khi chúng hoàn toàn vô hại với con người, còn khi chúng đang trong tư thế tấn công thì nét nghĩa biểu thị thái độ tình cảm âu yếm trở nên không phù hợp.

 Sửa: thay từ chú bằng từ con.

Dưới đầm lầy, những con cá sấu đang nhe răng như chực đớp lấy bàn tay của những người chèo thuyền.



3.3.3. Dùng từ sai về mặt ngữ pháp

a. Thừa từ hoặc thiếu từ

Ví dụ 1: Số người mắc và chết các bệnh truyền nhiễm đã giảm.

 Sai: thiếu từ .

 Sửa: Số người mắc và chết các bệnh truyền nhiễm đã giảm.

Ví dụ 2: Qua hai bảng trên cho ta thấy số bệnh nhân khám và điều trị tại nhà chiếm trên 50%.

 Sai: thừa từ qua hoặc từ cho.

 Sửa: bỏ đi một trong hai từ này.

Hai bảng trên cho ta thấy số bệnh nhân khám và điều trị tại nhà chiếm trên 50%.

Qua hai bảng trên, ta thấy số bệnh nhân khám và điều trị tại nhà chiếm trên 50%.

Ví dụ 2: Tránh dùng thừa từ trong một số trường hợp sau: thắng cảnh đẹp, bổ sung thêm, đặc trưng riêng, tác phẩm tuyệt tác, kiên trì giữ vững lập trường…; nhân dân ta phải đương đầu chống lại với kẻ thù hung bạo nhất…

b. Từ không đúng với đặc điểm từ loại của nó

Ví dụ 1: Ở cơ quan tôi, anh ấy là người rất là năng lực.

 Sai: từ năng lực là danh từ nên không thể kết hợp với phụ từ chỉ mức độ rất là.

 Sửa: Ở cơ quan tôi, anh ấy là người rất có năng lực.

Ví dụ 2: Hình tượng anh bộ đội trong truyện mang những phẩm chất cao quý và tốt đẹp của nhân văn.

 Sai: Nhân văn là một tính từ với nghĩa “thuộc về văn hóa của loài người” nên không thể kết hợp tốt đẹp của nhân văn.

 Sửa: Hình tượng anh bộ đội trong truyện mang những phẩm chất cao quý và tốt đẹp của nhân loại.

c. Không phân biệt đúng đặc điểm kết hợp khác nhau của các từ khi chúng có quan hệ đến một thành phần chung

Ví dụ: Chúng tôi chúc mừng và tự hào chiến công của các anh.

 Sai: từ tự hào không thể kết hợp trực tiếp được với từ chiến công (từ chúc mừng thì được).

 Sửa: thêm từ về vào sau từ tự hào.

Chúng tôi chúc mừng và tự hào về chiến công của các anh.



3.3.4. Dùng từ không hệ thống

- Khi dùng từ, người viết cần chú ý đến sự thống nhất của các từ ngữ về trường nghĩa, về phong cách văn bản, về sắc thái chuyên môn, nghề nghiệp, về sắc thái địa phương hay sắc thái lịch sử... Từ ngữ trong câu, trong văn bản đều có mối quan hệ trong một hệ thống nhất định, chệch khỏi hệ thống, nhiều khi dẫn đến phạm lỗi.



Ví dụ: Họ thường xuyên đến thư viện để đọc các loại sách báo, tạp chí, tranh ảnh.

 Sai: Ở câu này, ta có thể “đọc” hoặc “xem” sách báo, tạp chí nhưng không thể “đọc” tranh ảnh.

 Sửa: Họ thường xuyên đến thư viện để đọc các loại sách báo, tạp chí và xem các loại tranh ảnh.

3.3.5. Dùng từ sai phong cách

Lỗi này do người viết dùng từ không đúng phong cách ngôn ngữ của văn bản. Thông thường, đây là lỗi đưa các từ khẩu ngữ vào trong văn bản viết (nói như viết) hoặc dùng từ không phù hợp với kiểu văn bản.



Ví dụ 1: Truyền hình tuy có lợi nhưng đôi khi cũng rất có hại, ăn thua là chúng ta biết sử dụng nó hay không.

 Sai: từ ăn thua thường chỉ được dùng trong giao tiếp hàng ngày, sắc thái biểu cảm suồng sã, không trang trọng. Vì vậy, ở đây nó không thích hợp với phong cách viết.

 Sửa: có thể thay từ ăn thua bằng các tổ hợp từ như quan trọng là, vấn đề là... Viết lại như sau: Truyền hình tuy có lợi nhưngđôi khi cũng rất có hại, vấn đề là chúng ta biết sử dụng nó hay không.

Ví dụ 2: Chúng tôi xin phiền các anh ở Sở giải quyết cho ngay vấn đề nói trên.

 Sai: xin phiền, các anh ở Sở, cho ngay vấn đề nói trên là những từ khẩu ngữ, chỉ dùng trong nói năng thường ngày, không thể dùng trong văn bản hành chính.

 Sửa: thay xin phiền bằng đề nghị; các anh ở Sở bằng Lãnh đạo Sở và các phòng ban chức năng; cho ngay vấn đề nói trên bằng sớm giải quyết vấn đề đã trình bày. Ta viết lại như sau:

Chúng tôi đề nghị Lãnh đạo Sở và các phòng ban chức năng sớm giải quyết vấn đề đã nêu ở trên.

3.3.6. Dùng từ sáo rỗng, quá lời, công thức

Trong khi sử dụng từ ngữ để giao tiếp, để đạt hiệu quả cao hơn, người ta thường nhấn mạnh hoặc trau chuốt từ ngữ. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận sẽ dễ bị rơi vào trường hợp sáo rỗng, công thức hoặc quá lời. Bệnh sáo rỗng, công thức dẫn đến những câu văn “đao to búa lớn” mà chung chung, nghèo nàn. Hậu quả là người nghe, người đọc không tin hoặc có thể nghi ngờ thông tin, cảm xúc của người nói, người viết.



Ví dụ 1: “Anh là một nhà thơ vĩ đại đã viết nên những tác phẩm tuyệt diệu với một nội dung trữ tình sâu sắc, một hình thức nghệ thuật điêu luyện, xứng đáng ở đỉnh cao chói lọi trên văn đàn thơ ca rực rỡ của dân tộc”. Đoạn văn trên chứa đựng rất nhiều tính từ có tính chất so sánh cực đại mà thiếu đi những thực chứng khiến người nghe có cảm giác người viết đang đại ngôn.

Ví dụ 2: Cám ơn chiến tranh! Nhờ chiến tranh, chúng ta mới có những anh hùng!

 Ở câu thứ nhất, người đọc sẽ cảm nhận được cách dùng từ sáo rỗng ở chỗ: đối với mỗi con người bình thường, chiến tranh là điều không ai mong muốn. Và một điều chắc chắn là cũng chẳng ai mong bản thân mình, người thân, đồng bào hi sinh sinh mạng để được tôn vinh là anh hùng. Câu nói trên có thể làm người ta hiểu là người viết rất thích, rất muốn, thậm chí là rất biết ơn chiến tranh.

 Trong trường hợp này, chúng ta không thể nêu ra một cách sửa vừa đảm bảo từ dùng chính xác, vừa trung thành với ý ban đầu của người viết.
Chương 4

LUYỆN KĨ NĂNG CHÍNH TẢ
4.1. NGUYÊN TẮC CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

4.1.1. Chữ cái

- Chữ viết tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ) thuộc loại hình chữ viết ghi âm âm vị (mỗi âm vị được ghi bằng một chữ cái) trên cơ sở sử dụng hệ thống chữ cái Latin. Chữ viết tiếng Việt gồm các chữ cái sau: a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư v, x, y và bổ sung thêm 4 mẫu tự f, j, w, z

- Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên chữ viết tiếng Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu: ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng.

4.1.2. Chính tả

a. Khái niệm chính tả

- Chính tả là việc viết đúng chữ viết theo chuẩn mực: viết đúng các âm, các thanh trong âm tiết, viết hoa, viết các chữ số, viết các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài.

- Chính tả phải dựa trên chuẩn mực về ngữ âm và theo những quy tắc trong một hệ thống chữ viết.

b. Đặc điểm chính tả tiếng Việt

- Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính: các đơn vị âm tiết (tiếng) được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói, vì thế, khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được tách rời, cách biệt nhau.

- Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết.

+ Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt: rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau:





Thanh điệu

Phụ âm đầu

Vần

Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của bất kì âm tiết nào.

+ Cách xác định kí hiệu ghi âm chính trong chữ: đặt chữ vào khuôn âm tiết.

Ví dụ:

Chữ


Phụ âm đầu



Vần

Thanh điệu



Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

à







A




huyền

án







A

N

sắc

oản




O

A

N

hỏi

toàn

T

O

A

N

huyền

quên

Q

U

Ê

N

ngang

nghĩa

NGH




IA




ngã

ngoại

NG

O

A

I

nặng


c. Nguyên tắc chính tả tiếng Việt

c1. Nguyên tắc ngữ âm

- Chữ viết phải theo đúng chuẩn ngữ âm. Trường hợp bị xem là sai chính tả là khi ta viết theo cách phát âm địa phương hoặc viết theo cách phát âm cá nhân.

- Phải viết chữ theo những quy tắc chung của chữ Việt hiện nay vì đó là những quy tắc được hình thành theo sự kết hợp các âm, các thanh hoặc các chữ cái.

c2. Nguyên tắc ngữ nghĩa

- Chữ viết tiếng Việt không theo nguyên tắc ghi ý, không phụ thuộc vào ý nghĩa của từng từ hay từng tiếng mà tùy thuộc vào thành phần âm thanh của từ ngữ.

- Tuy nhiên, khi cần xác định chính tả ở những trường hợp mà hai hoặc nhiều khả năng đều có thể chấp nhận về ngữ âm và chữ viết, ta có thể căn cứ vào ý nghĩa của từ hay tiếng cần biểu đạt mà quyết định.

 căn cứ để định đoạt cách viết cho đúng ở những trường hợp trên chính là nguyên tắc ngữ nghĩa.



Ví dụ: hươu con hươu (một loài động vật).

hưu nghỉ hưu (thời kì được nghỉ làm việc do tuổi cao, sức yếu).

4.2. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

4.2.1. Quy định viết các âm tiết tiếng Việt

Viết đúng cách viết chính tả hiện hành (về cơ bản, theo như trong Từ điển chính tả phổ thông), chú ý các trường hợp viết i hoặc y:

- Trong các âm tiết mở (có phụ âm đầu và i xuất hiện với tư cách là phần vần của âm tiết), viết là i.



Ví dụ: hi vọng, vật lí, kĩ thuật, tâm lí, mĩ học...

- Trường hợp một âm tiết độc lập (i hoặc y với tư cách là một tiếng độc lập), cần phân biệt:

+ Trong các từ Hán Việt, viết là y như: y sĩ, ý nghĩ, ý tứ...

+ Trong các từ thuần Việt, viết là i như: ì ạch, ỉ eo, í a í ới...

- Trong họ, tên người: giữ nguyên cách viết cũ hoặc cách viết theo đề nghị của đương sự (nếu có).

Ví dụ: Nguyễn Dy Niên, Lý Đình...

- Các trường hợp khác: viết như các vần vốn có trong tiếng Việt.



Ví dụ: + viết uy (quý, thuý, tuy...) phân biệt với ui (bùi, cùi, dúi...).

+ viết uyt chứ không viết uit (quýt, quỵt...).



4.2.2. Quy định viết tắt

- Hiện nay, trên sách báo, có hai cách viết tắt:

+ Viết tắt theo từ: là cách viết giữ lại chữ cái đầu tiên trong âm tiết thứ nhất của mỗi từ, các chữ còn lại bị lược bỏ.

Ví dụ: Kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS)...

 Cách viết tắt này lược bỏ nhiều chữ cái, khó phục hồi nguyên dạng khi đọc nên không phổ biến.

+ Viết tắt theo âm tiết: là cách viết giữ lại chữ cái thứ nhất của mỗi âm tiết, các chữ cái còn lại bị lược bỏ.

Ví dụ: Ủy ban nhân dân (UBND), Đại học Sư phạm (ĐHSP)...

 cách viết tắt này rất phổ biến.

Lưu ý:

Khi viết tắt, ta cần chú ý đến mấy điểm sau:

- Phải dùng mẫu tự in hoa, trừ chữ cái viết phụ.

Ví dụ: TT (Tổng thống), Ttg (Thủ tướng)...

- Sau chữ cái viết tắt không dùng dấu chấm, trừ trường hợp chữ viết tắt chỉ có một chữ cái hay chữ viết tắt họ tên người.



Ví dụ: Ô. (Ông), Q. (Quyền), M. Gorky...

- Không viết tắt tên gọi xuất hiện lần đầu trong văn bản mà phải viết dạng đầy đủ và ghi chú chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Từ lần xuất hiện thứ hai trở đi, ta mới viết tắt.



4.2.3. Quy định viết ngày, tháng, năm

- Viết ngày, tháng, năm trong văn bản hành chính: ngày từ 1 đến 9, tháng 1 và 2, phải thêm số “0” vào trước.

- Ghi ngày, tháng, năm ban hành văn bản: ghi rõ các chữ ngày, tháng, năm; không được viết tắt bằng dấu gạch nối hoặc gạch xiên.

Ví dụ: Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 03 năm 2010.

- Những trường hợp còn lại: có thể viết tắt các chữ ngày, tháng, năm bằng dấu gạch nối hoặc gạch xiên.



Ví dụ: ngày 05 – 09 – 2007; ngày 05/ 09/ 2007; …

4.2.4. Quy định viết hoa tên riêng Việt Nam

a. Tên người

Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết. Ta có các trường hợp sau:

- Tên người thông thường (bao gồm cả tên hiệu, tên tự, bút danh...):



Ví dụ: Trần Phú, Nguyễn Đình Chiểu, Hữu Thỉnh, Tố Như...

- Tên gọi vua chúa, quan lại, trí thức thời phong kiến được cấu tạo theo kiểu danh từ chung (đế, vương, tông, tổ, hầu, tử, phu tử...) kết hợp với danh từ riêng:



Ví dụ: Hưng Đạo Vương, Mai Hắc Đế, La Sơn Phu tử...

- Tên người cấu tạo bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung (ông, bà, thánh, nghè, cử, tú, đồ, đề, đội...) với bộ phận tên gọi cụ thể:



Ví dụ: Ông Gióng, Tú Xương, Đồ Chiểu...

- Tên các nhân vật trong tác phẩm văn học:



Ví dụ: Chí Phèo, Phương Định, Nhĩ...

- Tên dân gian thường gọi hoặc suy tôn đối với một nhân vật nổi tiếng:



Ví dụ: Bà Chúa Thơ Nôm, Bà Huyện Thanh Quan, Ông Già Bến Ngự...

- Tên người một số dân tộc thiểu số trong nước nếu được phiên âm thì viết hoa chữ cái đầu mỗi bộ phận của tên, giữa các âm tiết có thể dùng dấu gạch nối: Y Ngông – Niê Kđăm, Y’Bí A-lê-ô…

- Tên người nước ngoài:

+ Phiên âm qua Hán – Việt thì viết như tên người Việt Nam. Ví dụ: Đỗ Phủ, Lỗ Tấn, Mao Trạch Đông…

+ Phiên âm qua tiếng Việt thì cách viết như viết tên người dân tộc thiểu số: Valađimia I-Lích-Lê-Nin, Phiđen Cat-xtơ-rô…

b. Tên địa lí

Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết. Ta có các trường hợp sau:

- Tên địa lí thông thường:



Ví dụ: Hà Nội, Sa Pa, Cần Thơ...

Lưu ý các trường hợp:

+ Các từ chỉ đơn vị hành chính đi kèm theo tên riêng thì viết thường.

Ví dụ: xã (Trung Văn), thành phố (Hải Phòng)...

+ Riêng thành phố mang tên Hồ Chí Minh thì viết là Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tên địa lí được cấu tạo bằng danh từ chỉ hướng kết hợp với danh từ riêng:

Ví dụ: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Vàm Cỏ Đông...

- Tên địa lí chỉ vùng miền, khu vực nhất định, được cấu tạo bằng từ chỉ hướng kết hợp với từ chỉ hướng khác hoặc một danh từ chung nào đó:



Ví dụ: Tây Bắc, Nam Bộ, Đàng Trong, Đàng Ngoài...

Lưu ý:

Ngoài trường hợp trên, các danh từ chỉ hướng bắc, nam, đông, tây thì không viết hoa.

Ví dụ: Đi theo hướng tây.

Vợ hiền hòa, nhà hướng nam.

- Các tên địa lí được cấu tạo bằng cách kết hợp danh từ chung (sông, núi, hồ, bến, cầu, đảo, đèo...) với danh từ riêng (thường có một âm tiết) có kết cấu chặt hoặc đã trở thành một đơn vị hành chính:



Ví dụ: Hồ Gươm, Vàm Cỏ, Vũng Tàu...

Lưu ý:

+ Ngoài các trường hợp tương tự như trên, các danh từ như sông, núi, hồ, bến, cầu, đảo, đèo... đi kèm tên địa lí đều viết thường.

Ví dụ: sông (Hồng), núi (Tản Viên), bến (Nhà Rồng), châu (Á)...

+ Một số từ vốn là tên địa lí, nếu đã mất tính chất tên riêng trở thành tên chung chỉ chủng loại thì không viết hoa.



Ví dụ: Tên riêng Tên chung chỉ chủng loại

vua Xiêm vịt xiêm, dừa xiêm, chuối xiêm...

châu Phi cá trê phi, cá rô phi...

người Tàu mực tàu, gà tàu, miếu tàu, bún tàu...

c. Tên dân tộc

Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.

Ví dụ: Kinh, Tày...

d. Tên người, tên địa lí và tên các dân tộc thiểu số Việt Nam có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau)

Viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.

Ví dụ: Ê-đê, Chư-pa, Tà-ôi, Ba-na...

e. Tên cơ quan, đoàn thể tổ chức Việt Nam

Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng.

Ví dụ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Sài Gòn, Trung tâm Khoa học – Công nghệ sách giáo khoa, Nhà xuất bản Giáo dục...

f. Từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật, được dùng làm tên riêng của nhân vật

Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng.

Ví dụ: (chú) Chuột, (bác) Nồi Đồng, (cô) Chổi Rơm, (ông) Mặt Trời, (chị) Mây Trắng...

g. Các trường hợp khác

- Tên các tôn giáo, các dòng, phái tôn giáo: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.



Ví dụ: Tin Lành, Thiên Chúa, Cao Đài, Bà La Môn...

- Tên các năm âm lịch: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.



Ví dụ: Canh Tí, Giáp Dần, Mậu Thân...

- Tên của các ngày tết trong năm: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: (tết) Trung thu, (tết) Nguyên đán...

Lưu ý:

Ta chỉ viết hoa chữ Tết trong trường hợp dùng để thay cho một tết cụ thể.

Ví dụ: Sinh nhật của Thịnh vào đúng ngày 30 Tết.

- Các danh hiệu để tôn vinh, các huân chương, huy chương: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất của các bộ phận tạo thành tên riêng và viết hoa các từ ghi thứ hạng.



Ví dụ: Nhà giáo Nhân dân, Huy chương Kháng chiến hạng Nhất...

Lưu ý:

Các trường hợp không có nghĩa như trên thì không viết hoa.

Ví dụ: Nhiều cán bộ đã được tặng thưởng huy chương.

- Tên những sự kiện lịch sử: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất, trường hợp có các con số chỉ mốc thời gian thì ghi bằng chữ và viết hoa chữ cái đầu của nó.



Ví dụ: Cách mạng tháng Mười, Cách mạng tháng Tám...

- Tên các thời kì lịch sử, các phong trào, trào lưu có ý nghĩa quan trọng: Viết hoa chữ cái đầu tiên của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: (thời kì) Phục hưng, (phong trào) Thơ mới...

- Tên các chức vụ: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất của các bộ phận tạo thành.



Ví dụ: Tổng thống, Chủ tịch, Tổng Giám đốc, Tổng biên tập...

- Tên các chức quan ngày xưa: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: Hào trưởng, Thái sư, Tể tướng, Tư đồ...

- Tước vị hoặc từ chỉ địa vị xã hội thời phong kiến đi kèm theo tên người hay dùng để thay thế một người cụ thể: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: Công chúa Ngọc Hân.

Lưu ý:

Trường hợp không đi kèm tên người hoặc không chỉ một người cụ thể thì không viết hoa.

Ví dụ: Xưa, ở nước Anh, nhà vua sinh hạ được hai công chúa.

- Tên các kì thi thời phong kiến: Viết hoa chữ cái đầu.



Ví dụ: (thi) Hương, (thi) Hội, (thi) Đình...

- Tên học vị thời phong kiến: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: Bảng nhãn, Thám hoa, Trạng nguyên...

- Tên học vị, học hàm: Viết hoa chữ cái đầu khi biểu thị sự tôn trọng (gắn liền với chức vụ, cá nhân cụ thể).



Ví dụ: Giáo sư Hoàng Như Mai, Tiến sĩ Đoàn Hương...

Lưu ý:

Ta không viết hoa trong các trường hợp khác.

Ví dụ: 20 người có học hàm giáo sư.

- Tên tác phẩm, văn bản, các tiêu đề, chương, mục:

+ Đối với tên tác phẩm, văn bản, ta chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của tên gọi và cả tên gọi phải đặt trong ngoặc kép.

Ví dụ: “Người mẹ cầm súng”, “Tây tiến”, “Bến không chồng”...

+ Trường hợp tác phẩm do tên người, địa danh chuyển hóa tạo nên hay có chứa tên riêng thì các tên riêng phải được viết hoa như quy định.



Ví dụ: Lão Hạc, Hòn Đất, Rừng U Minh,…

- Tên các tờ báo, tạp chí, tập san, chuyên san: Viết hoa chữ cái đầu của các bộ phận tạo thành (nếu có tên riêng thì viết theo quy tắc viết tên riêng).



Ví dụ: (báo) Thanh niên, (báo) Phụ nữ Việt Nam, (tạp chí) Toán học và Tuổi trẻ…

- Tên các luật: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết đầu của mỗi bộ phận tạo thành.



Ví dụ: Luật Giáo dục, Luật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia Đình...

- Tên các niên đại, các ngành, các lớp động, thực vật: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: (đại) Cổ sinh, (kỉ) Đệ tứ, (bộ) Thân giáp...

- Các từ chỉ hành tinh (dùng như một thuật ngữ khoa học): Viết hoa các chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.



Ví dụ: Trái Đất, Sao Hôm, Mặt Trăng...

Lưu y:

Các trường hợp không có ý nghĩa như trên thì không viết hoa.

Ví dụ: Tia nắng mặt trời chiếu qua cửa sổ.

Ánh trăng chênh chếch.

- Tên chỉ ngành, cấp học, bậc học: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: (ngành) Giáo dục, (trường) Đại học, (bậc) Tiểu học...

- Tên các môn học, phân môn: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất.



Ví dụ: (môn) Toán, (môn) Tiếng Việt, (môn) Lịch sử...

Lưu y:

Các trường hợp không có ý nghĩa như trên thì không viết hoa.

Ví dụ: chính tả tiếng Việt, phương pháp toán trong Sinh học...

4.2.5. Quy định viết hoa tên riêng nước ngoài

a. Tên người, tên địa lí

- Trường hợp phiên âm qua âm Hán – Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí Việt Nam.



Ví dụ: Mao Trạch Đông, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần... (tên thông thường).

Đông Nam Á, Bắc Mĩ, Tây Âu... (tên riêng kết hợp với danh từ chỉ hướng, vị trí để tạo thành địa danh).

- Trường hợp phiên âm không qua âm Hán – Việt (phiên âm trực tiếp, sát cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết (dấu gạch nối được viết sát vào hai chữ cái trước và sau nó, không có dấu cách).



Ví dụ: In-đô-nê-xi-a, Lê-ô-na-đô đa Vin-xi, Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, An-be Anh-xtanh, Mát-xcơ-va...

Lưu y:

Một số tên riêng, tùy từng trường hợp, có thể dùng một trong hai cách trên.

Ví dụ: đội tuyển bóng đá I-ta-li-a, trục quân sự Đức – Ý – Nhật...

b. Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể nước ngoài

- Trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc viết tên cơ quan, đoàn thể Việt Nam (phần tên người, tên địa lí viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí nước ngoài).



Ví dụ: Viện Khoa học Giáo dục Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát-xcơ-va mang tên Lô-mô-nô-xốp...

- Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt. Tùy từng trường hợp, có thể ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc tên nguyên dạng không viết tắt (sau lần viết tắt đầu).

Ví dụ: WB (Ngân hàng thế giới), WB (World Bank)...

4.3. LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH SỬA

Có ba loại lỗi chính tả cơ bản, đó là sai về nguyên tắc chính tả hiện hành, sai cách phát âm chuẩn và sai vì không phân biệt được nghĩa của từ.



4.3.1. Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành

- Đây là loại lỗi do người viết không nắm được các đặc điểm và nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong tiếng Việt (đã trình bày ở mục II).

- Để khắc phục loại lỗi này, ta chỉ cần ghi nhớ và tuân thủ những đặc điểm và nguyên tắc kết hợp, quy tắc viết hoa của chữ Việt. Đặc biệt, ta nên căn cứ vào các quy định sau:

a. Quy định về việc viết phụ âm, nguyên âm

- Viết âm/ k/ theo quy định:

+ bằng chữ k khi đi trước các nguyên âm hẹp e, ê, i.

Ví dụ: kiến, kẻng, kềnh...

+ bằng chữ c khi đi trước các nguyên âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ươ, uô, ưa, ua. Ví dụ: con, cổng, cân...

+ bằng q khi đi trước âm đệm u.

Ví dụ: quan, quyên, quăng...

- Viết âm / / và âm / / theo quy định:

+ là gng khi đi trước các âm a, ă, â, o ô, ơ, u, ư, ươ, uô, ưa, ua.

Ví dụ: gà, gắng, nga, ngô...

+ là ghngh khi đi trước các nguyên âm i, e, ê, iê, ia.



Ví dụ: ghi, ghế, nghĩa, nghiên...

- Viết âm / u/ theo quy định:

+ bằng chữ u khi phụ âm đầu là q.

Ví dụ: quen, quốc, quân...

+ bằng chữ u khi đi trước các nguyên âm â, ê, y, ya, yê.



Ví dụ: huynh, khuya, huân, huê...

+ bằng o khi đi trước các nguyên âm a, ă, e.



Ví dụ: hoa, toét, khoăn...

- Viết nguyên âm đôi /ie/ theo quy định:

+ là khi âm tiết có âm đầu, âm cuối nhưng không có âm đệm.

Ví dụ: chiên, tiết, tiếng...

+ là ye khi âm tiết có thể không có âm đầu, âm đệm nhưng có âm cuối.



Ví dụ: yên, yết, chuyện...

+ là ia khi âm tiết không có âm đệm và âm cuối.



Ví dụ: tia, mía, chia...

+ là ya khi âm tiết không có âm cuối nhưng có âm đệm và âm đầu.



Ví dụ: khuya.

- Viết ngyên âm đôi /uo/ theo quy định:

+ là uo khi có âm cuối.

Ví dụ: tuổi, chuột, buồng...

+ là ua khi không có âm cuối.



Ví dụ: chùa, mua, thua...

- Viết nguyên âm đôi / / theo quy định:

+ là ươ khi có âm cuối.

Ví dụ: cưới, mượn, ưỡn ngực...

+ là ưa khi không có âm cuối.



Ví dụ: mưa, vừa, chứa...

b. Quy định về dấu thanh

- Khi âm chính là một nguyên âm đơn: dấu thanh phải đánh đúng chữ cái ghi âm chính (ở trên hoặc ở dưới).



Ví dụ: toàn, toạn, toản, toán...

- Khi âm chính là nguyên âm đôi thì:

+ Dấu thanh đánh ở chữ cái thứ nhất nếu âm tiết không có âm cuối.

Ví dụ: lúa, mía, nữa...

+ Dấu thanh đánh ở chữ cái thứ hai nếu có âm cuối.



Ví dụ: muốn, hưởng, luyện...

Lưu ý:

Các trường hợp dấu thanh đánh không đúng các quy định trên đều sai chính tả.

Ví dụ: qũy, múôn, hửơng...

4.3.2. Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn

- Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất. Chính tả tiếng Việt về căn bản là một chính tả thống nhất. Tuy nhiên, do tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ, nên bên cạnh tính thống nhất giữ vai trò chủ đạo, nó cũng có những nét dị biệt khá rõ ràng trong cách phát âm, cách dùng từ giữa các vùng. Điều này tạo ra ấn tượng mạnh mẽ về sự tồn tại trong thực tế ba “giọng” nói khác nhau: “giọng” miền Bắc, “giọng” miền Trung, “giọng” miền Nam, tương ứng với ba vùng phương ngữ theo cách chia tách của các nhà nghiên cứu là phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ.

- Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả. Có thể quy những lỗi này về ba dạng chủ yếu sau: viết sai phụ âm đầu, viết sai phần vần (kèm âm cuối), viết sai thanh điệu.

a. Viết sai âm đầu





LỖI

CÁCH SỬA

Kết hợp âm đệm

Láy âm

Từ vựng

1. Do không phân biệt L và N

- L đứng trước âm đệm. Theo thống kê, các vần có âm đệm trong tiếng Việt là: oa, oă, uâ, oe, uê, uy (lòa xòa, loắt choắt, lí luận, lóe sáng...).

- N thì không, trừ chữ noãn (nghĩa là trứng) trong noãn cầu, noãn sào.



- Trong từ láy phụ âm đầu, L thường chỉ láy với L (long lanh), tương tự N chỉ láy với N (náo nức).

- Ở từ láy bộ phận, L láy với nhiều phụ âm khác như:

+ L – B: lắp bắp, lõm bõm, lạch bạch...

+ L – C/ K/ Q: la cà, lỉnh kỉnh, luẩn quẩn...

+ L – D/ Đ: lim dim, lờ đờ, lục đục...

+ L – H: lúi húi, loay hoay...

+ L – M: lơ mơ, liên miên, lan man...

+ L – X: lao xao, lăng xăng, lèo xèo...

+ L – T: le te, lon ton, lung tung...

+ L – R: lai rai, lâm râm...

+ L – V: lởn vởn, lảng vảng, lặt vặt...

+ L – CH: lanh chanh, loắt choắt...

+ L – KH: lom khom, lọm khọm, lụ khụ...

+ L – NH: lải nhải, lí nhí, lăng nhăng...

+ L – NG: lơ ngơ, lêu nghêu, loằng ngoằng...

Trong khi đó, N chỉ láy với một số phụ âm:

+ KH – N: khúm núm...

+ GI – N: gieo neo, gian nan, giãy nảy...



Những từ có từ đồng nghĩa bắt đầu bằng NH thì viết âm đầu là L: nhài – lài, nhỡ – lỡ, nhầm – lầm, nhố nhăng – lố lăng, nhem nhuốc – lem luốc, nhoáng – loáng...

2. Do không phân biệt TRCH

TR không kết hợp âm đệm oa, oă, oe, uê (không viết loắt troắt, non troẹt).

- Từ láy phụ âm đầu phần lớn là CH, trong khi đó TR láy rất ít, có thể thống kê như sau: có nghĩa là trơ (trơ trụi), có nghĩa chậm trễ (trù trừ...), nghĩa khác (trối trăng, tròn trịa...).

- Trường hợp láy vần, TR láy rất ít (trót lọt, trọc lóc, trụi lũi, trẹt lét), còn lại đều viết CH phối hợp với các âm đầu khác với 2 vị trí sau:

+ Ở vị trí thứ nhất:

 CH – B: chơi bời, chèo bẻo, chẹp bẹp...

 CH – L: cheo leo, chìm lỉm, chói lọi...

 CH – M: chếch mếch, chào mào...

 CH – R: chộn rộn, chàng ràng...

 CH – V: chờn vờn, chơi vơi...

 CH – âm đầu ZÊ-RÔ: chình ình, chàng àng, chềnh ềnh...

+ Ở vị trí thứ hai: loắt choắt, lã chã, lởm chởm, lanh chanh, lỗ chỗ, lỏng chỏng...



- Các từ chỉ quan hệ thân thuộc viết bằng CH: cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chít, chút...

- Từ chỉ đồ dùng trong nhà thường viết bằng CH: chăn, chiếu, chõng, chày, chổi, chĩnh, chậu, chum, chạn... trừ cái tráp.

- Từ chỉ quan hệ ngữ pháp phủ định thường viết bằng CH: chẳng, chưa.

- Từ chỉ quan hệ ngữ pháp vị trí viết là TR: trên, trong.

- Các từ đồng nghĩa với các từ mở đầu bằng GI thì đều viết bắt đầu bằng TR: tranh – giành, trai – giai, trầu – giầu, trời – giời, trăng – giăng...

- Các từ Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với TR: trịnh trọng, giá trị, vũ trụ, truyền thống, phong trào, trần thế, trụy lạc, trạm xá, trầm tích, trường hợp, triệu phú...



3. Do không phân biệt X và S


- S không kết hợp với các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uê mà chỉ X mới kết hợp được (cây xoan, vòng xoáy, xoay xở, xuề xòa, xoen xoét...).

- Ngoại lệ: soát trong rà soát, kiểm soát...; soạn trong soạn bài, soạn giáo án...; soán trong soán đoạt, soán ngôi.



- Từ láy phụ âm đầu có tất cả các tiếng đều là X hoặc là S (xuýt xoa, suýt soát...).

- Từ láy bộ phận vần thường là chữ X (lao xao, lòa xòa trừ lụp xụp – lụp sụp...).



- Tên thức ăn, đồ dùng trong việc ăn uống thường viết X: xôi, xúc xích, lạp xưởng, thịt xá xíu...

- Những từ chỉ hơi đi ra viết X: xì, xẹp...

- Các danh từ còn lại phần lớn viết S:

+ Danh từ chỉ người: ông sư, bà sãi...

+ Danh từ chỉ động và thực vật: cây sen, hoa sứ, con sóc...

+ Danh từ chỉ đồ vật như cái sọt, song cửa, súc vải...

+ Danh từ chỉ các hiện tượng tự nhiên: sao, sương, sông...

 Ngoại lệ: chiếc xe, cái xuồng, cây xoan, cây xoài, trạm xá, xương, cái túi xách hay cái xắc (từ phiên âm gốc Pháp), bà xơ, cái xô (từ phiên âm gốc Pháp), cái xẻng, mùa xuân... Có thể nhớ phần lớn ngoại lệ này qua câu văn ngộ nghĩnh sau: Mùa xuân, bà đi xuồng gỗ xoan, mang một xắc xoài đến , đổi xẻngxưởng đem về cho trạm chữa xương.



4. Do không phân biệt R, D và GI

- R và GI không đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, uâ, uê, uy, còn D thì có thể (hậu duệ, doanh trại, vô duyên...). Ngoại lệ roa trong cu-roa – một từ phiên âm gốc Pháp.

- Trong từ Hán Việt, D đi với thanh ngã hoặc nặng (dưỡng dục); GI đi với thanh hỏi hoặc sắc (giáo, giả). Các tiếng Hán Việt không viết với R.



- GI, D đều có thể điệp âm đầu (ngoại lệ: giậm dọa).

- GI không láy với L, còn D thì có thể (lai dai, líu díu...).

- Nhiều từ láy thường bắt đầu bằng R:

+ mô phỏng tiếng động, tượng thanh: rì rào, rả rích, réo rắt, răng rắc, rào rào, rầm rập, rúc rích, róc rách, ra rả, rủng rẻng...

+ chỉ sự rung động ở nhiều cung bậc khác nhau: run rẩy, rung rinh, rập rình, rón rén, rạo rực, rộn ràng...

+ chỉ sắc thái ánh sáng động, tươi, chói: rần rật, rực rỡ, rạng rỡ, roi rói...






5. Do không phân biệt V và D




Trong các từ láy gợi âm thanh, ta chỉ thấy có âm đầu V (vo ve, vi vu, véo von, văng vẳng, vun vút, vùn vụt...) chứ không có D.

Trong các cặp từ gần nghĩa hoặc đồng nghĩa có sự chuyển đổi các cặp âm đầu sau:

- V – Q: vấn – quấn, vầng – quầng, …

- V – H: vớt – hớt, vẽ – họa, …

- V – B: vái – bái , vận – bận...

- V – M: vụ – mùa, vũ – múa, …

- V – Ph: ve vẩy – phe phẩy, vụt – phụt, …

- D – L: dát – lát, day – lay...

- D – Nh: dơ – nhơ, dịp – nhịp, …

- D – Đ: dĩa – đĩa, dao – đao, …




b. Viết sai vần (kèm âm cuối)

- ưuiu:

+ Vần iu: chỉ có một số từ (líu lưỡi, bĩu môi, địu gạo, ỉu xìu, chịu chơi, chịu đựng...) hoặc chỉ xuất hiện trong từ láy âm (phụng phịu, hắt hiu, dịu dàng, kĩu kịt, chắt chiu, ngượng nghịu...).

+ vần ưu: được dùng chủ yếu hơn (trừu tượng, bưu điện, hưu trí, sưu thuế, cựu sinh viên, trường cửu, nghiên cứu, tả hữu...).

- ươuiêu:

+ Vần ươu: chỉ xuất hiện một cách rất hạn chế (cái bướu, con hươu, con khướu, chai rượu...).

+ Vần iêu: được dùng chủ yếu hơn (hiếu chiến, diễu hành, quan liêu, tiêu thụ, chiếu chỉ, hiệu trưởng, ngân phiếu, tem phiếu...).

- ươiưi:

+ vần ưi: chỉ có ở vài từ (ngửi, hửi, chửi...).

+ vần ươi: được dùng chủ yếu hơn (tươi cười, tươi tắn, cái lưỡi, lưỡi trâu, miệng lưỡi...).

- uôi ui:

+ Từ láy âm không có vần uôi.

+ Từ đơn mang vần ui thường có nghĩa:

 Chỉ hành động hướng xuống dưới: chui, cúi, dúi, chúi...

 Chỉ hành động đẩy tới: xúi, ủi, dùi, chũi...

 Chỉ hành động rút lui: lủi, lùi, lui, lụi...

- iêm im, iếp ip, iêuiu:

+ Từ Hán Việt thường chỉ có các vần iêm, iêp, iêu (chiêm tinh, nhiếp ảnh, chiếm hữu, ưu điểm, siêu thị...).

+ Các từ gốc Việt thường có các vần im, ip, iu (chú thím, hẩm hiu, màu tím, ngượng nghịu, theo kịp...).

- Một số vần có phụ âm cuối là n, t, c, ng, nh, ch:

+ an, at với ang, ac:

 Các từ láy âm mà tiếng gốc đi sau thì có sự phối hợp hai vần anat (san sát, man mát, ran rát, nhàn nhạt...).

 Các từ láy âm mà tiếng gốc đi trước thì tiếng láy đi sau có vần ang (lỡ làng, nhẹ nhàng, muộn màng, phũ phàng...) hoặc vần ac (bàn bạc, xơ xác, đĩnh đạc, nguyệch ngoạc...).

+ Từ láy âm có sự phối hợp các phụ âm cuối n/ t, nh/ ch, ng/ c:

n/ t: vùn vụt, thoăn thoắt, sền sệt, bền bệt, biền biệt...



nh/ ch: bình bịch, thinh thích, khanh khách, trình trịch, chênh chếch, huỳnh huỵch...

ng/ c: răng rắc, dằng dặc, biêng biếc, hồng hộc, bàng bạc...

+ et với ec, eng với en:

 Vần et được dùng chủ yếu hơn (la hét, đường nét, khét lẹt, hạng bét, tái mét, lấm lét...); vần ec chỉ có vài từ (eng éc, chim kéc, cù léc, khẹc khẹc...).

 Vần eng thường có trong các từ tượng thanh (leng keng, lẻng xẻng, eng éc, xủng xoẻng...); còn các từ khác thường mang vần en (áo len, then cửa, xen kẽ, chen chúc...).

+ ăn với ăng, ăt với ăc:

 Phần lớn từ Hán Việt có vần ăc (bắc cực, đặc sắc, hải tặc...) mà không có vần ăt.

 Phần lớn từ phiên âm mang vần ăng, ăc (xe tăng, nhà băng, căng tin, ăng ten, đi văng, ắc quy, ga lăng...) mà không mang vần ăn, ăt.

c. Viết sai dấu thanh

- Nguyên nhân là do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã.

- Để khắc phục, ta có thể nhớ hai quy tắc nhỏ sau:

+ Trong các từ láy âm tiếng Việt có quy luật bổng trầm: Trong từ láy có hai tiếng thì cả hai tiếng hoặc đều là bổng hoặc đều là trầm; không có tiếng bổng láy với tiếng trầm và ngược lại. Hệ bổng gồm các thanh không, hỏi, sắc; hệ trầm gồm các thanh huyền, ngã, nặng. Có thể dễ dàng nhớ sự phân bố các thanh trong hai hệ này qua câu lục bát sau:

Chị Huyền mang nặng ngã đau

Hỏi không sắc thuốc lấy đâu mà lành.

Do đó, ta có thể áp dụng mẹo hài thanh trong từ láy: ở các từ láy âm, khi một tiếng mang thanh sắc hoặc thanh không thì tiếng kia viết với thanh hỏi (sắc sảo, hỏi han, vớ vẩn, đắt đỏ, bảnh bao, nhỏ nhen…); một tiếng mang thanh huyền hoặc thanh nặng thì tiếng kia viết với dấu ngã (đẹp đẽ, buồn bã, nũng nịu, hậu hĩnh, hãi hùng, mĩ miều, ngỡ ngàng...).

Lưu ý:

Mẹo này có mấy ngoại lệ cần nhớ: vỏn vẹn, ngoan ngoãn, khe khẽ, se sẽ, bền bỉ, hồ hởi, nông nỗi (nghĩa tương tự nỗi niềm), phỉnh phờ, ve vãn, ễnh ương...

+ Trong các từ Hán Việt, các tiếng bắt đầu bằng một trong các phụ âm m, n, nh, v, l, d, ng (mình nên nhớ viết liền dấu ngã) thì viết dấu ngã (mĩ lệ, thanh nhã, vĩnh viễn, lãnh tụ, dã man, ngôn ngữ, truy nã, nhã nhặn, phụ lão... trừ ngải trong ngải cứu); còn những từ bắt đầu bằng các phụ âm khác, hoặc không có phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi.

Lưu y:

Có khoảng trên 20 ngoại lệ trong trường hợp này như các từ sau: kĩ năng, bãi khóa, bĩ cực, phẫu thuật, linh cữu, tống tiễn, thực tiễn, hỏa tiễn, tiễu trừ, ấu trĩ, huyễn tưởng, tích trữ, hỗ trợ, hỗn chiến, hãm tài, phóng đãng, cùng quẫn, thư xã, hữu dụng, hữu phái, trì hoãn, công quỹ, cưỡng đoạt, tuẫn nạn, kĩ nữ, thi sĩ...

4.3.3. Lỗi chính tả do không phân biệt nghĩa

- Có thể nói tất cả các trường hợp sai chính tả còn lại đều là do người nói hoặc viết không phân biệt được nghĩa của từ.

- Để khắc phục lỗi này, ta bắt buộc phải hiểu rõ nghĩa của từ.

Ví dụ: Sai/ Say đều có nghĩa. Khi không phát âm phân biệt được i dài (y) và i ngắn (i) thì phải nhớ theo nghĩa mà viết cho đúng: sai lầm, sai bảo/ say nắng, say rượu, say mê...

Cau/ Cao cũng giống như trường hợp trên. Phải nhớ theo nghĩa mà viết cho đúng: quả cau, cau có, cây cau/ trời cao, cao su, cao hổ cốt...

Lưu ý một số nguyên tắc về việc rèn luyện chính tả:

- Hãy nghiêm khắc với mình trong ý thức chính tả. Đó là dấu hiệu đầu tiên của ý thức văn hóa.

- Hãy cảnh giác và chú ý phát hiện lỗi chính tả trên các văn bản gặp thường ngày. Khi nghi ngờ một chữ sai chính tả, phải truy tìm ngay hình thức chính tả đúng của nó trong Từ điển.

- Hãy nhớ mặt chữ từng chữ với nghĩa của nó trong văn bản. Đó là cách tốt nhất để viết đúng chính tả.

- Khi thực hiện văn bản viết tay, đừng viết ẩu làm người đọc nhận lầm chữ.



Ví dụ: dấu sắc đánh từ trái qua phải dễ ngang ra thành dấu huyền, chữ n viết gãy nét dễ đọc thành chữ u...

- Không được viết hoa một cách tùy tiện. Viết hoa không đúng chỗ có khi không chỉ sai chính tả mà còn sai ngữ pháp nữa vì khi thấy một chữ viết hoa, người đọc thường có tâm thế bắt đầu một câu (nếu trong mạch văn, chữ đó không phải là danh từ riêng hoặc một danh từ chung được viết hoa do tôn kính).

- Rèn luyện chính tả thường xuyên trong mọi tình huống đọc văn bản và tạo lập văn bản.

- Không nên nghĩ rằng mình thường xuyên viết sai vì lối phát âm địa phương mà sửa đúng thành sai. Hiện tượng này thường thấy ở những người có ý thức chính tả tốt nhưng chưa có kĩ năng sửa lỗi chính tả.

- Trong việc xác định hình thức chính tả, ta nên lấy Từ điển tiếng Việt phổ thông làm căn cứ xác định chuẩn.
Bài tập thực hành tại lớp

Hãy chỉ ra những chữ viết sai thanh điệu

1a. vỡ lẽ 1b. vở lẻ 2a. ầm ĩ 2b. ầm ỉ

3a. sợ hãi 3b. sợ hải 4a. hớt hải 4b. hớt hãi

5a. bổ bã 5b. bỗ bã 6a. lổ chổ 6b. lỗ chỗ

7a. lã chã 7b. lả chả 8a. mồ mã 8b. mồ mả

9a. lổ mãng 9b. lỗ mãng 10a. ngả ba 10b. ngã ba

11a. bổ dưỡng 11b. bỗ dưỡng 12a. ngả người 12b. ngã người

13a. vớ vẩn 13b. vớ vẫn 14a. xứ sở 14b. xứ sỡ

15a. ngủ ngôn 15b. ngũ ngôn 16a. lễ mể 16b. lễ mễ

17a. lãng đãng 17b. lảng đảng 18a. bãi bỏ 18b. bải bỏ

19a. âm ỉ 19b. âm ĩ 20a. giãy nảy 20b. giãy nãy

b. Mẹo về từ Hán Việt

Luật : Mình Nên Nhớ Viết Liền Dấu Ngã.

- Gặp một từ Hán Việt không biết viết ngã hay hỏi, ta viết ngã nếu từ ấy có phụ âm đầu là: M, N, Nh, V, L, D, Ng/Ngh.

Ví dụ:

- Mãn khóa, mãnh hổ, mẫn cảm, mẫu số, miễn phí, mĩ cảm…



- Truy nã, trí não, nỗ lực, não sào, nữ nhi…

- Thanh nhã, nhãn hiệu, nhẫn nại, ô nhiễm, nhũng nhiễu…

- Vãn cảnh, vãng lai, vĩnh viễn, vĩ tuyễn, vũ lực…

- Lãnh đạo, lãng mạn, lão thành, lễ độ…

- Dã man, dĩ nhiên, diễn đạt, bồi dưỡng…

- Bản ngã, ngôn ngữ, tính ngưỡng, đội ngũ, nhân nghĩa…

Ngoại lệ: hoài bão, cưỡng bức, linh cữu, chiêu đãi, kinh hãi, hãm hại, kiêu hãnh, thanh tĩnh, chim trĩ, mâu thuẫn, xã hội…

c. Mẹo về từ đồng nghĩa hay gần nghĩa

Luật “LÃI – LỜI – LỢI; TÁN – TẢN – TAN”

- Gặp một từ không biết viết hỏi hay ngã, ta viết ngã nếu từ đó đồng nghĩa hay gần nghĩa với một từ khác có dấu huyền hay dấu nặng.

Ví dụ:

- Dẫu – dầu, đã – đà, ngỡ - ngờ, lãi – lời, tán – tản – tan, mõm – mồm…



- Cỗi – cội, chõi – chọi, dễ - dệ, đỗ - đậu, giẫm – giậm, lãi – lợi, mẫu – mẹ…

Ngoại lệ: gõ – khỏ, lõm – lóm, rõ – tỏ…

- Gặp một từ không biết viết hỏi hay ngã, ta viết hỏi nếu từ đó đồng nghĩa hay gần nghĩa với một từ khác có dấu sắc hay dấu ngang…



Ví dụ:

- Bảo – báo, đả - đá, hả - há, lẻn – lén, phản – ván, phổi – phế, bản – vốn…

- Cản – can, chẳng – chăng, chửa – chưa, dải – đai, quẳng – quăng…

Ngoại lệ: bả - bà, chỉ - chị, lẽ - lí, cẩu – cậu, mở - mợ, ngoải – ngoài…

2. Lỗi về phụ âm đầu

a. Lẫn lộn L – N

- Mẹo về âm đệm: L có thể kết hợp được với âm đệm còn N thì không (trừ: noãn). Ví dụ: loan, luân, loe, lũy, loăn…

- Mẹo láy âm:

+ Khi ở vị trí thứ nhất trong từ láy âm, L có thể láy phụ âm đầu với các phụ âm khác còn N thì không.



Ví dụ: lắp bắp, lõm bõm, la cà, lục cục, lở dở, lim dim, lốm đốm, lờ đờ, liu hiu, lúi húi, lơ mơ, liên miên, lao xao, le te, lai rai, lởn vởn, loắt choắt, lăng nhăng, lom khom, lơ ngơ…

+ Khi ở vị trí thứ hai trong từ láy âm, N láy được với các tiếng có phụ âm đầu là Gi và zero: giãy nảy, gian nan, gieo neo, áy náy, ảo não, éo néo…



- Mẹo đồng nghĩa lài - nhài

Gặp một tiếng không biết viết với L hay N, những tiếng đó đồng nghĩa với một tiếng viết với NH thì tiếng đó phải viết với L.



Ví dụ: lặt – nhặt, lầm – nhầm, lem – nhem, lời – nhời, loáng – nhoáng, lanh – nhanh, lấp láy – nhấp nháy, lố lăng – nhố nhăng…

b. Lẫn lộn TR – CH

- Mẹo thanh điệu trong từ Hán Việt

Mẹo: “TRỪNG TRỊ

Những từ Hán Việt mang dấu nặng và dấu huyền đều chỉ đi với TR.

Ví dụ:

- Trịnh trọng, trị giá, trụy lạc, trục lợi, trụ sở, vũ trụ, trạm xá, hỗ trợ, triệu phú, trận mạc…



- Truyền thống, từ trường, trần thế, trù bị, trùng hợp, phong trào, lập trường, trầm tích…

- Mẹo láy âm

CH láy được với các phụ âm đầu với khác ở vị trí trước và sau.



Ví dụ: chơi bời, chẹp bẹp, chèo bẻo, cheo leo, chào mào, chàng ràng, choáng váng, chềnh ềnh…; loắt choắt, lau chau, lanh chanh, lã chã, loạng choạng

TR không láy âm đầu với các phụ âm khác trừ 4 ngoại lệ: trọc lóc, trụi lủi, trót lọt, trẹt lét.



- Mẹo đồng nghĩa “Tranh – Giành”

Gặp một từ chưa biết là viết với Ch hay Tr, nếu tiếng đó đồng nghĩa với một tiếng viết với Gi thì viết TR: tro – gio, trời – giời, trăng – giăng, tranh – gianh, tra – già, trùn – giun, trầu – giầu, trai – giai, trữ - giữ…



- Mẹo từ vựng

+ Mẹo cha – chú: những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết với Ch: cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chút, chít…

+ Mẹo chum – chạn: những từ chỉ đồ dùng trong gia đình thì viết Ch: chạn, chum, chai, chiếu, chăn, chõng, chày, chổi, chuồng, chĩnh, chậu, chóe…

Ngoại lệ: cái TRáp

- Mẹo âm đệm: Ch kết hợp được với âm đệm, Tr thì không: choảng, choáng váng, choàng, loắt choắt, chích chòe, cái chóe, nông choèn choẹt…

c. Lẫn lộn S – X

- Mẹo âm đệm

X kết hợp được với âm đệm còn S thì không: xoa, xoay, xoan, xoắn, xoăn, xòe, xoen xoét, xuề xòa, xuyên…



Ngoại lệ: soát, soạn, soạng.

- Mẹo láy âm

X có khả năng láy với các âm đầu khác còn S thì không: bờm xờm, lao xao, lòa xòa, xoi mói, xích mích, xo ro…



Ngoại lệ: cục súc, sáng láng, lụp sụp (lụp xụp).

- Mẹo từ vựng

+ Tên thức ăn, đồ dùng liên quan đến nấu nướng, ăn uống thì viết với X: xôi, xúc xích, xào, xa xíu, xoong, xiên…

+ Hầu hết các danh từ còn lại viết với S

 Danh từ chỉ người: sư, sãi, đại sứ, nguyên soái, sếp…

 Danh từ chỉ động thực vật: hoa sen, sứ, cây sim, sắn, hoa súng, cây sồi, cây sấu, con sên, sò, sến, sóc, sáo, sâu, sứa, sư tử, sán…

 Danh từ chỉ đồ vật: cái sọt, song cửa, sợi dây, viên sỏi, cái siêu, cái sàng…

 Danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên: sao, sương, sông, suối, sóng, sấm, sét…

Ngoại lệ: cái xe, cái xuồng, bà xơ, cây xoan, cây xoài, trạm xá, xương, túi xách (xắc), cái xô, cái xẻng, mùa xuân.

(Mùa xuân, bà xơ đi xuồng gỗ xoan mang một xắc xoài đến xã, đổi xẻng ở xưởng đem về cho trạm xá chữa xe).

d. Lẫn lộn R – D/GI

- Mẹo về âm đệm

R và GI không kết hợp với âm đệm, vì vậy khi gặp những vần oa, uâ, oe, uê, uy ta viết D.



Ví dụ: dọa nạt, hậu duệ, vô duyên, Lê Duẩn, du doe…

Ngoại lệ: roa (dây cu roa).

- Mẹo láy âm (“co ro bin rin”)

R láy với âm B và C: bịn rịn, bủn rủn, bứt rứt, bối rối, co ro, cập rập, cà rà, cẳn rẳn, kèo rèo, cọm rọm…

- Mẹo “Run rẩy – Rừng rực

 Những từ láy điệp âm đầu R mô phỏng tiếng động, tượng thanh: rào rạt, rì rào, rả rích, rì rầm, rúc rích, réo rắt, rào rào…

 Những từ láy điệp âm đầu R chỉ sự rung động ở nhiều cung bậc khác nhau: run rẩy, rung rinh, rón rén, rập rình, rạo rực…

 Những từ láy điệp âm đầu R chỉ những sắc thái ánh sáng động, tươi, chói: rần rật, rực rỡ, rừng rực, roi rói, rạng rỡ…



- Mẹo đồng nghĩa

R đồng nghĩa cùng gốc với L: lấp – rấp, lóc – róc, lỗ - rỗ, ngày mười lăm – ngày rằm, luyện – rèn, long – rồng…

R đồng nghĩa với từ cùng gốc với S: siết - riết, sắp - rắp, sáng - rạng, sẻo - rẻo…

3. Lẫn lộn về vần

a. Lẫn lộn –iêu / - iu / -ưu

Để khắc phục lỗi này cần nhớ là vần –IU chỉ xuất hiện trong một số từ: líu lưỡi, bĩu môi, ỉu xìu, địu con, và tiếng chịu trong các từ: chịu chơi, chịu đựng…



-Iu chỉ xuất hiện trong các từ láy âm (phụng phịu, dịu dàng, đìu hiu…)

Với từ Hán Việt luôn viết với –ưu hoặc iêu: trừu tượng, bưu điện, hưu trí, lưu lạc; hiếu chiến, diễu hành, hiệu trưởng, quan liêu…



b. Lẫn lộn –iêu/ -ươu/ -ưu

-ƯƠU chỉ xuất hiện hạn chế trong các từ: cái bướu, con hươu, chai rượu, con khướu.

- Các từ Hán Việt không viết với -ƯƠU


Bài tập thực hành tại lớp:

(1) Gạch dưới những từ viết sai và chữa lại cho đúng

-Không nên ngi ngờ nhau

-Ghanh đua là không tốt

-quận Ba đình, thành phố Hà nội

-Tác phẩm “tắt đèn” của nhà văn Ngô tất Tố

-Tôi hát nữa bài rồi không hát nữa

-Tôi không có tiền lẽ, lẽ ra tôi phải mang theo

-Cứ mãi chơi thì còn dốt mãi

-Tôi củng cố gắng nhưng vẫn không hiểu
(2) Điền L hoặc N vào chỗ trống

- …ông dân …àm việc …ặng nhọc

- Đường quốc …ộ I …ối …iền Hà …ội với Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Điền TR hoặc CH vào chỗ trống

- Bụi …e đã …e lấp cả mái nhà

- Nó …ả chịu …ả tiền

- Người …ồng đang lo …ồng cây.
(4) Điền S hoặc X

- Kiều càng …ắc …ảo mặn mà

- Đi khéo …ẩy chân …a …ống hố

- Ông …ay rượu đến nhà máy …ay...uýt nữa ngã quay.

- Hôm nay, có …úp, có …ôi, có lạp …ường, có thịt …á …íu, có miến

ào nóng …ốt, mời cậu học …inh …ơi tạm.


(5) Điền chữ trong ngoặc đơn vào chỗ trống

- Tôi …lấy cưa về … gỗ. (xẻ, sẽ)

- Tôi không hiểu … anh …nhãng việc học hành. (sao, xao)

- Nó … đến một quyển …toán. (sách, xách)

- Hình thù con cá … rất … (sấu, xấu)

- Những cây… mọc … giữa lau lác. (sen, xen)

- Nó cố gắng … vẫn không làm …bài. (xong, song)

- …này người ta …ngựa (dùng, vùng).

- …áo làm bằng … mỏng (giải, vải).

- Cây … này … mới có quả (dừa, vừa).
(6) Điền Gi hoặc D hoặc R vào chỗ trống

- …iễn ả nói rất hay.

- …ường như nó không ngủ trên …ường

- Văn học …ân …an.

- Nó hứa hẹn rất …ữ nhưng vẫn không …ữ kỉ luật.

- Công việc …ạo này bận …ộn

- Chúng tôi …ót …ượu mời ông …ám đốc.

- Gió thổi cành lá …ung …inh.


YÊU CẦU CỦA HỌC PHẦN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
I. NỘI DUNG BÀI HỌC

1. Rèn chính tả

- Quy định về chính tả hiện hành của ngành giáo dục, chú ý quy định về viết hoa, viết in hoa, viết tên riêng.

- Lỗi chính tả thông thường:

+ Phát âm địa phương.

+ Không hiểu được nghĩa của từ.

 nguyên tắc viết đúng chính tả là hiểu đúng nghĩa của từ.



2. Rèn từ ngữ

- Yêu cầu của việc sử dụng từ:

+ Đúng nghĩa.

+ Đúng sắc thái biểu cảm.

+ Đúng phong cách (khẩu ngữ, viết, hành chính, nghệ thuật).

 lấy hai đoạn văn nghệ thuật, khoa học cùng một đề tài, thực hành theo 3 nội dung này.



3. Rèn về câu

- Yêu cầu về sử dụng câu:

+ Dùng cấu trúc C – V theo ngữ pháp nhà trường.

+ C – V – Trạng ngữ – Đề ngữ – Các thành phần biệt lập.

+ Lưu ý: câu đơn, câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập (cực kì quan trọng).

 Viết câu phải có đầy đủ thành phần.

- Sửa lỗi câu:

+ Thiếu C (Ví dụ: Qua kinh nghiệm cho ta thấy, từ đó cho thấy …).

+ Thiếu V (Ví dụ: Những sinh viên đạt giải kì thi vừa qua …), cẩn thận trường hợp câu tĩnh lược.

+ Thiếu vế chính trong câu ghép chính phụ (dựa vào ngữ cảnh mà xét).

+ Lỗi logic của câu (Vừa về đến nhà, con chó vẫy đuôi mừng rỡ; Khi còn bé, mẹ thường dắt tôi đến trường).

* Lưu ý những câu có tiền giả định “nhưng”  phức tạp.



Ví dụ: Nhà anh nghèo nhưng tốt bụng.

 Nói như thế thì hóa ra các nhà nghèo khác lại không tốt bụng à?



4. Văn bản

- Đoạn văn:

+ Viết đoạn văn theo một chủ đề.

+ Hình thức đoạn văn: không cần đi vào đoạn văn diễn dịch, song hành … mà chỉ cần dạy cách lập luận (câu chủ đề đầu  diễn dịch, câu chủ đề cuối  quy nạp).

 Không dạy phân tích đoạn văn mà dạy sinh viên biết viết một đoạn văn hoàn chỉnh.

- Văn bản: Tập trung vào các phong cách:

+ Đơn từ (tính khuôn mẫu), chú trọng đơn tự viết.

+ Hợp đồng (mẫu đơn giản  phức tạp).

+ Lưu ý phong cách chính luận (phát biểu ý kiến, nêu thái độ).

+ Văn bản khoa học: mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục).



II. ĐỀ THI

- Thời gian: 90 phút.

- 4 nội dung:

+ Chính tả (2 đ): nhận diện đúng sai (chọn hình thức chính tả đúng và viết vào bài thi).

+ Từ (2 đ):

 Hiểu đúng nghĩa của từ (4  5 từ giải nghĩa để chọn đúng sai, Ví dụ: tiêu chí: …; tiêu chuẩn: …).

 Trích đoạn vài ba câu có từ dùng sai về sắc thái hoặc phong cách, yêu cầu sửa.

+ Câu (3 đ): Phân tích lỗi và sửa:

 2  3 câu sai lỗi ngữ pháp.

 1 câu sai lỗi logic.

+ Văn bản (3đ): Viết một văn bản chính luận (suy nghĩ, phát biểu ý kiến) khoảng 20 dòng về một chủ đề cụ thể.

Tính điểm học phần

- Chuyên cần: 0,1.

- Thảo luận: 0,1.

- Kiểm tra: 0,3.

- Thi kết thúc học phần: 0,5.





tải về 0.84 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương