Bộ CÔng thưƠng báo cáo mô HÌnh cơ quan cạnh tranh kinh nghiệm quốc tế VÀ BÀi học cho việt nam



tải về 0.59 Mb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu15.03.2018
Kích0.59 Mb.
  1   2   3   4




BỘ CÔNG THƯƠNG

BÁO CÁO

MÔ HÌNH CƠ QUAN CẠNH TRANH -

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM


HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2017

MỤC LỤC




5. Về quy trình xử lý vụ việc cạnh tranh 11

2. Hội đồng cạnh tranh 15

B. Những bất cập của mô hình cơ quan cạnh tranh Việt Nam hiện nay 18

1. Bất cập về địa vị pháp lý của cơ quan cạnh tranh 18



PHỤ LỤC 1: MÔ HÌNH CƠ QUAN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 33

PHỤ LỤC 2: CÁC CƠ QUAN CẠNH TRANH TRỰC THUỘC BỘ / NGÀNH 64

PHỤ LỤC 3: CÁC CƠ QUAN CẠNH TRANH THUỘC CHÍNH PHỦ HOẶC QUỐC HỘI 66

I. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC TRONG VIỆC XÂY DỰNG CƠ QUAN CẠNH TRANH

A. Các yêu cầu đối với một cơ quan cạnh tranh hiệu quả

1. Yêu cầu về tính độc lập

Qua thực tế nghiên cứu các mô hình cơ quan cạnh tranh các nước, nhìn chung cơ quan cạnh tranh đều mang tính “lưỡng tính” hay bản chất là “hành chính bán tư pháp”. Điều này có nghĩa là cơ quan cạnh tranh vừa là cơ quan hành chính, chịu trách nhiệm thực thi các chính sách, pháp luật theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa là cơ quan hoạt động mang tính tài phán khi có quyền ra quyết định điều tra, xử phạt và đưa ra các biện pháp chế tài đối với các bên có hành vi vi phạm pháp luật. Cách tiếp cận này cũng gợi mở ra một tư duy vượt khỏi cách tiếp cận truyền thống về phương pháp tổ chức bộ máy nhà nước phải được chi theo lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bên cạnh đó, sự kết hợp hai đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Ví dụ rõ nét nhất về tính lưỡng tính của cơ quan cạnh tranh được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban thương mại lành mạnh của Nhật Bản. Căn cứ Luật của Nhật Bản, có thể chia chức năng của Uỷ ban này làm hai loại: chức năng hành chính và chức năng tư pháp. Chức năng hành chính bao gồm: (i) ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chống độc quyền; (ii) thực hiện phối hợp với các ngành khác trong việc soạn thảo luật và chính sách ngành; (iii) hợp tác quốc tế về cạnh tranh và chống độc quyền. Về thẩm quyền tư pháp, khi xử lý vụ việc vi phạm Luật chống độc quyền, Uỷ ban có thể thi hành Luật đối với vụ việc hoàn toàn dựa vào các điều khoản và cách hiểu như tòa án.

Chính vì vậy, với chức năng hành chính bán tư pháp, để đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý các vụ việc, đảm bảo công bằng trong tố tụng cạnh tranh, vì mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, yếu tố quan trọng nhất đó là đảm bảo tính độc lập cho cơ quan cạnh tranh. Tính độc lập được thể hiện ở việc cơ quan cạnh tranh không chịu chi phối hay can thiệp bởi các cơ quan khác (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và sử dụng những quyền hạn được quy định theo Luật để yêu cầu sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan có liên quan.

Để tạo lập sự độc lập về mặt tổ chức và tài chính, một số nước như Ý, Hung-ga-ry đã thành lập cơ quan cạnh tranh của mình trực thuộc Quốc hội, độc lập với tư pháp và chính phủ. Các nước như Đức, Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Úc, Mê-xi-cô,v.v có cơ quan cạnh tranh trực tiếp trực thuộc Chính phủ. Một số cơ quan cạnh tranh khác lại được tổ chức như một Bộ hay ngang Bộ, độc lập với các bộ ngành khác. Một số trường hợp khác như Ca-na-đa, Anh, Pháp, Bỉ, Trung Quốc,v.v. mặc dù đặt trong một bộ ngành nào đó nhưng lại duy trì một chế độ độc lập rất cao trong hoạt động. Các cơ quan này chỉ bị phụ thuộc về mặt hành chính. Việc độc lập này còn đạt được thông qua bổ nhiệm những nhân sự của các cơ quan cạnh tranh này. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh các nước còn quy định rõ ngân sách hoạt động cũng như chế độ đãi ngộ cho các cơ quan cạnh tranh và thành viên cơ quan này.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong khuôn khổ pháp lý và thể chế, cần đảm bảo sự cân bằng giữa “tính độc lập” của cơ quan cạnh tranh và “khả năng thực thi mục tiêu chính sách công của Chính phủ”. Hay nói cách khác đó là đảm bảo tính độc lập và tính chịu trách nhiệm của cơ quan cạnh tranh., các quyết định của cơ quan cạnh tranh cần được quy định có thể được xem xét, rà soát lại thông qua thủ tục pháp lý. Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh cần đảm bảo rằng các yếu tố chính trị hay các lợi ích nhóm không tác động đến hoạt động, quyết định, phán quyết trong thực thi pháp luật cạnh tranh.

Theo nghiên cứu của UNCTAD (2001) về “Nền tảng xây dựng cơ quan cạnh tranh hiệu quả”, một số biện pháp nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa tính độc lập và trách nhiệm giải trình của cơ quan cạnh tranh được đề xuất gồm:

(i) Trao cơ quan cạnh tranh quyền hạn pháp lý riêng biệt, tự quyết về các công việc phát hiện, điều tra, xử lý trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh;

(ii) Quy định tiêu chuẩn chuyên môn đối với các vị trí được bổ nhiệm trong tổ chức cơ quan cạnh tranh;

(iii) Có sự tham gia đại diện về hành pháp và lập pháp của Chính phủ trong quá trình bổ nhiệm lãnh đạo cơ quan cạnh tranh;

(iv) Cần có quy định về việc bổ nhiệm người đứng đầu và các thành viên lãnh đạo theo thời hạn nhất định;

(v) Cung cấp đầy đủ, ổn định nguồn tài chính cho cơ quan cạnh tranh; các phí do cơ quan cạnh tranh thu được nên được sử dụng để chi trả cho quá trình hoạt động của cơ quan cạnh tranh, tránh trường hợp có sự can thiệp về chính trị thông qua việc cung cấp ngân sách hoạt động.

2. Yêu cầu về tính minh bạch

Minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước là một đòi hỏi hết sức quan trọng, trong đó, đối với cơ quan cạnh tranh với chức năng và nhiệm vụ thực thi luật, thì việc minh bạch hóa càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn. Điều này xuất phát chính từ vai trò trong việc duy trì trật tự cạnh tranh rõ ràng, lành mạnh. Thông tin trong thị trường phải được thông suốt. Tính minh bạch sẽ nâng cao thêm uy tín của chính các cơ quan này.

Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia nghiên cứu nói trên đều quy định rất chặt chẽ về những yêu cầu phải công bố công khai các hoạt động của cơ quan cạnh tranh. Ngoài ra, các bên liên quan có quyền yêu cầu các cơ quan cạnh tranh cho phép tiếp cận thông tin liên quan tới vụ việc. Trên thực tế, các cơ quan cạnh tranh cũng luôn đề cao tiêu chí minh bạch trong các hoạt động cụ thể của mình, từ việc công khai các chính sách, pháp luật cũng như các quy trình xử lý công việc… cho đến nội dung các quyết định cụ thể trên các website của mình. Tuy nhiên, cơ quản cạnh tranh phải có trách nhiệm bảo mật các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra liên qua đến bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp là đối tương bị điều tra.

3. Yêu cầu về nguồn lực

Yêu cầu về nguồn lực tài chính

Tại hầu hết các nước, kinh phí hoạt động cho cơ quan cạnh tranh đều lấy từ ngân sách nhà nước. Ở một số nước, khoản ngân sách này được quy định trong pháp luật cạnh tranh. Chẳng hạn, Luật chống độc quyền của Ý quy định: cơ quan chống độc quyền được cấp ngân sách từ Chính phủ Trung ương thông qua việc phân bổ ngân sách hàng năm. Trong phạm vi ngân sách này, cơ quan có trách nhiệm quản lý chi phí điều hành và hoạt động. Cơ quan chống độc quyền kết thúc năm tài khoá của mình vào ngày 30/4 của năm tiếp theo, và phải đệ trình báo cáo lên Cơ quan kiểm toán.

Ngân sách dành cho cơ quan cạnh tranh của các nước đang ngày càng được tăng lên do tính chất của công việc. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì thị trường cũng ngày càng được mở rộng, hành vi vi phạm của các chủ thể kinh doanh ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn. Lượng công việc cho các cơ quan cạnh tranh cũng đang ngày càng tăng dần lên. Hầu hết các nước đều ý thức được điều này và đã có sự ưu tiên nhiều hơn đối với công tác quản lý cạnh tranh.

Yêu cầu về nguồn nhân lực

Kinh nghiệm các nước cho thấy người đứng đầu (Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh, Chủ tịch và thành viên Hội đồng Cạnh tranh) được bổ nhiệm bởi những người đứng đầu Chính phủ hoặc Quốc hội. Điều này nhằm đảm bảo tính chất quan trọng và tính độc lập của cơ quan cạnh tranh trong quá trình hoạt động. Tiêu chuẩn của các cán bộ cơ quan cạnh tranh (bao gồm cả các điều tra viên cạnh tranh) cần phải đạt được trình độ chuyên môn nhất định, có học vấn cao, có kinh nghiệm và kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ví dụ như Cơ quan chống độc quyền Ý có một Chủ tịch và bốn thành viên được chỉ định bởi Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện. Chủ tịch được chọn trong số những người nổi tiếng về tính độc lập, những người giữ vị trí cao trong bộ máy công quyền; bốn thành viên là những người nổi tiếng trên những vị trí độc lập, là thẩm phán của Toà hành chính tối cao, Toà Kiểm toán, Toà Phúc thẩm Tối cao, giáo sư đại học, hay đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, những người đã được công nhận về tiêu chuẩn nghiệp vụ. Mỗi thành viên của cơ quan này có nhiệm kỳ 7 năm và không được tái bổ nhiệm. Cơ quan chống độc quyền có thể thuê tới 220 người, cả nhân viên trong biên chế và hợp đồng có thời hạn. Ủy ban Thương mại lành mạnh Hoa kỳ hoạt động dưới sự chỉ đạo của 5 Ủy viên có nhiệm kỳ 7 năm, được bổ nhiệm bởi Tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng nghị viện. Tổng thống chỉ định một Ủy viên đảm trách chức vụ Chủ tịch. Không quá 3 Ủy viên là thành viên của một Đảng.

Bảng thống kê sau đây cho thấy số lượng nhân viên tại một số cơ quan cạnh tranh các nước trên thế giới:



Bảng: Thống kê số lượng cán bộ cơ quan cạnh tranh một số nước

STT

Cơ quan cạnh tranh

Số lượng nhân viên

1

Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ

1110

2

Ủy ban thương mại lành mạnh Nhật Bản

779

3

Ủy ban thương mại lành mạnh Đài Loan

222

4

Ủy ban Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Úc

813

5

Cục Cạnh tranh Ca-na-đa

435

6

Cơ quan Cạnh tranh Pháp

200

7

Ủy ban Cạnh tranh Thụy Sỹ

76

8

Ủy ban Cạnh tranh Xinh-ga-po

90

Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo thường niên cơ quan cạnh tranh các nước, 2017

Trên thực tế, các nguồn lực hoạt động của các cơ quan cạnh tranh ngày càng tăng lên nhanh chóng. Điều này càng cho thấy được vai trò quan trọng và sự ưu tiên của các nước trong việc tăng cường phát triển cơ quan cạnh tranh.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Mạng lưới cạnh tranh thế giới (ICN), cơ quan cạnh tranh các nước mới ban hành và thực thi luật cạnh tranh thường gặp khó khăn về cả nguồn tài chính và nguồn nhân lực như thiếu các điều tra viên có kinh nghiệm trong nghiệp vụ điều tra vụ việc cạnh tranh, nguồn lực tài chính còn nhiều hạn chế trong hoạt động tiến hành điều tra vụ việc, thiếu sự phối hợp giữa cơ quan cạnh tranh và các cơ quan quản lý chuyên ngành,v.v.

4. Yêu cầu về quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ

Nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh đó là đảm bảo thực thi hiệu quả pháp luật cạnh tranh. Qua nghiên cứu mô hình cạnh tranh của một số nước, có thể đúc rút ra một số chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh gồm:

(i) Điều tra, xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường;

(ii) Điều tra, xử lý các hành vi chống độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường;

(iii) Kiểm soát quá trình sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp trên thị trường;

(iv) Điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường; và

(v) Thực hiện các hoạt động khác nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Bên cạnh đó, mục tiêu của chính sách cạnh tranh là bảo vệ cạnh tranh trên thị trường, hướng tới cốt lõi cuối cùng là bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ người tiêu dùng. Do đó, chính sách cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng có quan hệ mật thiết với nhau. Qua nghiên cứu kinh nghiệm các cơ quan cạnh tranh trên thế giới, nhiều quốc gia có mô hình cơ quan cạnh tranh đồng thời là cơ quan bảo vệ người tiêu dùng như Úc, Colombia, Phần Lan, Pháp, Hungary, Niu Di-lân, Na Uy, Peru, Ba Lan, Liên bang Nga, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ,v.v. Cơ quan cạnh tranh vừa có thẩm quyền thực thi chính sách cạnh tranh vừa có thẩm quyền thực thi chính sách bảo vệ người tiêu dùng.

Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn trên, hầu hết các cơ quan cạnh tranh đều có hai thẩm quyền cơ bản:

- Phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh.

- Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh.

Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của các nước ta thấy không có một cơ quan cạnh tranh nào thực hiện thêm chức năng thực thi các pháp luật về biện pháp bảo đảm công bằng trong thương mại quốc tế.

B. Về mô hình cơ quan cạnh tranh

1. Về vị trí của cơ quan cạnh tranh

Như đã đề cập ở trên, dù tổ chức theo mô hình nào thì yếu tố quan trọng tiên quyết đó là để đảm bảo tính độc lập cho cơ quan cạnh tranh. Hiện nay, trên thế giới có xu hướng rằng cơ quan cạnh tranh ngày càng độc lập và ít chịu sự kiểm soát của các Bộ/ ngành. Theo nghiên cứu của UNCTAD (2011) đối với 112 quốc gia trên thế giới, hơn nửa số quốc gia có cơ quan cạnh tranh độc lập, và không trực thuộc các Bộ/ Ngành. Trong đó, 20 quốc gia đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi cũng có cơ quan cạnh tranh độc lập.

Theo một báo cáo nghiên cứu khác thực hiện thống kê số liệu và thông tin của 150 cơ quan cạnh tranh trên toàn thế giới1, 1/3 số cơ quan cạnh tranh trên thế giới (cụ thể là 47 cơ quan, chiếm 31%) thuộc Chính phủ, gồm các nước như Ấn Độ, Ăc-hen-ti-na, Đài Loan, Đức, Hàn Quốc, Liên Bang Nga, Úc, Vê-nê-zuê-la,v.v. Gần một nửa số cơ quan cạnh tranh (cụ thể là 63 cơ quan, tương đương với 42% tổng số) trên thế giới là các cơ quan thuộc các Bộ/ Ngành, như Cục các ten Liên Bang Đức thuộc Bộ Kinh tế và Năng lượng Liên Bang Đức, Ủy ban Cạnh tranh Hy Lạp thuộc Bộ Kinh tế, Cạnh tranh và Vận tải biển, Ban Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Lào thuộc Bộ Công Thương, Ủy ban Cạnh tranh Nam Phi thuộc Bộ Công Thương, v.v.

Chỉ có số rất ít cơ quan cạnh tranh (7 cơ quan, chiếm tỷ lệ 5%) thuộc Quốc hội gồm một số nước Bul-ga-ria, Cro-tia, Hung-ra-ry, Albania, Kosovo. Còn lại 22% (33 cơ quan) số cơ quan cạnh tranh được tổ chức theo mô hình khác và là cơ quan độc lập như Ủy ban Quốc gia về bảo vệ cạnh tranh Armenia, Ủy ban Nhà nước về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Tòa Cạnh tranh Ca-na-đa, Tòa án bảo vệ cạnh tranh tự do Chi-lê, Ủy ban Cạnh tranh cộng đồng Caribê, Ủy ban thúc đẩy cạnh tranh Costa Rica.



Bảng: Số liệu thống kê vị trí pháp lý của cơ quan cạnh tranh các nước

STT

Số lượng

Tỷ lệ

Số cơ quan cạnh tranh thuộc Quốc hội

07

5%

Số cơ quan cạnh tranh thuộc Chính phủ

47

31%

Số cơ quan cạnh tranh thuộc các Bộ/ Ngành

63

42%

Khác (Tòa án)

33

22%

Nguồn: Số liệu thống kê từ website Mạng lưới cạnh tranh thế giới (ICN, 2017)

Dựa trên kết quả nghiên cứu về tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh, các cơ quan cạnh tranh thuộc Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn, giúp đảm bảo và thúc đẩy việc tập trung chuyên môn, tính công chính, minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm giải trình của cơ quan này. Tự chủ về quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm cũng như đào tạo nhân sự, tự chủ về mặt ngân sách hoạt động đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh có thực quyền cao hơn. Đây là kinh nghiệm từ nhiều quốc gia có cơ quan cạnh tranh hoạt động rất hiệu quả như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Ca-na-đa, Úc,v.v. nơi mà cơ quan quản lý cạnh tranh đều có vị trí độc lập và quyền tự chủ.

Bên cạnh đó, cơ quan cạnh tranh các nước thuộc Chính phủ thì người đứng đầu cơ quan cạnh tranh và các thành viên Hội đồng cạnh tranh đều do Thủ tướng hoặc Tổng thống ra quyết định bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Trong tổng số 150 cơ quan cạnh tranh được khảo sát, chỉ có 33 cơ quan cạnh tranh có người đứng đầu được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng. Do đó, cho dù các cơ quan cạnh tranh thuộc Bộ/ Ngành, nhưng người đứng đầu chịu trách nhiệm của cơ quan cạnh tranh vẫn do Chính phủ ra quyết định bổ nhiệm, nhằm đảm bảo tính độc lập cho cơ quan cạnh tranh trong quá trình thực thi luật.

2. Về cơ cấu tổ chức và bộ máy lãnh đạo

Theo mô hình chung về bộ máy lãnh đạo trong cơ cấu tổ chức cơ quan cạnh tranh, có hai hình thức gồm (i) Hội đồng đa thành viên, hoặc (ii) Người đứng đầu duy nhất. Phần lớn cơ quan cạnh tranh các nước đều theo mô hình cơ quan cạnh tranh được điều hành và quản lý theo mô hình Hội đồng đa thành viên, gồm các quốc gia Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ca-na-đa, Úc, Liên minh Châu Âu, v.v.

Việc thành lập bộ máy lãnh đạo trong cơ quan cạnh tranh gồm nhiều thành viên nhằm đảm bảo rằng các thành viên đưa ra những ý kiến chuyên môn chuyên sâu, khách quan đối với các công việc mang tính thực thi pháp luật cạnh tranh. Ví dụ điển hình cho mô hình này đó là cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo của Ủy ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC). JFTC gồm 01 chủ tịch và 04 ủy viên gồm các chuyên gia luật và kinh tế có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực điều tra, thanh tra, kiểm tra, xét xử hoặc các hoạt động xây dựng chính sách. Các thành viên của Hội đồng lãnh đạo của JFTC được bổ nhiệm bởi Thủ tướng trên trên cơ sở đồng thuận của cả Thượng viện và Hạ viện. Chủ tịch và các ủy viên được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 05 năm và nghỉ hưu ở tuổi 70, họ không bị miễn nhiệm trừ khi gây ra sai phạm trong thời gian đương nhiên.

Để đảm bảo tính khách quan và chính xác trong các phán quyết của JFTC đối với các vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch và các ủy viên của JFTC thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập. Hội đồng cạnh tranh JFTC có quyền ra phán quyết đối với các vụ việc cạnh tranh trên thị trường.



3. Về số lượng cơ quan cùng thực thi

Theo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, hầu hết các nước đều có 01 cơ quan cạnh tranh duy nhất nhằm đảm bảo thống nhất trong quá trình thực thi chính sách và pháp luật cạnh tranh quốc gia. Trong đó, hầu hết các quốc gia đều hướng tới xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh độc lập trong cả về tổ chức và hoạt động. Bên cạnh đó, để đảm bảo độc lập trong tổ chức và hoạt động thì mô hình hiệu quả hiện nay là cơ quan cạnh tranh phải là một cơ quan ngang Bộ, thuộc Quốc hội hoặc Chính phủ.

Hiện nay, có 04 quốc gia có từ 02 cơ quan cạnh tranh trở lên, tuy nhiên, chức năng, nhiệm vụ được phân chia theo lĩnh vực, nhóm hành vi chứ không phân chia theo giao đoạn tố tụng gồm Trung Quốc, Bờ biển Ngà, Tunisia và Hoa Kỳ. Có 04 quốc gia có Tòa án cạnh tranh riêng trong hệ thống tư pháp gồm Ca-na-đa, Chi-lê, Nam Phi và Ấn Độ. Duy nhất có Việt nam trong số hơn 130 quốc gia có mô hình hai cơ quan cạnh tranh có vai trò và thực thi các khâu và giai đoạn khác nhau trong quá trình tố tụng cạnh tranh. Theo đó, điểm yếu của việc tách biệt hai cơ quan cạnh tranh trong quá trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh phát sinh nhiều bất cập.

4. Về chức năng của cơ quan cạnh tranh

Như đã đề cập ở trên, do mối quan hệ mật thiết giữa chính sách cạnh tranh và chính sách bảo vệ người tiêu dùng, một số cơ quan cạnh tranh các nước đồng thời là cơ quan thực thi pháp luật và chính sách bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, theo thống kê, chỉ có 11/150 cơ quan cạnh tranh trên thế giới có chức năng, nhiệm vụ thực thi đồng thời hai lĩnh vực cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có Việt Nam và một số quốc gia phát triển như Úc, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch.



Bảng: Cơ quan cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

STT

Quốc gia

Tên cơ quan cạnh tranh

Cơ quan chủ quản

1

Ai-len

Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Bộ Việc làm, doanh nghiệp và đổi mới

2

Ba Lan

Cơ quan cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

Chính phủ

3

Đan Mạch

Cơ quan cạnh tranh và người tiêu dùng

Bộ Kinh tế và thương mại

4

Gambia

Ủy ban cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng

Quốc hội

5

Hà Lan

Cơ quan tiêu dùng và thị trường

Quốc hội

6

Lào

Ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

Bộ Công Thương

7

Mông Cổ

Cơ quan cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng

Chính phủ

8

Panama

Cơ quan bảo vệ cạnh tranh và người tiêu dùng

Chính phủ

9

Phần Lan

Cơ quan cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

Chính phủ

10

Úc

Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

Chính phủ

11

Việt Nam

Cục Quản lý cạnh tranh

Bộ Công Thương

5. Về quy trình xử lý vụ việc cạnh tranh


Xét trên khía cạnh quy trình xử lý vụ việc cạnh tranh, các cơ quan cạnh tranh trên thế giới có thể được phân ra theo 03 mô hình sau:

(i) Mô hình cơ quan cạnh tranh chia nhánh: nghĩa là cơ quan cạnh tranh có thẩm quyền điều tra, đưa vụ việc lên tòa án xét xử và có thể đề nghị cưỡng chế, có quyền kháng cáo lên tòa án phúc thẩm (ví dụ cơ quan cạnh tranh Úc, Ja-mai-ca);

(ii) Mô hình cơ quan cạnh tranh hai cấp xét xử: nghĩa là cơ quan cạnh tranh có thẩm quyền điều tra và có trách nhiệm trình vụ việc đưa lên cơ quan cạnh tranh chuyên trách xét xử, có quyền kháng cáo đến cơ quan chuyên trách xét xử về cạnh tranh và tòa án phúc thẩm chung (ví dụ cơ quan cạnh tranh Nam Phi, Chi-lê); và

(iii) Mô hình cơ quan cạnh tranh thống nhất: nghĩa là cơ quan cạnh tranh có cả quyền điều tra và xét xử, quyền kháng cáo đến cơ quan chuyên trách xét xử về cạnh tranh hoặc cơ quan phúc thẩm (ví dụ cơ quan cạnh tranh EU, Trung Quốc).

Hầu hết các quốc gia xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh có tính chất kết hợp giữa các mô hình cấu trúc nêu trên, phù hợp với quy định pháp luật, bối cảnh kinh tế - xã hội – chính trị và luật pháp quốc gia. Ví dụ như đa số các cơ quan cạnh tranh có quyền điều tra và ra quyết định đối với các vụ việc tập trung kinh tế, có quyền điều tra các vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh/ độc quyền nhưng không có quyền phán quyết đối với các vụ việc này. Việc đưa ra phán quyết cuối cùng đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh sẽ được xét xử theo quy trình tố tụng tại Tòa án.

Việc phân chia các mô hình cơ quan cạnh tranh này dựa trên cấu trúc, mức độ trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan cạnh tranh trong quy trình xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của luật. Tuy nhiên, mô hình cơ quan cạnh tranh thống nhất sẽ đem lại tính tập trung, quyền lực phán xét cao nhất cho cơ quan cạnh tranh.

II. THỰC TRẠNG CƠ QUAN CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM

A. Quy định pháp luật liên quan đến cơ quan cạnh tranh Việt Nam

Theo quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam, hệ thống hai cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh gồm (i) Cục quản lý cạnh tranh và (ii) Hội đồng cạnh tranh.



1. Cục Quản lý cạnh tranh

Năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2005 thành lập Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) với chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) thực hiện (1) quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật Cạnh tranh), (2) quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (thực thi Pháp lệnh về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ); (3) bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng); (4) phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ.

Trong thực thi pháp luật cạnh tranh, Cục QLCT có nhiệm vụ, quyền hạn: (i) kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, (ii) thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, (iii) điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh, (iv) xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh, (v) các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Tại thời điểm thành lập, cơ cấu tổ chức của Cục QLCT bao gồm:

(1) Ban Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh,

(2) Ban Giám sát và quản lý cạnh tranh,

(3) Ban Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh,

(4) Ban Bảo vệ người tiêu dùng,

(5) Ban Xử lý chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ,

(6) Ban Hợp tác quốc tế,

(7) Văn phòng.

Trong quá trình hoạt động, song song với công tác thực thi pháp luật cạnh tranh, Cục QLCT cũng đã không ngừng được kiện toàn bằng việc thành lập các trung tâm thông tin, trung tâm đào tạo và văn phòng đại diện tại miền Trung và miền Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

Năm 2007: Thành lập văn phòng đại diện Cục QLCT tại Tp. Hồ Chí Minh.

Năm 2008: Thành lập Trung tâm Thông tin cạnh tranh.

Năm 2009: Thành lập Văn phòng đại diện Cục QLCT tại Đà Nẵng, Thành lập Trung tâm đào tạo Điều tra viên.

Để triển khai Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương (thay thế Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Công Thương và Nghị định số 44/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi Điều 3, Nghị định số 189/2007/NĐ-CP), ngày 05 tháng 02 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục QLCT.




Lãnh đạo Cục
Hình: Sơ đồ tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh từ năm 2013 đến nay


Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục

Bộ máy giúp việc Cục trưởng

- Văn phòng Cục - Trung tâm đào tạo điều tra viên

- Phòng Giám sát và quản lý cạnh tranh - Trung tâm thông tin cạnh tranh

- Phòng Điều tra và xử lý các hành vi CTKLM

- Phòng Điều tra vụ việc HCCT

- Phòng Điều tra vụ kiện PVTM của DN trong nước

- Phòng Xử lý các vụ kiện PVTM của nước ngoài

- Phòng Bảo vệ người tiêu dùng

- Phòng Kiểm soát HĐ theo mẫu, điều kiện GD chung

- Phòng Hợp tác quốc tế

- Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng

- Văn phòng đại diện tại TP. HCM

Cùng với công tác kiện toàn tổ chức, các nguồn lực hoạt động của Cục QLCT cũng không ngừng gia tăng. Ngân sách hoạt động của Cục QLCT có xu hướng tăng dần. năm 2007 khi mới thành lập ngân sách hoạt động của Cục QLCT vào khoảng 7 tỷ đồng. Năm 2009 tăng lên 16,5 tỷ đồng và năm 2014 tăng lên khoảng 23,4 tỷ đồng.

Nguồn nhân lực của Cục QLCT cũng được tăng cường qua các năm, đạt tới con số 104 cán bộ, công chức, viên chức vào năm 2014. Từ năm 2015 cho tới nay, do một số cán bộ chuyển công tác và thực hiện chủ trương tinh giản biên chế của Chính phủ nên số lượng cán bộ, công chức, viên chức đã giảm.



Bảng: Nguồn nhân lực Cục Quản lý cạnh tranh giai đoạn 2005 – 2015

Nguồn nhân lực

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

Số lượng cán bộ

40

60

85

92

99

102

104

104

95

Tuổi trung bình

32

30

29

31

32

31

31

31

32

Chuyên ngành

Luật

10

20

30

18

25

25

26

26

24

Kinh tế

20

35

40

57

56

59

60

60

57

Khác

10

15

15

17

15

15

15

15

14

Giới tính

Nam

27

42

50

50

51

52

53

53

48

Nữ

13

28

35

42

48

50

51

51

47

Số điều tra viên

03

12

12

21

21

21

33

33

35

2. Hội đồng cạnh tranh


Hội đồng cạnh tranh (HĐCT) có vai trò quan trọng mang tính quyết định trong việc xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh. HĐCT là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, được thành lập theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HĐCT.

Theo quy định tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP, HĐCT có nhiệm vụ và quyền hạn: (1) Tổ chức xử lý các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, (2) Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để giải quyết vụ việc cạnh tranh, (3) Yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, (4) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hành chính, (5) Giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, (6) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 53, Luật Cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh có từ mười một (11) đến mười lăm (15) thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương. Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng cạnh tranh là (05) năm năm và có thể được bổ nhiệm lại.

Để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng cạnh tranh, pháp luật đã quy định cơ quan giúp việc của Hội đồng cạnh tranh là Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh. Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh là đơn vị thuộc Bộ Công Thương nhưng có chức năng giúp Hội đồng cạnh tranh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Cạnh tranh.

Tháng 1/2015, với việc ban hành Nghị định số 07/2015/NĐ-CP, Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh đã đuợc chuyển đổi trở thành Văn phòng Hội đồng cạnh tranh, tuy nhiên vẫn giữ nguyên mô hình là một đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương.

3. Quy trình điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh


  • Đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM)

Điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh gồm 2 bước: điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Sau khi thụ lý hồ sơ khiếu nại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc phát hiện hành vi của doanh nghiệp trên thị trường có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ quyết định việc điều tra sơ bộ và phân công cho điều tra viên tiến hành việc điều tra sơ bộ. Sự bắt đầu thủ tục điều tra sơ bộ là bước đầu tiên trong quy trình tiến hành thủ tục tố tụng đối với hành vi CTKLM. Thời hạn điều tra sơ bộ 30 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ.

Trong thời hạn này, điều tra viên được phân công điều tra vụ việc cạnh tranh phải hoàn thành điều tra sơ bộ và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc điều tra chính thức. Theo Điều 88 Luật Cạnh tranh, căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị của điều tra viên, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra một trong các quyết định sau:

(i) Đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm quy định của Luật này.

(ii) Điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh.

Thời hạn điều tra chính thức đối với vụ việc CTKLM là 90 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra chính thức, không phân biệt là vụ việc phức tạp hay không phức tạp; nhưng trong trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn một lần không quá 60 ngày. Tổng thời gian điều tra chính thức kể cả gia hạn đối với một vụ việc CTKLM tối đa là 150 ngày.

Như vậy, việc ra quyết định điều tra, xử lý các vụ việc CTLKM do Cục Quản lý cạnh tranh thực thi.



  • Đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh (HCCT)

Tương tự, điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh gồm 02 bước: điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Tuy nhiên, thời hạn điều tra chính thức đối với vụ việc HCCT là 180 ngày, trong trường hợp cần thiết có thể ra hạn nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 60 ngày. Như vậy, tồng thời gian điều tra chính thức kể cả gia hạn đối với vụ việc HCCT là 300 ngày.

Tuy nhiên, sau khi hoàn thành kết thúc điều tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh phải chuyển báo cáo điều tra cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi HCCT đến Hội đồng cạnh tranh.

Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất năm thành viên, trong đó có một thành viên làm Chủ tịch. Trên cơ sở hồ sơ vụ việc cạnh tranh do Cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển sang sau khi kết thúc điều tra, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ tổ chức phiên điều trần và ra quyết định xử lý theo cơ chế biểu quyết.

Như vậy, Cục Quản lý cạnh tranh có chức năng tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, điều tra sơ bộ, chính thức đối với vụ việc HCCT. Tuy nhiên, việc ra quyết định và xử lý vụ việc HCCT do Hội đồng Cạnh tranh thực thi.



Bảng: Phân định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan cạnh tranh

Giai đoạn và trình tự xử lý vụ việc cạnh tranh

Nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh

Nhóm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Khởi xướng điều tra

Cục QLCT

Cục QLCT

Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại

Cục QLCT

Cục QLCT

Đánh giá, thẩm định hồ sơ

Cục QLCT

Cục QLCT

Quyết định điều tra sơ bộ

Cục QLCT

Cục QLCT

Quyết định đình chỉ điều tra, điều tra chính thức

Cục QLCT

Cục QLCT

Điều tra chính thức

Cục QLCT

Không

Chuyển báo cáo điều tra, và toàn bộ hồ sơ vụ việc

Cục QLCT

Không

Tiếp nhận báo cáo điều tra, và hồ sơ vụ việc

HĐCT

Không

Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, quyết định đình chỉ giải quyết, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, mở phiên điều trần

HĐCT

Không

Tổ chức phiên điều trần

HĐCT

Không

Quyết định xử lý

HĐCT

Cục QLCT

Giải quyết khiếu nại Quyết định xử lý

HĐCT

Bộ trưởng Bộ Công Thương



Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương