Bộ giáo dục và ĐÀo tạo trưỜng đẠi học sài gòn tài liệu học tập học phần tiếng việt thực hành



tải về 0.84 Mb.
trang3/8
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích0.84 Mb.
#3311
1   2   3   4   5   6   7   8

(tên tác giả công trình)


KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ

THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)


LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN



HÀ NỘI - 2004





ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

(tên tác giả công trình)


KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 5.04.08

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS. Trần Trí Dõi

TS. Nguyễn Hữu Đạt

HÀ NỘI - 2004

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dẫn liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án
* Trang mục lục (ghi mục đề chính và số trang giúp người đọc dễ hình dung. Nên sắp xếp gọn trong một trang giấy).

b. Phần chính

* Phần mở đầu: chiếm 5% đến 10% công trình

- Lý do chọn đề tài: vì sao mình chọn đề tài này, do yêu cầu lí luận hay thực tiễn? Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa gì? (ý nghĩa lí thuyết và ý nghĩa thực tiễn)

- Lịch sử vấn đề nghiên cứu: điểm lại toàn bộ những công trình có liên quan đến đề tài mà luận văn nghiên cứu. Thực chất của vấn đề này là:

+ Nhìn lại những đóng góp của các tác giả đi trước về phương pháp nghiên cứu cũng như giải pháp cho những vấn đề cụ thể.

+ Nêu những giới hạn của các tác giả ấy về mặt lí thuyết cũng như thực hành.

+ Khẳng định đề tài nghiên cứu cho đến thời điểm bàn đến chưa có công trình nào nghiên cứu. Hoặc có nghiên cứu nhưng giải quyết theo hướng khác, chưa thỏa đáng, đầy đủ và toàn diện. Qua việc nhìn nhận những đóng góp và hạn chế của những tác giả đi trước để làm nổi rõ hơn tính thời sự cũng như ý nghĩa của luận văn, từ đó, xác định nhiệm vụ nghiên cứu cũng như hướng giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.

Có thể trình bày lịch sử vấn đề theo hai bình diện sau:

+ Trình bày vấn đề theo thời gian hay theo hệ quan điểm.

+ Trình bày lịch sử vấn đề chung cho toàn bộ đề tài nghiên cứu hay trình bày lịch sử vấn đề theo từng mặt.

- Mục đích nghiên cứu: là những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể mà người nghiên cứu coi việc hoàn thành chúng là mục đích cuối cùng.

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: chính là sự vật, hiện tượng hoặc vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu. Xác định đúng đối tượng, việc nghiên cứu mới đúng trọng tâm, không xa đề, lạc đề. Xác định đúng đối tượng mới xác định đúng phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu: mỗi đề tài cần có phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể.

Hai phương pháp luận khoa học chung thường dùng nhất là diễn dịch (đi từ những nguyên lí chung đến những kết luận riêng) và qui nạp (đi từ những hiện tượng, sự kiện riêng đến kết luận chung). Việc chọn phương pháp nào thường là do bản chất của đối tượng nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu quyết định. Mỗi ngành khoa học có một hệ thống các phương pháp nghiên cứu riêng.



- Đóng góp của luận văn (cái mới của luận văn):

Phải nêu dự kiến những đóng góp có tính chất thực tiễn hay lí luận.



- Cấu trúc của luận văn: giới thiệu khái quát về cấu trúc của luận văn: gồm mấy phần, mấy chương, chương nào đáng chú ý nhất…

* Phần nội dung

Phần này chiếm vị trí trung tâm của luận văn. Nó bao gồm các chương cụ thể, mỗi chương giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong mục đích chung của toàn bộ luận văn. Tùy theo phạm vi đề cập và qui mô của luận văn mà số chương có thể là 2 đến 5 chương. Cuối mỗi chương phải có phần tiểu kết. Về dung lượng, phần này có thể chiếm 80% – 90% số trang viết. Luận văn không nên có quá nhiều chương, vì số chương lớn sẽ tạo cảm giác ôm đồm quá nhiều vấn đề, phạm vi nghiên cứu quá rộng - đây lại là một trong những nhược điểm cần tránh khi viết luận văn, đặc biệt đối với những người chưa có kinh nghiệm.

Các chương và tiểu mục được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số theo thứ tự Ả Rập. Nhiều nhất gồm 4 chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ: 4.1.2.1 chỉ mục 1 nhóm tiểu mục 2 mục 1 chương 4). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục (nghĩa là có tiểu mục 2.1.1 thì phải có 2.1.2).

Chú ý: Độ dài các chương không quá chênh lệch, nội dung các chương phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.



* Phần kết luận:

- Tóm tắt cô đọng toàn bộ những luận điểm chính của luận văn, nhấn mạnh những đóng góp của tác giả.

- Nêu những triển vọng về mặt thực tiến và lí luận của vấn đề đã giải quyết trong luận văn.

- Những hạn chế của luận văn (nếu có).

- Kiến nghị cần nghiên cứu tiếp, ứng dụng hoặc điều chỉnh vấn đề.

Bố cục của luận văn cần phải chặt chẽ, mạch lạc, các chương được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, không bị trùng lặp hoặc chồng chéo lên nhau.



c. Phần phụ trợ

Phần này bao gồm: tài liệu tham khảo, các tài liệu trích dẫn, các phụ lục, các bảng biểu…



* Tài liệu tham khảo

- Được sắp xếp theo từng ngôn ngữ (Việt, Anh, Đức, Nga, Trung, Nhật…). Các tài liệu nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch.

- Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC họ tên tác giả theo thông lệ từng nước.

+ Tác giả là người nước ngoài: xếp thứ tự ABC theo họ tác giả.

+ Tác giả là người Việt Nam: xếp thứ tự ABC theo tên tác giả.

+ Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự từ đầu của tên cơ quan ban hành sách báo hay ấn phẩm.

- Tài liệu tham khảo khi liệt kê vào danh mục phải đầy đủ các thông tin cần thiết sau:

+ Số thứ tự

+ Tên tác giả

+ Tên tài liệu

+ Cơ quan ban hành

+ Nơi xuất bản

+ Năm xuất bản

- Tài liệu tham khảo là bài báo, tạp chí thì ghi đầy đủ các thông tin sau:

Tên tác giả, tên bài báo, tên tạp chí, thông tin về nhà xuất bản.

* Bảng ngữ điển

Là phần kê khai và giải thích tất cả các thuật ngữ chuyên dùng trong luận văn nhưng mới hoặc khó hiểu (những từ ngữ lạ, khó, ít dùng, những từ thông thường được dùng với ý nghĩa đặc biệt, những từ địa phương).

Sắp xếp theo ABC và giải thích thật ngắn gọn.

Trích dẫn và chú thích nguồn trích dẫn

a. Mục đích trích dẫn

- Dẫn ra làm đối tượng, nhận xét, bàn bạc, đánh giá.

- Dẫn ra làm cơ sở làm điểm xuất phát để có thể suy ra hoặc làm căn cứ để bàn bạc đến những vấn đề khác.

- Khi vấn đề nêu ra đã được phân tích, lí giải một cách cặn kẽ, chúng ta dẫn lời người khác để kết luận thay cho lời kết luận của mình.

- Dẫn ra sau khi mình làm kết luận với tư cách một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của kết luận vừa nêu.

Có hai cách trích dẫn:

+ Trích dẫn trực tiếp

+ Trích dẫn gián tiếp



b. Chú thích nguồn trích dẫn

- Chú thích có thể đặt ở cuối trang, cuối chương hoặc cuối văn bản.

- Chú thích phải đánh kí hiệu, phổ biến nhất là kí hiệu bằng tiếng Ả Rập.

- Các chi tiết cần chú thích:

+ Các trích dẫn chỉ trích một phần câu, một ý khái quát thì chú thích ghi ngắn gọn, tên tác giả, tên sách và để chú thích trong ngoặc đơn ngay sau phần trích dẫn.

+ Trích dẫn nguyên câu (để sau dấu hai chấm và trong ngoặc kép) thì cần chú thích đầy dủ hơn.

 Sách: tên tác giả, tên sách, năm xuất bản, Nxb, tập, trang.

 Báo: tên tác giả, tên bài báo, tờ báo, số, ra ngày, trang.

 Luận văn, báo cáo: tác giả, tên luận văn, cơ quan, địa điểm, thời gian.

Lưu ý: Nếu là báo cáo cho một sản phẩm vật thể thì hình thức có thể linh hoạt: các báo cáo với các bảng số liệu + lời giải thích; bản báo cáo tóm tắt.

Bài tập về nhà: Chọn một trong hai yêu cầu sau:

- Tóm tắt một một luận văn tốt nghiệp đại học.

- Xây dựng một đề cương luận văn tốt nghiệp đại học.


Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU VÀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT CÂU
2.1. GIẢN YẾU VỀ CÂU

2.1.1. Khái niệm

Câu là đơn vị nhỏ nhất của lời nói được tạo ra trong quá trình giao tiếp, có chức năng thông báo, phản ánh một sự việc, một ý kiến, một tình cảm, một cảm xúc.



Ví dụ: Trăng đã lặn.

2.1.2. Các thành phần của câu

a. Thành phần nòng cốt

Thành phần nòng cốt là loại thành phần cốt lõi của câu. Nói cách khác, nó là bộ phận chính tạo nên cái khung cú pháp cơ bản, mang thông tin chính của câu. Thành phần nòng cốt này bao gồm hai thành tố: chủ ngữ và vị ngữ.



a1. Chủ ngữ

- Chủ ngữ (CN) là thành phần chính, có chức năng biểu thị đối tượng mà hành động, quá trình, trạng thái, tính chất, quan hệ của nó độc lập với các thành phần khác của câu và được xác định bởi vị ngữ. Nó trả lời cho câu hỏi: ai, cái gì, việc gì, con gì.



Ví dụ: Hai người lặng lẽ rẽ xuống con đường nhỏ.

Mặt trời cuối thu nhọc nhằn len lỏi giữa màn sương dày đặc.

- Về từ loại, chủ ngữ thường do danh từ hay đại từ đảm nhiệm. Một số từ loại khác như động từ, tính từ và số từ cũng có thể làm chủ ngữ.

Ví dụ:  Học sinh là tương lai của đất nước. (CN = danh từ)

Ai ai cũng vui mừng, phấn khởi. (CN = đại từ)

Lao động là vinh quang. (CN = động từ)

Giỏi Toán là sở trường của Dũng. (CN = tính từ)

Một là ở, hai là đi. (CN = số từ)

- Về cấu tạo, chủ ngữ có thể là một từ, một ngữ hay một kết cấu chủ – vị dưới bậc câu (gọi là tiểu cú) tạo thành.



Ví dụ: Trăng đã lặn. (CN = một từ)

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ của mọi người. (CN = một ngữ)

Một cơn gió nhẹ lọt vào làm Sinh tỉnh giấc. (CN = một tiểu cú)

a2. Vị ngữ

- Vị ngữ (VN) là thành phần biểu thị hành động, quá trình, trạng thái, tính chất, quan hệ của sự vật được thể hiện qua chủ ngữ. Nó trả lời cho câu hỏi: làm gì, như thế nào, ra sao, của ai, của cái gì, như cái gì, ở trạng thái như thế nào, là ai.



Ví dụ: Chiếc thuyền trắng bạc ra khơi theo sóng gió.

- Về mặt từ loại, vị ngữ thường do động từ hay tính từ đảm nhiệm. Một vài từ loại khác như đại từ, sốtừ cũng có thể làm vị ngữ.

Ví dụ:  Sinh viên đang lao động. (VN = động từ)

Hoàng Nam rất giỏi toán. (VN = tính từ)

Nước Việt Nam là một. (VN = số từ)

- Về mặt cấu tạo, vị ngữ có thể do một từ, một ngữ hay do một kết cấu chủ vị dưới bậc câu (tiểu cú) tạo thành.



Ví dụ:  ăn. (VN = một từ)

Gió rét thổi hun hút. (VN = một ngữ)

Từ bản tính rất hiền lành. (VN = một tiểu cú)

Lưu ý về trật tự phân bố chủ ngữ, vị ngữ:

Trong câu tiếng Việt, chủ ngữ đứng trước vị ngữ là hiện tượng phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vị ngữ có thể đứng trước chủ ngữ:

+ Trong câu cảm thán:



Ví dụ: Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều!

+ Trong câu nghi vấn mang tính chất tu từ:



Ví dụ: Có nghĩa gì đâu một buổi chiều?

+ Trong câu trần thuật nhằm mục đích nhấn mạnh nội dung thông báo:



Ví dụ:  Lủng lẳng trên cành một chùm nho chín mọng.

Dưới bóng tre xanh của ngàn xưa, thấp thoáng những mái chùa cổ kính. (Thép Mới, Cây tre Việt Nam)



b. Thành phần phụ của câu

b1. Thành phần phụ trong câu

Đây là thành phần ngữ pháp phụ thuộc vào toàn bộ nòng cốt câu, có tác dụng mở rộng nòng cốt câu để bổ sung những chi tiết cần thiết cho nòng cốt câu hoặc bổ sung cho câu một chức năng, một ý nghĩa tình thái nào đó. Thành phần phụ này gồm ba loại nhỏ là trạng ngữ, đề ngữ và phụ ngữ tình thái.



b1.1. Trạng ngữ

- Trạng ngữ (TN) là thành phần phụ quan trọng nhất mang chức năng bổ sung ý nghĩa cho thông báo của câu. Có 9 loại trạng ngữ:

+ Trạng ngữ chỉ mục đích: để, cho, vì...

Ví dụ: Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải học tập tốt.

+ Trạng ngữ chỉ nguyên nhân: vì, bởi vì, nhờ, tại, do...



Ví dụ: Nhờ bạn, tôi đã tiến bộ.

+ Trạng ngữ chỉ thời gian: hôm nay, ngày mai, sau khi, trong lúc...



Ví dụ: Hôm nay, lớp chúng tôi đi dã ngoại.

+ Trạng ngữ chỉ nơi chốn: trên, dưới, trong, ngoài...



Ví dụ:  Chân trời Đông, những tia sáng rực rỡ đã lóe lên.

Ngoài hiên, mưa rơi dầm dề.

+ Trạng ngữ chỉ sự nhượng bộ: dù, mặc dù, dù cho, tuy...

Ví dụ: Tuy nghèo nhưng Dũng vẫn hay giúp đỡ người khác về tiền bạc.

+ Trạng ngữ chỉ so sánh: như, so với, hơn...



Ví dụ: Như súng nổ, tiếng pháo vang lên giòn giã.

+ Trạng ngữ chỉ điều kiện – giả thiết: nếu...



Ví dụ: Nếu cố gắng, An sẽ tiến bộ rất nhanh.

+ Trạng ngữ chỉ cách thức: dựa vào, với, bằng, qua...



Ví dụ: Với máy vi tính, ta có thể giải quyết nhanh chóng nhiều công việc.

+ Trạng ngữ chỉ trạng thái, tình hình:



Ví dụ:  Làm xong bài tập, chúng em nộp bài cho cô giáo.

Ầm ầm, những đợt sóng cao ngất liên tiếp đánh vào bờ đá.

- Về mặt cấu tạo, trạng ngữ có thể là một từ, một ngữ, một thành ngữ, một câu.

Ví dụ: Khi Cách mạng tháng Tám thành công, cha tôi mới 15 tuổi.

(TN = một tiểu cú)

Bình minh, mặt trời tỏa sáng rực rỡ. (TN = một từ)

Đúng 6 giờ sáng, ba em đã đi làm. (TN = một ngữ)

Rước voi dày mả tổ, Lê Chiêu Thống đã sang cầu cứu quân Thanh.

(TN = một thành ngữ)

- Vị trí của trạng ngữ trong câu rất linh hoạt, nó có thể đứng ở đầu câu, giữa câu và cuối câu. Tuy nhiên, vị trí phổ biến nhất của trạng ngữ vẫn là đầu câu (chiếm tỉ lệ 80%).

Ví dụ: Với niềm sung sướng thầm lặng, họ đón lấy giọt mưa xuân.

Họ, với nỗi sung sướng thầm lặng, đón lấy giọt mưa xuân.

Họ đón lấy giọt mưa xuân với niềm vui sướng thầm lặng.

- Để xác định được những danh ngữ, giới ngữ xen vào giữa hay nằm sau câu có phải là trạng ngữ hay không, ta kiểm tra bằng cách đảo chúng lên đầu câu. Nếu câu văn không thay đổi nghĩa thì đó là trạng ngữ.



b1.2. Đề ngữ

- Đề ngữ (ĐN) còn gọi là khởi ngữ (KN) có chức năng nêu lên đối tượng cần bàn bạc với tư cách là chủ đề của câu chứa nó.



Ví dụ:  Giàu, tôi đã giàu rồi.

Vấn đề này, tôi đã trình bày rồi.

- Về vị trí, đề ngữ bao giờ cũng đứng trước câu và được phân cách với câu bằng dấu phẩy. Nhận diện đề ngữ bằng cách thêm vào trước nó các từ: về, đối với, còn.

- Về nội dung, câu bình thường không có đề ngữ khác với câu có đề ngữ ở chỗ: câu có đề ngữ luôn mang một hàm ý hoặc một sự nhấn mạnh nội dung biểu đạt nào đó.



Ví dụ:  Nó chửi tôi. (không có đề ngữ)

Tôi, nó cũng chửi. (có đề ngữ)

 Câu sau mang nhiều hàm ý. Nó đã chửi ai đó rồi, và lẽ ra, nó chừa tôi ra. Thế mà nó cũng không chừa. Nó quá hỗn xược.

Hoặc: Hình như nó ốm thì phải. Cơm, nó cũng chẳng chịu ăn.



b1.3. Phụ ngữ tình thái

- Dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái chủ quan (biểu thị sự đánh giá của người nói đối với sự tình được nói đến trong câu hoặc biểu thị mối quan hệ giữa người nói với người nghe).

- Phụ ngữ tình thái không có vị trí xác định trong câu, nó có thể đứng đầu, giữa hoặc cuối câu.

Ví dụ:  Bài này năm điểm là cùng.

Có lẽ nào anh lại quên em.

Làm như thế, theo tôi, là đúng hướng rồi.

b2. Thành phần biệt lập

Là loại thành phần phụ của câu nhưng có tính độc lập với nòng cốt câu, có tác dụng giải thích, chú thích cho một chi tiết nào đó trong câu. Thành phần biệt lập bao gồm ba loại nhỏ: thành phần chú thích, thành phần chuyển tiếp và hô ngữ.



b2.1. Thành phần phụ chú (chú thích, giải thích)

- Là loại thành phần đặc biệt có chức năng giải thích thêm cho thành tố hay thành phần đứng trước nó, hoặc bổ sung ý nghĩa tình thái nào đó cho câu.

- Thành phần chú thích có cấu tạo rất đa dạng. Trong câu, thành phần này được tách ra bằng dấu ngang cách, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấu hai chấm.

Ví dụ:  Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, là đại thi hào của dân tộc Việt Nam.

Cô ta cười, cái cười chua chát.

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi).

(Giang Nam, Quê hương)

Những vẻ nên thơ này – hiểu theo nghĩa hẹp – là chất liệu đầu tiên, trực tiếp để sáng tạo nên thơ – một loại hình nghệ thuật tuyệt diệu …

b2.2. Thành phần chuyển tiếp

- Là loại thành phần có chức năng xác lập và biểu thị mối quan hệ giữa câu này với câu khác trong chuỗi câu, đoạn văn. Nói cách khác, chức năng của thành phần này là liên kết câu, tạo nên sự mạch lạc của đoạn văn.



Ví dụ:  Người nào cũng muốn đặt bàn chân lâu lâu trên mặt đất. Bởi vì họ hiểu rằng họ sẽ xa đất rất lâu. có thể sẽ xa đất mãi mãi.

Nhìn chung, các ý kiến đã đi đến thống nhất.

- Về mặt cấu tạo, thành phần chuyển tiếp thường do các quán ngữ đảm nhiệm: mặt khác, trái lại, ngược lại, bên cạnh đó, chẳng hạn như, ví dụ như, mặc dù vậy, tóm lại, nói tóm lại, thật vậy, song le, hiển nhiên là, dù sao chăng nữa, vả lại...

- Về vị trí, thành phần này thường ở vị trí đầu câu.



b2.3. Hô ngữ

Hô ngữ bao gồm hai loại nhỏ: hô ngữ gọi và hô ngữ đáp.

- Hô ngữ gọi:

+ Hô ngữ gọi là thành phần đặc biệt có chức năng biểu thị đối tượng được người nói gọi đến trong câu.

+ Về cấu tạo, hô ngữ gọi có thể là một từ, thường là danh từ riêng, danh từ chung, hay là một tổ hợp gồm danh từ, danh ngữ kết hợp với các từ đệm ơi, à, ạ, này…

Ví dụ:  Con ơi, nhớ lấy câu này.

Nhanh tay lên nào, anh chị em ơi!

+ Về vị trí, hô ngữ gọi có thể đứng ở đầu hay cuối câu và bao giờ cũng được phân cách khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy.

- Hô ngữ đáp:

+ Hô ngữ đáp là loại thành phần đặc biệt có chức năng đánh dấu câu trả lời đồng thời biểu thị thái độ, phản ứng của người nói.

Ví dụ:  Vâng, tôi đi đây.

Dạ, em mới vừa về tới.

+ Về cấu tạo, hô ngữ đáp có thể là một từ: vâng, vâng ạ, ừ, phải, đúng, không, hay là một tổ hợp: dạ vâng, dạ phải, dạ không...

+ Về vị trí, hô ngữ đáp bao giờ cũng đứng ở đầu câu và luôn được phân cách khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy.



2.1.3. Phân loại câu

a. Theo cấu trúc cú pháp

Câu được phân loại thành câu đơn và câu ghép.



a1. Câu đơn

a1.1. Câu đơn hai thành phần (câu đơn bình thường)

Là câu có đầy đủ hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.



Ví dụ: Xa xa, một tiếng gà gáy trưa lọt thỏm vào không gian thanh vắng của đại ngàn

a1.2. Câu đơn đặc biệt

Là câu có cấu tạo chỉ gồm một trung tâm cú pháp chính (một ngữ), không phân định được chủ ngữ và vị ngữ, được dùng để giới thiệu vật, sự vật, hiện tượng.

Ví dụ:  Một đêm mùa xuân.

Một hồi còi.



a1.3. Câu đơn rút gọn

Là câu đơn bình thường, do bối cảnh giao tiếp và mục đích thông báo cho phép, nhờ quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ, đã được rút gọn chủ ngữ hoặc vị ngữ, thậm chí có thể rút gọn toàn bộ trừ thành tố hay thành phần phục vụ cho mục đích thông báo. Ta hoàn toàn có thể khôi phục lại các thành phần đã được rút gọn. Loại câu này thường dùng trong hội thoại.



Ví dụ:  - Tối mai, An đi xem phim với mình nhé?

- Ừ.

Cắm được nhìn ông cụ duy nhất một lần, một lần dài suốt một năm. Thế mà bây giờ còn tiếc mãi, tiếc mãi. Biết thế khi đó ta nhìn nhiều nữa cho no mắt. Bởi vì ông cụ chính là Bác bây giờ. (Nguyên Ngọc)

Thế mà bây giờ còn tiếc mãi, tiếc mãi: rút chủ ngữ.

a1.4. Câu phức

- Là câu có hai hoặc hơn hai kết cấu chủ vị, trong đó chỉ có một kết cấu chủ vị làm nòng cốt. Các kết cấu chủ vị khác có thể nằm trong 1 thành tố của thành phần nòng cốt đó.

- Có các loại câu phức sau:

+ Câu phức thành phần chủ ngữ: có chủ ngữ là một kết cấu chủ vị.



Ví dụ: Anh đến được là điều rất quý.

+ Câu phức thành phần vị ngữ: có vị ngữ là một kết cấu chủ vị.



Ví dụ: Cái bàn này chân đã gãy.

+ Câu phức thành phần định ngữ: có định ngữ là một kết cấu chủ vị.



Ví dụ: Bức thư tôi viết đã được gửi rồi.

+ Câu phức thành phần bổ ngữ: có bổ ngữ là một kết cấu chủ vị.



Ví dụ: Học sinh lắng nghe cô giáo giảng bài.

+ Câu phức thành phần trạng ngữ cách thức: có trạng ngữ cách thức là một kết cấu chủ vị.



Ví dụ: Tay xách cặp, cô bé bước vào lớp.

a2. Câu ghép

Là câu có hơn một một kết cấu C – V, trong đó mỗi kết cấu C – V làm thành một vế câu tách rời nhau, không kết cấu C – V nào bao hàm kết cấu C – V nào. Có thể tạm thời chia câu ghép thành hai loại: câu ghép không có quan hệ từ (câu ghép chuỗi) và câu ghép có quan hệ từ liên kết các vế câu.



a2.1. Câu ghép không có quan hệ từ

Là loại câu ghép biểu đạt các sự kiện diễn ra liên tục, theo quan hệ liệt kê, giữa các vế câu được ngăn cách bằng dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy.

Ví dụ:  Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (Hồ Chí Minh)

Thuốc, ông giáo không hút; rượu, ông giáo không uống. (Nam Cao)



a2.2. Câu ghép có quan hệ từ

Là loại câu ghép mà giữa các vế câu được liên kết với nhau bằng quan hệ từ hoặc từ ngữ hô ứng; gồm có:

+ Câu ghép chính phụ: có vế chính và vế phụ, vế phụ bao giờ cũng được đánh dấu bằng quan hệ từ phụ thuộc.

 Biểu thị quan hệ nguyên nhân – hệ quả: do … (nên) …, vì … (nên) …, tại … (nên) …, bởi … (nên) …... Vế câu chỉ nguyên nhân có thể đứng trước hoặc sau vế câu chỉ hệ quả. Quan hệ từ ở vế câu chỉ hệ quả có thể vắng mặt.



Ví dụ: trời mưa nên đường lầy lội.

Đường lầy lội trời mưa.

 Biểu thị quan hệ điều kiện/ giả thiết – hệ quả: nếu … (thì) …, giá mà … (thì) …, hễ … (thì) …, giả sử … (thì) …... Vế câu chỉ hệ quả có thể đứng trước hoặc sau vế câu chỉ điều kiện/ giả thiết; từ dẫn nhập vế chỉ hệ quả có thể vắng mặt.

Ví dụ:  Nếu ngày ấy chúng mình đừng yêu nhau thì ngày nay có đâu buồn đau.

Ngủ trọ phải hai xu một tối nếu chị không ăn cơm, ăn quà.

(Ngô Tất Tố)

 Biểu thị quan hệ nhượng bộ – tăng tiến: không những … mà …, không chỉ … mà …, không phải … mà…... Vế câu biểu thị ý nhượng bộ đứng trước, vế câu chỉ sự tăng tiến đứng sau, và trật tự này không thể thay đổi.

Ví dụ: Không những cây không có hoa lá cũng khô héo dần.

Để nhấn mạnh điều vẫn xảy ra tuy có điều trở ngại, ta sử dụng cặp quan hệ từ tuy … (nhưng) …, mặc dù … (nhưng) …, dù … (nhưng) …... Quan hệ từ nhưng có thể vắng mặt và vế câu biểu thị ý trở ngại có thể đứng trước hoặc sau vế câu biểu thị ý nhấn mạnh.



Ví dụ: Tuy nhà Lan nghèo nhưng bạn ấy học rất giỏi.

Lưu ý: Cách dùng mặc dùdù, dẫu:



+ Sau mặc dù là vế câu có tính hàm thực (đã xảy ra hoặc đang xảy ra).

+ Sau dù, dẫu là vế câu hàm ý phi thực (chưa xảy ra hoặc không xảy ra).

Ví dụ:  Mặc dù trời mưa to, gió lớn nhưng nó vẫn đến đúng giờ. (+)

trời mưa to, gió lớn nhưng nó vẫn đến đúng giờ. (-)

 Biểu thị quan hệ mục đích – sự kiện: để, nhằm, để cho, cho... Vế câu chỉ mục đích có thể đứng trước hoặc sau vế câu chỉ sự kiện.

Ví dụ: Tôi xin nêu một số dẫn chứng để mọi người hiểu rõ vấn đề.

+ Câu ghép đẳng lập: các vế câu có quan hệ ngang hàng, bình đẳng, không lệ thuộc nhau.



Ví dụ: Mặt nước xanh biếc, bầu trời cao lồng lộng.

 Biểu thị quan hệ liệt kê: .

Ví dụ: Mưa to gió lớn.

 Biểu thị quan hệ tuyển lựa: hay, hoặc.



Ví dụ: Anh đi hay tôi đi.

 Biểu thị quan hệ tiếp nối: .



Ví dụ: Một phát súng nổ con chim rơi xuống./ Phát súng nổ, em bé trên lưng trâu ngã xuống.

 Biểu thị quan hệ đối chiếu: mà, nhưng, song.



Ví dụ: Vợ anh không kêu (nhưng/ song) bà trùm cũng không giục rặn nữa.

Lưu ý: Sự khác biệt tinh tế của ba từ mà, nhưng, song:

- : biểu thị điều sắp nêu ra là mặt khác, đối chiếu, bổ sung cho điều vừa nói đến trong câu.

- Nhưng: biểu thị điều sắp nêu ra ngược với ý do điều vừa nói có thể gợi ra.

- Song: tương tự với từ nhưng, tuy nhiên mức độ nhấn mạnh của song mạnh hơn.

+ Câu ghép qua lại: dùng phụ từ, từ ngữ hô ứng để liên kết các vế câu. Ở loại câu này, mối quan hệ giữa các vế câu rất chặt chẽ, không thể tách mỗi vế thành câu đơn. Câu ghép qua lại thường dùng các cặp phụ từ: chưa … đã …, vừa mới … đã …, càng … càng …, vừa … vừa …...; các cặp đại từ phiếm định – xác định như ai … nấy, nào … ấy, đâu … đấy, bao nhiêu … bấy nhiêu, sao … vậy...



Ví dụ:  Càng yêu người bao nhiêu càng yêu nghề bấy nhiêu.

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.



b. Theo mục đích phát ngôn

Từ một góc nhình khác, người ta có thể quan tâm câu trên bình diện chứ năng biểu đạt ý nghĩa. Theo đó ta có thể phân chia câu thành câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán.



b1. Câu trần thuật

Dùng để miêu tả về sự tình hoặc để nêu nhận định, phán đoán, nhằm thông báo về những sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, đặc trưng, tính chất trong hiện thực khách quan, hoặc để thể hiện những nhận định, đánh giá của người nói về sự vật hiện tượng nào đó.



Ví dụ:  Mùng 2 tháng 9 năm 1945 – một ngày đáng nhớ. Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn, hoa và biểu ngữ. (Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên).

Đường dài đến thế, ta đi mãi, mải miết trèo… Chỉ thấy ba lô nặng trên vai, chỉ thấy mây trắng cuốn về phương Bắc, thấy trời xanh ngút ngàn, và rậm rì là cây, là cỏ...

(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi)

b2. Câu nghi vấn

Câu có nội dung nêu lên điều chưa biết hay còn hoài nghi mà người nói muốn người nghe trả lời, giải thích. Tuy nhiên, nhiều khi câu nghi vấn dùng để biểu thị ý nghĩa cầu khiến khẳng định, phủ định, đe dọa, thách thức, tranh luận, mỉa mai, phỏng đoán, ngờ vực... và không yêu cầu người đối thoại trả lời.



Ví dụ:  Cái áo này đẹp nhỉ?

Con đã làm bài chưa?

Em là ai cô gái hay nàng tiên? (Tố Hữu)

b3. Câu cầu khiến

Là câu nhằm mục đích yêu cầu người nghe thực hiện nội dung được nêu trong câu. Nó chứa đựng ý muốn, mệnh lệnh, nguyện vọng của người nói đối với người nghe, thường sử dụng những từ ngữ cầu khiến như hãy, đừng, chớ, đi thôi, nào... và thường tĩnh lược chủ ngữ.



Ví dụ:  Nào, chúng ta đi thôi, kẻo trễ mất!

Tất cả nhìn lên bảng!



b4. Câu cảm thán

Dùng để trực tiếp bộc lộ cảm xúc của người nói, thường xuất hiện trong khẩu ngữ, lời thoại trong tác phẩm văn chương: ôi, chao ôi/ ơi, ô hay, trời ơi/ ôi, chà, ái, ủa… hoặc từ biểu hiện mức độ của cảm xúc, đánh giá như thật, quá, ghê, cực kì, biết bao, biết mấy, thay…



Ví dụ:  Đẹp biết bao những lời chân thực ấy!

Giời! (Muỗi đói đốt chết con tôi còn gì!) (Nguyên Hồng, Bỉ vỏ)

Trời ơi!



tải về 0.84 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương