Bộ giáo dục và ĐÀo tạo bộ giao thông vận tải trưỜng đẠi học hàng hải việt nam



tải về 195.38 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.11.2017
Kích195.38 Kb.



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

-*****-

ĐỖ THỊ MAI THƠM

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM


Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý vận tải

Mã số : 62.84.10.01


TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hải Phòng - 2012
Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS., TS. Phạm Văn Cương

2. TS. Nguyễn Văn Sơn

Phản biện 1: GS., TS. Vương Toàn Thuyên

Trường Đại học Hải Phòng

Phản biện 2: PGS., TS. Đinh Ngọc Viện

Hội Khoa học kỹ thuật Biển Việt Nam

Phản biện 3: PGS., TS. Từ Sĩ Sùa

Trường Đại học Giao thông vận tải

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường họp tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam vào …..giờ……ngày……tháng…..năm 2012

Có thể tìm hiểu luận án tại Trung tâm Thông tin tư liệu Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đối với nền kinh tế thị trường, vai trò của kế toán quản trị (KTQT) là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị quản lý, điều hành hoạt động doanh nghiệp không còn là vấn đề tranh luận. Trong những năm gần đây, nền kế toán Việt Nam đã có những bước chuyển biến và thay đổi sâu sắc về hệ thống kế toán doanh nghiệp. Hệ thống kế toán doanh nghiệp không còn duy nhất một bộ phận kế toán tài chính (KTTC) mà bao gồm cả bộ phận KTTC và bộ phận KTQT. Kế toán quản trị đang ở trong thời kỳ phát triển để đáp ứng với những thay đổi về kỹ thuật, toàn cầu hoá và những mối quan tâm ngày càng tăng đối với việc quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong thực tiễn ở các doanh nghiệp Việt Nam, việc áp dụng KTQT và vai trò của KTQT còn chưa phổ biến và phát triển.

Vận tải biển là một ngành kinh tế - kỹ thuật đặc biệt, phù hợp với lợi thế vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Vì vậy, quan điểm và mục tiêu phát triển ngành vận tải biển của Chính phủ là phát triển với tốc độ nhanh và đồng bộ để trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải đường biển của nền kinh tế quốc dân với chất lượng ngày càng cao, giá thành hợp lý, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; tăng sức cạnh tranh của vận tải biển để chủ động hội nhập và mở rộng thị trường vận tải biển trong khu vực và trên thế giới; thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Sự cần thiết phải phát triển với tốc độ nhanh và quy mô lớn đã đặt ra yêu cầu cấp bách cho các doanh nghiệp vận tải biển (DNVTB) phải tổ chức công tác KTQT để đáp ứng nhu cầu thiết yếu về thông tin quản lý điều hành doanh nghiệp, đặc biệt là KTQT chi phí, tính giá thành dịch vụ vận tải nhằm kiểm soát tốt chi phí, hạ giá thành vận tải, tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đáp ứng được vai trò là công cụ quản lý kinh tế trong thời kỳ mới. Do vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể về đặc thù hoạt động kinh doanh của các DNVTB để tổ chức KTQT chi phí, tính giá thành dịch vụ vận tải biển cho thích hợp.

Trên thực tế, việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải tại các DNVTB có nhiều đổi mới phù hợp với thông lệ quốc tế và chế độ kế toán mới, đã đáp ứng được yêu cầu công tác lập các báo cáo tài chính và một số yêu cầu của nhà quản trị. Tuy nhiên, công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành vận tải chủ yếu được thực hiện theo chức năng của KTTC, việc phân loại chi phí, xây dựng các phương trình dự toán chi phí để kiểm soát chi phí theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp chưa được thực hiện, phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí chung để tính giá thành vận tải còn bộc lộ nhiều hạn chế, tính kịp thời của thông tin về giá thành vận tải cho từng chuyến đi của từng tàu, để cung cấp cho nhà quản lý trước và sau mỗi chuyến đi là chưa thực hiện được.

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam” là đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế của mình.

2. Tổng quan những công trình đã công bố nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp

Tổ chức công tác KTQT có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa cơ sở lý luận với thực tế thực hành công việc kế toán ở doanh nghiệp. Về mặt lý luận, KTQT đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu rất đa dạng phong phú. Tuy nhiên, về mặt tổ chức ứng dụng, KTQT là một lĩnh vực rất khan hiếm về nguồn tài liệu hướng dẫn thực thi. Vì vậy, rất cần các đề tài nghiên cứu tổ chức KTQT chuyên sâu vào các lĩnh vực kinh tế của từng ngành cụ thể. Đã có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực công tác KTQT, kế toán chi phí và giá thành ở các ngành dầu khí, sản xuất dược phẩm, hàng không, du lịch… nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực KTQT cho ngành vận tải biển (VTB).

Xuất phát từ việc tìm hiểu trên cho thấy, chưa có công trình nghiên cứu nào về KTQT dành riêng cho lĩnh vực VTB, luận án sẽ tập trung vào việc nghiên cứu để xây dựng mô hình công tác KTQT chi phí và tính giá thành vận tải chuyến đi cho các DNVTB Việt Nam. Vì vậy việc nghiên cứu mang tính cấp thiết và không bị trùng lắp.

3. Mục đích nghiên cứu của luận án

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về KTQT chi phí và giá thành trong các doanh nghiệp.

Làm rõ những đặc điểm kinh doanh của ngành vận tải biển, đặc thù riêng của sản phẩm dịch vụ vận tải biển. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, chi phối đến sự biến đổi liên tục, phức tạp của chi phí và giá thành dịch vụ vận tải biển trong từng chuyến đi của tàu.

Trên cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng công tác kế toán chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp vận tải biển (DNVTB) Việt Nam hiện nay, luận án đề ra các nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp cụ thể để xây dựng mô hình tổ chức thực hiện công tác KTQT chi phí và giá thành trong các DNVTB Viêt Nam theo hướng kết hợp với kế toán tài chính.



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Nghiên cứu việc tổ chức mô hình KTQT chi phí sản xuất và giá thành dịch vụ vận tải trên cơ sở kết hợp KTQT với KTTC.

Phạm vi nghiên cứu của luận án là công tác tổ chức kế toán chi phí và giá thành dịch vụ vận tải đường biển tại một số công ty vận tải biển tiêu biểu trong Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES).

5. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống đảm bảo tính logic của các vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp mô hình hóa và phương pháp toán để xây dựng mô hình tổ chức công tác KTQT và các phương trình dự toán chi phí vận tải.

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh….để phân tích vấn đề, đánh giá và rút ra kết luận.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về mặt khoa học: Luận án trình bày hệ thống và toàn diện về tổ chức công tác KTQT chi phí và giá thành của các DNVTB, trong đó đưa ra vấn đề tổ chức KTQT phải phù hợp với hệ thống KTTC của các doanh nghiệp.

Về mặt thực tiễn: Đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện KTQT chi phí sản xuất và giá thành dịch vụ vận tải tại các DNVTB Việt Nam, góp phần tạo cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng công tác ra quyết định quản lý cho các nhà quản trị DNVTB.

7. Kết quả đạt được và điểm mới của luận án

Luận án đã tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để xây dựng một mô hình tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành vận tải biển cho các DNVTB Việt Nam. Luận án đã có một số điểm mới sau:

Lần đầu tiên ở Việt Nam, luận án đã phân tích các đặc điểm chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải biển và ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi đa dạng, liên tục của các thành phần chi phí chuyến đi và sự thay đổi phức tạp của giá thành đơn vị vận tải.

Phân tích, nhận diện chi phí vận tải theo góc độ của KTQT, ứng dụng phương pháp xác định chi phí hỗn hợp vào công tác dự toán chi phí chuyến đi cho tàu.

Xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán chi phí chi tiết, sổ kế toán quản trị chi phí trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán tổng hợp, sổ kế toán tài chính hiện hành.

Xây dựng mô hình tổ chức công tác KTQT chi phí và giá thành phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của các DNVTB Việt Nam


CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH TRONG CÁC DNVTB

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị

Theo Luật kế toán Việt Nam “Kế toán quản trị” là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.

Theo định nghĩa của Viện kế toán quản trị Hoa Kỳ “Kế toán quản trị” là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được các nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó.

1.1.2 Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị


Khác nhau

Kế toán tài chính

Kế toán quản trị

Đối tượng

phục vụ chủ yếu



Những người sử dụng ở bên ngoài DN: cổ đông, chủ nợ, cơ quan Nhà nước, công chúng, các nhà quản trị

Các cấp quản trị ở bên trong DN


Đặc điểm thông tin.

Thể hiện thông tin kinh tế tài chính quá khứ và hiện tại, thông tin phải đầy đủ, chính xác, khách quan và kiểm tra được.

Thể hiện thông tin kinh tế hướng tới tương lai, thông tin phải kịp thời linh hoạt, phù hợp yêu cầu quản trị.

Phạm vi của thông tin cung cấp

Thông tin cung cấp thường được soạn thảo với phạm vi toàn bộ DN

Thông tin cung cấp về DN và các đơn vị, dự án, sản phẩm của DN hoặc về bất kỳ bộ phận nào của DN mà cần ra quyết định

Kì báo cáo.

Báo cáo được soạn thảo theo định kỳ

Báo cáo được soạn thảo theo định kỳ hay khi có nhu cầu

Mẫu báo cáo

Hình thức và nội dung của báo cáo tuân thủ các chế độ báo cáo do Bộ tài chính ban hành

Hình thức và nội dung của báo cáo linh hoạt tuỳ theo yêu cầu của quản trị

Tính pháp lý

Thông tin của kế toán tài chính có tính pháp lý cao.

Thông tin của kế toán quản trị không có tính pháp lý


1.1.3 Một số phương pháp kỹ thuật của kế toán quản trị

Kế toán quản trị sử dụng các phương pháp kỹ thuật của kế toán tài chính như: chứng từ, tài khoản, ghi sổ kép, cân đối kế toán,… cùng với một số phương pháp kỹ thuật riêng của kế toán quản trị như sau:

- Phương pháp phân loại;

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp phân tích mức độ ảnh hưởng các nhân tố;

- Phương pháp đồ thị - biểu đồ;

- Phương pháp chỉ số tài chính;

- Phương pháp định lượng;

- Phương pháp phân tích thông tin thích hợp;

- Phương pháp bảng cân đối thành quả (Balanced Scorecard);

- Phương pháp cân đối Chi phí - Lợi ích;

- Phương pháp phân tích quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận;

- Phương pháp tính thời giá tiền tệ;

1.2 Kế toán quản trị chi phí

1.2.1 Vai trò của quản trị chi phí

Trong DN, việc quản lý chi phí được đặt lên nhiệm vụ hàng đầu của các nhà quản trị vì chi phí là một nhân tố trực tiếp tác động đến lợi nhuận. Mặt khác, chi phí lại có nguồn gốc quyết định ở DN là chính.



1.2.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí

Nhiệm vụ quan trọng của quản trị chi phí là lựa chọn cơ cấu vốn và chi phí sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất, giúp giám đốc hoạch định chiến lược chi tiêu ngắn và dài hạn của DN dựa trên sự đánh giá cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của DN



1.2.3 Phân loại chi phí

Trong KTQT, người ta phân loại chi phí theo các cách sau đây:

- Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế;

- Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế;

- Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh;

- Phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản phẩm;

- Phân loại chi phí sử dụng trong việc lập kế hoạch, kiểm tra và quyết định;

- Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động.



1.2.4 Các phương pháp xác định chi phí hỗn hợp

Để xác định chi phí hỗn hợp, trong KTQT người ta sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp cực trị;

- Phương pháp bình phương bé nhất;

- Phương pháp đồ thị phân tán.

Từ đó, xây dựng được phương trình đường hồi quy (đường chi phí hỗn hợp): y = A + bx



1.2.5 Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành

Đối tượng tập hợp chi phí: Là việc xác định nơi các chi phí đã phát sinh và đối tượng gánh chịu chi phí, xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu đầu tiên, rất quan trọng trong toàn bộ công tác KTQT chi phí sản xuất và giá thành của DN.

Đối tượng tính giá thành: Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, dịch vụ của DN sản xuất, chế tạo và thực hiện, cần tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.

1.2.6 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Mở TK 621 ‘‘CPNVL trực tiếp’’ chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã được xác định.

Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Mở TK 622 ‘‘CPNC trực tiếp’’ chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã được xác định.

Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung: Mở TK 627 ‘‘CPSXC trực tiếp’’ chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã được xác định.

1.3 Kế toán quản trị giá thành trong các DNVTB

1.3.1 Đặc điểm sản xuất của ngành vận tải biển

Vận tải biển là một ngành kinh tế kỹ thuật thuộc loại đặc biệt, có những đặc trưng nổi bật sau :


- Đặc điểm lớn nhất của ngành vận tải biển là mang tính phục vụ;

- Tính thống nhất giữa sản xuất và tiêu thụ;

- Hoạt động vận tải không có sản xuất dự trữ;

- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không làm thay đổi tính chất lý hoá mà chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Lao động trong ngành vận tải không tạo ra sản phẩm mới mà chỉ làm tăng thêm giá trị của hàng hóa được vận chuyển.



1.3.2 Khái niệm và phân loại giá thành vận tải biển

Giá thành là biểu hiện bằng tiền của tất cả các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá, mà DNVTB đã bỏ ra, để hoàn thành việc vận chuyển 1 khối lượng hàng hoá nhất định từ cảng xuất phát đến cảng đích.

Căn cứ theo thời gian giá thành gồm 2 loại: Giá thành kế hoạch và giá thành kỳ thực hiện.

Căn cứ theo phạm vi doanh nghiệp giá thành gồm 2 loại: Giá thành vận chuyển và giá thành toàn bộ.

Căn cứ theo phương pháp tính toán giá thành gồm 2 loại: Giá thành sản lượng và giá thành đơn vị.

DN vận chuyển có 2 loại giá thành đơn vị (ST và STHL) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí chi ra có liên quan tới quá trình vận tải 1 tấn hàng hoặc 1 tấn hải lý.



1.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, chi phối đến công tác tổ chức KTQT chi phí và giá thành trong DNVTB

1.3.3.1 Tàu biển và các đặc trưng kỹ thuật của tàu biển: Ảnh hưởng tới chi phí khấu hao, chi phí nhiên liệu, chi phí cảng phí, chi phí thuyền viên,phí tàu già....của từng tàu trên cùng một tuyến đường và chở cùng một loại hàng.

1.3.3.2 Hàng hoá vận chuyển đa dạng: Tính chất lý, hóa của hàng vận chuyển ảnh hưởng đến chi phí bảo quản hàng, chi phí bốc xếp hàng, tính chất nặng, nhẹ của hàng làm thay đổi khối lượng hàng chuyên chở...của từng loại hàng trên cùng một tàu và cùng một tuyến đường.

1.3.3.3 Hành trình của tàu và cảng biển trong VTB : Rất đa dạng và phức tạp do các cảng biển trên một hành trình của tàu thường ở các quốc gia khác nhau, tập quán thương mại khác nhau, đơn vị tiền tệ khác nhau...vì vậy chi phí cảng phí khác nhau. Hành trình chuyến đi của tàu ảnh hưởng trực tiếp đến mọi chi phí hoạt động khai thác tàu trong chuyến đi

1.3.3.4 Thời gian công tác của tàu : Ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí nhiên liệu dầu DO và dầu FO cho hoạt động của tàu từng chuyến đi và trong kỳ kế toán, đó là thành phần chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong kết cấu chi phí và giá thành vận tải.

1.3.3.5 Khả năng vận chuyển của tàu: Là khối lượng hàng hóa luân chuyển mà tàu thực hiện được trong những điều kiện khai thác cụ thể. Do đó nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành vận chuyển 1 tấn hàng.

1.3.3.6 Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ : Kế toán chi phí ngoại tệ và giá thành là rất phức tạp vì một chuyến đi của tàu phát sinh chi phí ở nhiều nước trên thế giới bằng nhiều đồng ngoại tệ khác nhau, thời điểm phát sinh khác nhau và tỷ giá ngoại tệ biến động hàng ngày.

Tóm lại, do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật và hoạt động kinh doanh của DN VTB mà cần thiết phải xử lý, cung cấp thông tin nhanh về chi phí dự toán chuyến đi, giá thành đơn vị làm cơ sở cho nhà quản trị ra quyết định đúng đắn về giá cước vận chuyển được ký kết với chủ hàng.



1.3.4 Tính toán chi phí khai thác tàu và giá thành dịch vụ VTB

Về cơ bản, chi phí khai thác vận tải biển được cấu thành bởi các thành phần chi phí khi tàu chạy và tàu đỗ được khái quát theo hình 1.1 như sau:




Hình 1.1 Mô hình hóa chi phí khai thác tàu

Chi phí khai thác được cấu thành bởi nhiều thành phần chi phí khác nhau chủ yếu thuộc hai loại chính là chi phí chạy và đỗ.

Các thành phần chi phí chạy gồm có: Chi phí KHCB, KHSCL; Chi phí sửa chữa thường xuyên; Chi phí vật rẻ mau hỏng; Chi phí bảo hiểm tàu; Chi phí lương; Chi phí ăn định lượng; Chi phí BHXH; Chi phí quản lý; Chi phí nhiên liệu chạy; Chi khác.

Các thành phần chi phí tác nghiệp đầu cuối gồm có: Chi phí nhiên liệu tàu đỗ; Lệ phí cảng biển.

Giá thành dịch vụ vận tải biển được tính theo công thức sau:

Giá thành đơn vị vận chuyển : (đ/tấn)

Giá thành đơn vị luân chuyển : (đ/T.km hoặc đ/T.HL)



- tổng chi phí khai thác của tàu trong một chuyến đi

- tổng khối lượng hàng vận chuyển trong một chuyến đi - tổng khối lượng hàng luân chuyển trong một chuyến đi

1.4 Các mô hình quản trị kinh tế - tài chính

Trên thế giới hiện nay, phổ biến các mô hình quản trị kinh tế - tài chính sau đây :

- Mô hình hoạt động kinh doanh theo tư duy giá trị gia tăng;

- Mô hình hoạt động kinh doanh theo tư duy chuỗi giá trị;

- Mô hình quản trị chi phí theo mục tiêu (Target costing);

- Mô hình quản trị chi phí theo hướng cải tiến liên tục chi phí (Keizen costing);

- Mô hình quản trị chi phí Taguchi;

- Mô hình quản trị chi phí trên cơ sở hoạt động ABCM (Activity Based Cost Management).



1.5 Mô hình tổ chức bộ máy công tác kế toán quản trị chi phí và tính giá thành

Mô hình tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp được mô tả theo hình 1.2.



Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị

Hình 1.2 Mô hình tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng DNVTB mà các DNVTB có thể tổ chức bộ máy kế toán theo một trong 3 hình thức sau: Hình thức tách biệt; Hình thức kết hợp và Hình thức hỗn hợp. Sau khi xác định, lựa chọn được mô hình hình thức tổ chức thích hợp từ các mô hình trên, các DN có thể tổ chức phân công công việc cụ thể trong bộ máy kế toán.

Kết luận chương 1: Trong chương này, luận án đã đề cập đến một số vấn đề chung, tổng quan về KTQT, đã phân tích các đặc điểm chủ yếu của hoạt động SXKD vận tải biển và ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi liên tục của các thành phần chi phí chuyến đi, do đó làm giá thành đơn vị vận tải thay đổi rất đa dạng và phức tạp. Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về KTQT CPSX và tính giá thành trong DNVTB, cụ thể hoá những tư duy quản trị rời rạc thành hệ thống các con số quy chuẩn qua những nội dung được xử lý bằng những phương pháp kỹ thuật thích hợp để cung cấp thông tin cho nhà quản trị, điều hành hoạt động DN hữu hiệu và hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH Ở CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM

2.1 Sự ra đời và phát triển kế toán quản trị

Lịch sử về kế toán doanh nghiệp chứng minh kế toán quản trị tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp; Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được hệ thống hoá và phát triển một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn ở những thập kỷ gần đây trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô, sự tiến bộ nhất định về khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, điều kiện xử lý thông tin.



2.2 Khung pháp lý kế toán Việt Nam về tổ chức KTQT chi phí và giá thành

Luật kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/06/2003, điều 3 khoản 4 đã chính thức ghi nhận thuật ngữ “ Kế toán quản trị”.

Thông tư số 53/2006/TT-BTC của bộ Bộ tài chính về hướng dẫn thực hiện KTQT trong các doanh nghiệp.

2.3 Những nhân tố thúc đẩy sự cần thiết phải tổ chức thực hiện KTQT chi phí và giá thành cho các DNVTB

2.3.1 Vai trò của ngành VTB trong nền kinh tế Việt Nam

Việt Nam có những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, trong đó VTB có vai trò rất quan trọng. Phát triển VTB lại tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư, phát triển các ngành kinh tế khác.



2.3.2 Chiến lược phát triển ngành VTB Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009. Theo quy hoạch này, đội tàu biển của Việt Nam sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ, các DNVTB phải có sự chuyển biến, bứt phá nhanh về quy mô hoạt động kinh doanh. Do đó, hệ thống thông tin quản lý tài chính, điều hành hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hệ thống kế toán phải phát triển, đổi mới nhằm đáp ứng được yêu cầu là công cụ quản lý tài chính của các DNVTB trong thời gian tới.

2.4 Mô hình tổ chức bộ máy tài chính- kế toán của các DNVTB

Qua khảo sát bộ máy tài chính - kế toán của các DNVTB trong Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES) có mô hình tổ chức tổng quát như hình 2.1.



2.5 Khái quát công tác kế toán chi phí và giá thành trong các DNVTB

2.5.1 Chế độ kế toán áp dụng

Chế độ kế toán áp dụng tại các doanh nghiệp vận tải biển hiện nay tuân thủ theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006; chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam đã được công bố.

Hình thức sổ kế toán áp dụng phổ biến là Nhật ký chung.

2.5.2 Thực tế phân loại chi phí dịch vụ vận tải biển

Thực hiện khảo sát, so sánh tình hình phân loại chi phí thực tế tại ba DNVTB điển hình của Vinalines về mặt quy mô và tính chất vận tải, ta có bảng so sánh ở bảng 2.1.



Hình 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy tài chính - kế toán của các DNVTB



Bảng 2.1 So sánh phân loại chi phí hoạt động vận tải tại ba doanh nghiệp vận tải biển tiêu biểu của Vinalines

Công ty VTB

Vinaship

Công ty VTB

Vosco

Công ty VTB

Vinalines (VLC)

Chi phí trực tiếp

Chi phí hoạt động

Chi phí vận tải

Chi phí cố định

- Lương

Running cost

- Khấu hao

- Tiền ăn

- Lương

- Bảo hiểm phương tiện

- BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

- BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

- Đăng kiểm trong nước

- Dầu nhớt

- Tiền ăn

- Đăng kiểm quốc tế

- Vật liệu

- Khấu hao CB

- Sửa chữa lớn

- Phụ tùng

- Sửa chữa

- Lương thuyền viên

- Sơn

+ SCTX

- Tiền ăn

- Đăng kiểm

+ SC định kỳ

- BHXH, BHTN

- Sửa chữa

- Vật liệu

- BHYT

- P & I

+ Sơn

- KPCĐ

- Hull

+ Dầu nhờn

- Bảo hiểm P&I

- Bồi thường hàng hóa

+ Phụ tùng

Chi phí biến đổi

- Quản lý phí

+ Vật liệu khác

- Nhiên liệu

- Cảng phí/ Đại lý phí

- Bảo hiểm

- Vật tư, CCDC

- Bốc xếp

- Đăng kiểm

- Sửa chữa TX

- Kiểm đếm

- Thông tin

- Cảng phí

- Nhiên liệu

- Quản lý phí

- Phí kiểm dịch

- Nước ngọt

Operating cost

- CP bốc xếp, kiểm kiện

- Claim

- Nhiên liệu

- Chi phí thông tin

- Chèn lót

- Cảng phí

- Chi phí giải phóng

Tàu nhanh



- Dem

- Chi phí xếp dỡ

- Phí vệ sinh hầm hàng

- Des

- Đại lý phí

- Tiền đò

- Hoa hồng

- Phí thuê chỗ (slot)

- Thuế VAT không

Được khấu trừ



-KHCB

- Phí thuê vỏ cont

- Phí tàu già

 

 



Chi khác 

- Lưu cont

- Chi phí thuê phương

tiện vận chuyển



- Khấu hao vỏ cont



Chi khác

- Chi phí hoa hồng

môi giới


Chi khác

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo chi phí của ba DNVTB”

Qua bảng so sánh phân loại chi phí của ba DN trên cho thấy: các DN đã có sự quan tâm đến quản lý chi phí ở các góc độ khác nhau. Cơ bản là quản lý cục bộ từng loại chi phí, tính chất liên kết các chi phí đến các đối tượng gây ra chi phí không được thể hiện.Việc nhận diện chi phí theo cách ứng xử của chi phí ở các DN trên không thực hiện đầy đủ. Chi phí hỗn hợp không được nhận diện tách biệt với chi phí biến đổi, do đó nhiều loại chi phí có tính chất hỗn hợp được xếp vào chi phí cố định hoặc chi phí biến đổi là không thích hợp. Cách phân loại chi phí ở các DNVTB trên thực tế hiện nay chưa phục vụ cho công tác dự toán chi phí.



2.5.3 Thực trạng công tác kế toán tập kợp chi phí, tính giá thành

Các DNVTB trong tổng công ty Vinalines kế toán CPSX và giá thành theo phương pháp kê khai thường xuyên, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Công tác kế toán chi phí, tính giá thành được thực hiện cơ bản theo các quy trình sau :



2.5.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Hình 2.2. Quy trình kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp



2.5.3.2 Kế toán nhân công trực tiếp

Hình 2.3. Quy trình kế toán chi phí nhân công trực tiếp



2.5.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung

Hình 2.4. Quy trình kế toán chi phí sản xuất chung



2.5.3.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành VTB

Các doanh nghiệp vận tải biển thuộc Vinalines sử dụng tài khoản 154 để tổng hợp chi phí sản xuất. Đối với khối vận tải biển được mở chi tiết cho từng tàu để tính giá thành vận tải cho từng con tàu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Cuối kỳ, giá thành dịch vụ vận tải biển được kế toán tập hợp riêng cho từng tàu, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán (chi tiết cho từng tàu).

Có TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (chi tiết cho từng tàu).



2.5.3.5 Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết trong kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành vận tải

Các sổ kế toán chi tiết chi phí, bảng tính giá thành của các DNVTB trong tổng công ty Vinalines được phản ánh ở phần phụ lục I của luận án.



2.5.3.6 Hệ thống bảng báo cáo chi phí, tính giá thành ở các DNVTB

Các báo cáo chi phí, tính giá thành; bảng hạch toán tàu; bảng ước tính kết quả kinh doanh của đội tàu được phản ánh ở phần phụ lục II của luận án.



2.6 Thực trạng công tác dự toán giá thành vận tải cho một chuyến đi của tàu để xác định giá cước vận chuyển.

Để xác định giá cước vận chuyển cho chuyến đi của tàu các DNVTB giao cho phòng khai thác thực hiện. Về cơ bản các DN đều dựa vào các số liệu báo cáo thực hiện từ kỳ trước và kinh nghiệm của các cán bộ khai thác để lập dự toán chi phí cho chuyến đi mà chưa có sự hỗ trợ cung cấp thông tin cập nhật từ bộ phận kế toán. Do đó công tác dự toán chi phí không dựa trên cơ sở tính toán khoa học.



2.7 Đánh giá thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải biển Việt Nam của một số doanh nghiệp tiêu biểu thuộc Vinalines

Thứ nhất: Về tổ chức bộ máy KTQT ở các DNVTB hiện nay chưa được thực hiện.

Thứ hai: Về công tác nhận diện và phân tích chi phí chưa thực sự được các DN quan tâm thực hiện.

Thứ ba: Về phương pháp tập hợp CPSX và giá thành vận tải về cơ bản phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất vận tải biển, đó là từng con tàu. Tuy nhiên, các DNVTB mới chỉ giới hạn tập hợp theo từng con tàu cho cả năm hoạt động mà chưa tập hợp chi tiết theo từng chuyến đi, từng tuyến vận tải, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của quản trị.

Thứ tư: Việc xây dựng quản lý và sử dụng hệ thống định mức, dự toán thực tế ở các DN VTB chủ yếu là do các bộ phận chức năng thực hiện như: bộ phận kế hoạch, kỹ thuật, vật tư mà chưa có sự tham gia hiệu quả của bộ phận kế toán.

Thứ năm: Các vấn đề thuộc về tổ chức và xử lý thông tin kế toán theo góc độ của kế toán quản trị chi phí, giá thành chưa được triển khai thực hiện ở các DN VTB.

Thứ sáu: Nhìn chung việc vận dụng hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán của các DN vận tải đã có sự bổ sung, xây dựng thêm so với quy định KTTC nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của KTQT.

Thứ bảy: Các báo cáo kế toán trong nội bộ của DN nhìn chung chưa thiết lập một cách đầy đủ để phục vụ cho yêu cầu quản lý.

Tóm lại, hệ thống kế toán chi phí hiện tại ở các DNVTB nói chung mới chỉ dừng ở việc thực hiện các yêu cầu của chế độ tài chính kế toán qui định đối với hệ thống KTTC.

Kết luận chương 2: Trong chương này, luận án đã tập trung phản ánh các vấn đề về khung pháp lý kế toán Việt Nam đối với việc tổ chức KTQT chi phí và giá thành; thực trạng kế toán chi phí chuyến đi cho tàu của các DNVTB trong Tổng công ty Hàng hải Việt Nam hiện nay. Thông qua tìm hiểu thực tế, luận án đã rút ra được những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong công tác kế toán chi phí, tính giá thành dưới góc độ của KTQT.

CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KTQT CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TRONG CÁC DNVTB VIỆT NAM

3.1 Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành trong các DN

3.1.1 Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức công tác KTQT của các nước phát triển trên thế giới và khu vực Đông Nam Á

3.1.1.1 Kế toán quản trị DN sản xuất ở Anh, Mỹ

KTQT trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ là nền KTQT tiên phong trên thế giới với khuynh hướng cung cấp thông tin hữu ích, thiết lập các quyết định quản lý bằng những mô hình, kỹ thuật định lượng thông tin.



3.1.1.2 Kế toán quản trị DN ở các nước Châu Âu

KTQT trong DN sản xuất ở các nước châu Âu như Pháp, Đức, có đặc trưng gắn kết chặt chẽ với KTTC, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ và có sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước.



3.1.1.3 Kế toán quản trị DN ở Nhật

KTQT ở Nhật phát triển phù hợp với đặc thù riêng theo phong cách quản lý với trọng tâm nâng cao chất lượng kiểm soát, kiểm soát định hướng trong nội bộ.



3.1.1.4 Kế toán quản trị DN ở Trung Quốc

KTQT ở Trung Quốc chưa có khuynh hướng riêng gắn liền với chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.



3.1.1.5 Kế toán quản trị DN ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á

KTQT ở một số nước khu vực Đông Nam Á còn non trẻ, manh mún, lệ thuộc và hỗn hợp các khuynh hướng khác nhau.



3.1.2 Kế toán quản trị chi phí của Pháp, Mỹ

3.1.2.1 Kế toán quản trị chi phí của Pháp

Theo hệ thống KTQT chi phí của Pháp, giá thành sản phẩm là khái niệm sử dụng để xác định hai giá phí dùng cho sản xuất và tiêu thụ dịch vụ mà DN phải bù đáp bằng doanh thu bán hàng.



3.1.2.2 Kế toán quản trị chi phí theo hệ thống kế toán Mỹ

Hệ thống KTQT chi phí của Mỹ dựa trên quan điểm mọi khoản chi tiêu đều tạo nên giá thành, chi phí được phân thành hai loại định phí và biến phí.



3.1.3 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào các DNVTB Việt Nam

KTQT chi phí và giá thành theo mô hình chi phí mục tiêu. kết hợp giữa kế toán chi phí theo các trung tâm chi phí (KTQT chi phí của Pháp) với kế toán chi phí và tính giá thành theo đơn đặt hàng (KTQT chi phí của Mỹ) là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của các DNVTB Việt Nam



3.2 Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy KTQT, KTQT CPSX và tính giá thành trong các DNVTB

3.2.1 Định hướng tổ chức bộ máy KTQT trong các DNVTB

Thứ nhất: Kết hợp giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính.

Thứ hai: Tổ chức KTQT CPSX và tính giá thành trên cơ sở định hướng phát triển của DNVTB trong tương lai.

Thứ ba: Yêu cầu tuân thủ cơ chế quản lý tài chính.

3.2.2 Lựa chọn mô hình tổ chức KTQT và KTQT chi phí, tính giá thành trong các DN VTB

Các DNVTB nên áp dụng mô hình tổ chức KTQT hỗn hợp mà trong đó KTQT là một bộ phận của bộ máy kế toán nhưng cần được xây dựng tách biệt phần KTQT chi phí, tính giá thành với phần hành kế toán chí phí, tính giá thành của KTTC.



3.3 Tổ chức hệ thống KTQT CPSX cho các DNVTB Việt Nam

3.3.1 Tổ chức hệ thống thông tin

Phân tích và mã hoá thông tin chi phí là công việc riêng mỗi DN cần thể hiện được chi phí theo các chức năng hoạt động kinh doanh của DN và chi phí theo các yêu cầu quản trị trong nội bộ DN.



3.3.2 Hoàn thiện hệ thống tài khoản chi phí chi tiết

Cụ thể, trên cơ sở tài khoản do BTC ban hành theo quyết đinh 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của BTC. Điều chỉnh, bổ sung những tài khoản chi tiết thích hợp với phản ảnh, cung cấp thông tin chi phí cho mục đích quản trị của các nhà quản lý các DNVTB.



3.3.3 Nhận diện các chi phí chuyến đi của tàu

Việc phân loại chi phí chuyến đi thành định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp giúp cho KTQT có thể dự toán và kiểm soát được sự biến động của từng chi phí



3.3.4 Lập các phương trình dự toán cho các chi phí hỗn hợp

Bằng cách sử dụng phần mềm Eview để xây dựng phương trình dự toán cho mỗi loại chi phí hỗn hợp trong từng kỳ nhất định. Do đó, việc dự toán chi phí cho từng tàu trên từng tuyến đường là hoàn toàn có căn cứ khoa học thực nghiệm và có tính khả thi.



3.3.5 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát chi phí

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật áp dụng cho từng con tàu, chạy trên từng tuyến đường.

Thiết lập hệ thống chứng từ ban đầu. Kiểm soát giá cả các yếu tố đầu vào nhằm quản trị chi phí. Xây dựng quy trình kiểm soát và luân chuyển từng loại chứng từ kế toán

3.4 Xây dựng hệ thống định mức chi phí chuyến đi cho tàu

Xây dựng những phương trình toán học với mô hình hồi quy bội (hay hồi quy đa biến), đơn vị sẽ sử dụng các kỹ thuật trong môn học kinh tế lượng để giải bài toán này. Từ đó việc phân tích được dựa trên cơ sở các số liệu được tính toán khoa học, chính xác và chi tiết, xác định được những nhân tố trực tiếp làm ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí.



3.5 Xây dựng hệ thống báo cáo dự toán chi phí chuyến đi của tàu

Hệ thống báo cáo dự toán chi phí chuyến đi cho tàu bao gồm các báo cáo sau:

- Bảng định mức chi phí nhiên liệu cho chuyến đi của tàu;

- Bảng định mức chi phí vật liệu cho chuyến đi của tàu;

- Bảng định mức chi phí nhân công cho chuyến đi của tàu;

- Bảng dự toán chi phí sản xuất chung cho chuyến đi của tàu;

- Báo cáo chi phí SXKD thực tế và tiềm ẩn;

- Báo cáo chi phí SXKD theo từng tuyến đường của các tàu;

- Báo cáo chi phí SXKD theo từng tàu trong kỳ.

3.6 Tổ chức hệ thống KTQT giá thành

Xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là từng con tàu theo từng chuyến đi. Xây dựng quy trình kế toán tập hợp CPSX tính giá thành được mô tả như hình 3.1.



Kết luận chương 3: Trong chương này, luận án đã đề xuất một giải pháp tổng thể công tác xây dựng một hệ thống kế toán quản trị để thu nhận và xử lý thông tin về chi phí, tính giá thành. Tổ chức kỹ thuật ghi sổ KTQT dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với KTTC. Các giải pháp được trình bày một cách chi tiết, cụ thể.


Kế toán tài chính

Kế toán quản trị

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế cấp thiết của các DNVTB Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và phát triển SXKD hiện nay. Luận án đã tập trung nghiên cứu các giải pháp để xây dựng một mô hình tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành vận tải biển cho các DNVTB Việt Nam. Luận án đã thực hiện một số nội dung cơ bản sau:

Luận án đã đề cập đến một số vấn đề chung tổng quan về KTQT, hệ thống hoá các lý luận cơ bản về KTQT CPSX và tính giá thành trong DNVTB, cụ thể hoá những tư duy quản trị rời rạc thành hệ thống quy chuẩn qua những nội dung được xử lý bằng những phương pháp kỹ thuật thích hợp để cung cấp thông tin cho nhà quản trị nắm rõ về bản chất chi phí và các phương pháp tính toán, quản trị giá thành. Mặt khác, luận án đã phân tích các đặc điểm chủ yếu của hoạt động SXKD vận tải biển và ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi liên tục của các thành phần chi phí chuyến đi, do đó làm giá thành đơn vị vận tải thay đổi rất đa dạng và phức tạp.

Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán CPSX và tính giá thành vận tải biển của các công ty vận tải biển trong Tổng công ty Hàng hải Việt Nam hiện nay. Ngoài việc tập trung phản ánh các vấn đề về thực trạng kế toán chi phí chuyến đi cho các tàu trong năm, thông qua tìm hiểu thực tế, luận án đã phân tích quá trình thực hiện quản trị nói chung và KTQT chi phí, tính giá thành nói riêng trong các DNVTB. Đồng thời rút ra được những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong công tác kế toán chi phí, tính giá thành; phân loại và nhận diện chi phí; dự toán chi phí hỗn hợp; phân tích chi phí theo góc độ của KTQT.

Luận án đã đề xuất một giải pháp tổng thể về công tác xây dựng hệ thống thu nhận và xử lý thông tin về chi phí và tính giá thành, tổ chức kỹ thuật ghi sổ KTQT dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với KTTC. Luận án đã có một số điểm mới sau:

Lần đầu tiên ở Việt Nam, luận án đã xây dựng một mô hình tổ chức công tác KTQT chi phí và tính giá thành vận tải dự toán chuyến đi ứng dụng cho các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam. Đó sẽ là nguồn cung cấp thông tin quan trọng, có cơ sở khoa học và thực tế linh hoạt, đáng tin cậy cho việc ra các quyết định về giá cước, kiểm soát chi phí và các quyết định quản trị khác.



2. KIẾN NGHỊ

Một số kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, Bộ tài chính và các DNVTB để vận dụng phổ biến và có hiệu quả mô hình tổ chức KTQT chi phí và giá thành vào thực tiễn như sau:



2.1. Về phía các cơ quan Nhà nước và Bộ tài chính

Thứ nhất: Đó là công tác chỉ đạo thực hiện

Những hoạt động kế toán cần nhanh chóng có sự tổng kết, đánh giá về công tác tổ chức KTQT trong các DN, cần đưa ra các điển hình tiên tiến và những bài học kinh nghiệm ở các DN đã tổ chức tốt KTQT để thấy được tác dụng của nó đối với hoạt động quản lý cũng như thành công của DN. Đây cũng là cách tuyên truyền, phổ biến về vai trò và sự cần thiết của tổ chức KTQT.



Thứ hai: Hoàn thiện về lý luận KTQT ở Việt Nam

Nhà nước có chức năng quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần tham gia vào việc xây dựng hệ thống KTQT, đầu tư cho các công trình nghiên cứu để đưa ra được các mô hình KTQT cho các DN lựa chọn và vận dụng,, vì nhiều DN còn lúng túng chưa biết cách tổ chức và sử dụng thông tin của hệ thống kế toán này. Cụ thể như sau:

- Xác lập mô hình KTQT cho các loại hình DN: Công nghiệp chế tạo, kinh doanh du lịch, dịch vụ, vận tải, bưu điện, dầu khí…..

- Xác lập mô hình KTQT theo từng quy mô DN, từ lớn, trung bình, đến vừa và nhỏ.



2.2 Về phía các doanh nghiệp

Trên thực tế hiện nay, việc tổ chức KTQT trong các DN vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ. Để sử dụng hiệu quả công cụ này, DN cần chú ý một số vấn đề sau:

- Hệ thống KTQT không có một quy chuẩn pháp lý chung nào về hình thức lẫn nội dung báo cáo. Do đó, DN phải tự xây dựng một hệ thống chỉ tiêu KTQT cụ thể theo mục tiêu quản trị đặt ra.

- DN cần xây dựng một đội ngũ nhân sự làm công tác kế toán không những có chuyên môn nghiệp vụ kế toán mà còn có sự hiểu biết về hoạt động SXKD của DN, từ đó mới có thể đưa ra các phân tích, đánh giá chính xác trên cơ sở số liệu thu thập được.

- Báo cáo của KTQT nên sử dụng kết hợp với các báo cáo khác của DN để có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố đang tác động đến hoạt động của DN.

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý số liệu. DN nên sử dụng một hệ thống phần mềm quản trị thống nhất để quá trình lấy số liệu kịp thời và không bị sai sót.



DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

  1. Vương Toàn Thuyên, Vũ Trụ Phi, Đỗ Thị Mai Thơm (2000), Hạch toán vận tải, Nhà xuất bản Giao thông vận tải.

  2. Đỗ Thị Mai Thơm, Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Báo cáo hội nghị khoa học- công nghệ, Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu tài chính kiểm soát nội bộ hoạt động kinh doanh của công ty VOSCO.

  3. Đỗ Thị Mai Thơm (2006), Vai trò quan trọng của kế toán quản trị giá thành trong các công ty vận tải biển Việt Nam hiện nay, Tạp chí giao thông vận tải, số 4/2006, tr 58.

  4. Đỗ Thị Mai Thơm (2006), Mô hình kiểm soát chi phí có hiệu quả theo trung tâm quản lý chi phí trong các doanh nghiệp, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, số 7+8/11/2006, tr122-124.

  5. Đỗ Thị Mai Thơm (2007), Các phương pháp dự toán chi phí khác trong doanh nghiệp vận tải biển, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, số 10-7/2007, tr 71-73.

  6. Đỗ Thị Mai Thơm (2007), Những giải pháp để phát triển kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vận tải biển, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, số 11+12-11/2007, tr 64-66.

  7. Đỗ Thị Mai Thơm (2008), Nghiên cứu hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải trong các doanh nghiệp vận tải biển, Chủ nhiệm đề tài NCKH cấp trường.

  8. Đỗ Thị Mai Thơm (2009), Ảnh hưởng của các phương pháp kế toán quản trị trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, số 18-6/2009, tr80-83.

  9. Đỗ Thị Mai Thơm (2011), Định hướng phát triển phương thức kế toán quản trị theo chuỗi giá trị trong các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam, Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, số 26-3/2011, tr71-74.








Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương