A/ quan đIỂM, ĐỊnh hưỚng của nhà NƯỚc về quản lý ngoại thưƠng và thực trạng hoạT ĐỘNG ngoại thưƠng của việt nam



tải về 1.71 Mb.
trang8/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.71 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

4. Dịch vụ phân phối


Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, dịch vụ phân phối tạo nên nhóm hành vi cơ bản và là đối tượng cơ bản của các quy định pháp luật về phân phối. Dịch vụ phân phối bao gồm các dịch vụ bán buôn, bán lẻ, đại lý mua bán hàng hoá và nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Cơ quản lý nhà nước trong dịch vụ phân phối là Bộ Công Thương. Các công cụ được sử dụng để quản lý bao gồm: Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; quy hoạch; đăng ký hệ thống phân phối. Việc áp dụng các công cụ theo quy định của văn bản chuyên ngành.



4.1 Dịch vụ bán buôn, bán lẻ

4.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

- Nghị định 59/2006/NĐ-CP quy định về hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định số 43/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Thông tư 08/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

- Thông tư 34/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Các văn bản chuyên ngành.

4.1.2 Nội dung quy định quản lý

Việc quản lý dịch vụ bán buốn, bán lẻ được dựa trên các quy định về điều kiện kinh doanh, cấp phép hoạt động, phạm vi hoạt động, quy hoạch hệ thống phân phối, quản lý cơ sở hạ tầng, quản lý bán hàng đa cấp.



- Quy định điều kiện kinh doanh:

Điều kiện kinh doanh tùy thuộc vào quy định tại văn bản chuyên ngành đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay, có khoảng 30 hàng hóa có quy định về điều kiện kinh doanh. Nội dung các điều kiện này phụ thuộc vào từng đặc thù của hàng hóa, dịch vụ được phân phối và yêu cầu quản lý nhà nước đối với loại hàng hóa, dịch vụ đó.

Các điều kiện này thường gắn liền với điều kiện về cơ sở vật chất (cơ sở kinh doanh, kho, bến bãi …), quy mô kinh doanh (hệ thống phân phối), năng lực tài chính, điều kiện về chủ thể (trình độ chuyên môn hoặc phải là doanh nghiệp), về quy hoạch.

Đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh, việc hạn chế kinh doanh thể hiện ở điều kiện kinh doanh có bao gồm điều kiện về loại hình doanh nghiệp hoặc quy hoạch thể hiện sự giới hạn chủ thể kinh doanh phân phối. Việc hạn chế có thể bằng quy hoạch như thuốc lá hoặc quy định loại hình chủ thể ví dụ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước như vật liệu nổ công nghiệp, pháo, vũ khí quân sự…, loại trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phân phối một số mặt hàng như lúa gạo, thuốc lá, dược phẩm, xăng dầu…)

Việc đáp ứng các điều kiện này được kiểm soát bằng hình thức cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh bán buôn/ bán lẻ hoặc bằng hình thức hậu kiểm.

- Quy định về cấp phép hoạt động:

Như đã đề cập, cấp phép là một hình thức để đảm bảo việc kinh doanh đáp ứng các điều kiện theo quy định. Do vậy việc cấp phép chỉ được tiến hành đối với một số hàng hóa hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện mà văn bản chuyên ngành yêu cầu phải có Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Hình thức Giấy phép kinh doanh bao gồm Giấy phép bán buôn/ giấy phép bán lẻ hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Theo quy định tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP, hình thức Giấy phép kinh doanh áp dụng đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh trong khi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh áp dụng đối với hàng hóa kinh doanh có điều kiện. Cơ quan cấp phép bao gồm Trung ương và/ hoặc địa phương tùy thuộc vào phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khi kinh doanh dịch vụ phân phối, phải được cấp phép để có quyền phân phối trước. Việc cấp phép này được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đầu tư (đối với doanh nghiệp lần đầu đầu tư vào Việt Nam) hoặc Giấy phép kinh doanh để có quyền thực hiện dịch vụ phân phối cụ thể. Ngoài ra, khi lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải xin Giấy phép lập cơ sở bán lẻ. Giấy phép này được cấp trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT).

- Quy định về phạm vi hoạt động:

Tổ chức lưu thông hàng hóa theo Giấy phép kinh doanh bán buôn/ bán lẻ đã được cấp. Trong đó,

+ Thương nhân bán buôn được bán buôn cho các thương nhân bán buôn khác và bán buôn cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ bán lẻ chính mặt hàng đó. Đối với một số mặt hàng, thương nhân có Giấy phép bán buôn được bán lẻ tại các địa điểm thuộc sở hữu của thương nhân với mục đích giới thiệu sản phẩm (thuốc lá).

+ Thương nhân kinh doanh bán lẻ chỉ được bán lẻ cho người tiêu dùng. Hoạt động bán lẻ gắn với địa điểm kinh doanh được quy định trên Giấy phép (nếu có). Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc mở cơ sở bán lẻ thứ hai phải được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế như đã nói ở trên. Việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ cơ quan quản lý đầu tư (trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam) quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Công Thương. Hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP.



- Quy hoạch hệ thống phân phối:

Quy hoạch là một công cụ để quản lý hệ thống phân phối nói chung trong đó có dịch vụ bán buôn/ bán lẻ thông qua việc tiết chế hệ thống phân phối ở mức hợp lý khi đưa ra các tiêu chí để đặt điểm phân phối. Địa điểm phân phối phải phù hợp với quy hoạch là một trong các điều kiện kinh doanh được áp dụng đối với một số hàng hóa. Ngoài ra còn có quy hoạch đối với cơ sở hạ tầng phân phối như chợ, siêu thị, trung tâm thương mại; quy hoạch Có hai loại quy hoạch là quy hoạch trên phạm vi toàn quốc và quy hoạch địa phương.

Hiện tại, trong hoạt động phân phối công cụ này được áp dụng với thuốc lá (quy hoạch mạng lưới kinh doanh bán buôn/ bán lẻ thuốc lá), xăng dầu (quy hoạch cửa hàng bán lẻ xăng dầu).

- Quản lý cơ sở hạ tầng thương mại:

Đưa ra các tiêu chí phân loại và mô hình quản lý hoạt động của chợ, trung tâm thương mại, siêu thị.

Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động xây dựng chợ của tư nhân

4.2 Đại lý

4.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

- Luật Thương mại 2005;

- Nghị định 59/2006/NĐ-CP quy định về hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 43/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;

- Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

- Các văn bản liên quan khác.

4.2.2 Nội dung quy định

- Điều kiện để trở thành đại lý:

Để trở thành đại lý phân phối một số hàng hóa như rượu, thuốc lá, xăng dầu, LPG, các chủ thể phải đáp ứng các điều kiện nhất định tùy theo quy định cụ thể tại văn bản chuyên ngành

Các điều kiện này bao gồm điều kiện về chủ thể (như loại hình hoạt động; trình độ chuyên môn); điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật; điều kiện về quy hoạch; điều kiện về hệ thống phân phối (bao gồm số lượng cửa hàng bán lẻ – xăng dầu)

- Phạm vi hoạt động:

Phạm vi hoạt động của đại lý tùy thuộc vào việc đáp ứng điều kiện và cấp phép mà đại lý được quyền bán buôn hoặc/và bán lẻ. Thông thường một chủ thể có thể làm đại lý cho nhiều thương nhân khác nhưng trong hoạt động phân phối một số hàng hóa (xăng dầu, LPG), số lượng này lại bị giới hạn.



- Công cụ quản lý:

Hoạt động cấp phép được thực hiện khi các văn bản chuyên ngành có quy định. Hiện tại, một số mặt hàng có quy định cấp phép gồm xăng dầu, LPG, rượu, thuốc lá.

Ngoài ra, còn có quy định cấp phép cho việc đăng ký hệ thống đại lý (xăng dầu, rượu, thuốc lá, LPG); hạn chế trong việc ký kết hợp đồng đại lý.

4.3 Nhượng quyền thương mại

4.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh:

- Luật Thương mại năm 2005

- Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại 

- Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại

- Quyết định 106/2008/QĐ-BTC về thu phí đối với hoạt động đăng ký nhượng quyền thương mại.

4.3.2 Nội dung quy định

- Quy định điều kiện nhượng quyền thương mại:

Thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại.

Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại và Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại

Các trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền

+ Nhượng quyền trong nước;

+ Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài.

Đối với các trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền phải thực hiện chế độ báo cáo Sở Công Thương

Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại.

- Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh nhượng quyền thương mại:

Hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại là hàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh.

Trường hợp hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh, Danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành cấp Giấy phép kinh doanh, giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện kinh doanh

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyên hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, ngoài việc đáp ứng những quy định về điều kiện kinh doanh nhượng quyền, chỉ được thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo cam kết quốc tế của Việt Nam. Đến thời điểm hiện nay, theo Thông tư số 34/2013/TT-BCT một số mặt hàng gồm thuốc lá và xì gà, sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô và dầu đã qua chế biến, gạo, đường mía và đường củ cải, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được quyền phân phối, bao gồm cả việc kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền thương mại.



- Đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại:

Trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài dự kiến nhượng quyền phải đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Trong đó, Bộ Công Thương thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại sau đây:

Thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại được quy định cụ thể tại quy định Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại và Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại và Thông tư 09/2006/TT-BTM.

5. Dịch vụ vận tải đường bộ

5.1 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh:

- Luật giao thông đường bộ;

Nghị định 91/2009/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ôtô;

- Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

- Nghị định 33/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

- Nghị định 71/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

- Nghị định 93/2012/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 91/2009/NĐ-CP ngày 21/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô;

- Các Thông tư, quyết định hướng dẫn.

5.2 Quy định về quản lý nhà nước và cơ quan quản lý

Kinh doanh vận tải đường bộ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật. Kinh doanh vận tải đường bộ gồm kinh doanh vận tải hành khách, kinh doanh vận tải hàng hóa.

Theo quy định tại Điều 84 của Luật giao thông đường bộ thì việc quản nhà nước trong hoạt động giao thông đường bộ bao gồm: xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông đường bộ; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về an toàn giao thông đường bộ; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ; quy chuẩn, tiêu chuẩn về giao thông đường bộ; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ; đăng ký, cấp, thu hồi biển số phương tiện giao thông đường bộ; cấp, thu hồi giấy chứng nhận chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông đường bộ; quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải; tổ chức cứu nạn giao thông đường bộ…

Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Giao thông vận tải là cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.



5.3 Điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải bằng xe ô tô

Để được kinh doanh vận tải bằng xe ô tô thương nhân phải đáp ứng các quy định sau:

- Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật

- Bảo đảm số lượng, chất lượng và niên hạn sử dụng của phương tiện phù hợp với hình thức kinh doanh

- Phương tiện phải gắn thiết bị giám sát hành trình

- Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe

- Người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh vận tải của doanh nghiệp, hợp tác xã 

phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, chứng minh có đủ thời gian cần thiết để thực hiện hoạt động điều hành

- Nơi đỗ xe bố trí đủ diện tích đỗ xe theo phương án kinh doanh; đảm bảo các yêu cầu về an ninh trật tự, diện tích đỗ xe có thể thuộc quyền sở hữu hoặc thuê

- Riêng đối với Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, xe buýt, xe taxi ngoài các điều kiện nêu trên phải có thêm các điều kiện sau:

+ Có bộ phận quản lý các điều kiện về an toàn giao thông;

+ Đăng ký chất lượng dịch vụ vận tải hành khách với cơ quan quản lý tuyến gồm: chất lượng vcf phương tiện; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên phục vụ; phương án tổ chức vận tải; các quyền lợi của hành khách; các dịch vụ cho hành khách trên hành trình; cam kết thực hiện chất lượng dịch vụ.



III. Một số đặc điểm của hệ thống pháp luật điều chỉnh liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ

- Như đã nêu ở trên hệ thống quy định pháp luật trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ rất rộng và được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau. Do vậy, hệ thống văn bản có thể nói là rất phức tạp.

- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dưới nhiều cấp độ khác nhau từ Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư, thậm chí có thể có công văn điều hành.

- Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu dịch vụ được quản lý bởi nhiều Bộ. Các Bộ, ngành chính tham gia lý là Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Lao động thương binh và xã hội, Ngân hàng nhà nước, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh được ủy quyền quản lý các dịch vụ tại các địa phương phù hợp với quy định của pháp luật. Mỗi Bộ, ngành chịu trách nhiệm một hoặc một số lĩnh vực dịch vụ cụ thể, ví dụ Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý về dịch vụ vận tải, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý về dịch vụ phân phối, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm...

- Đa số các dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu đều có quy định cấp phép, tuy nhiên, do được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật riêng và chịu sự quản lý của từng Bộ, ngành khác nhau, vì vậy, việc cấp phép đối với từng dịch vụ là khác nhau. Bên cạnh đó, thủ tục cấp phép được quy định bởi các văn bản pháp quy riêng, nhìn chung các văn bản đều quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp phép.

D/ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG

I. Thể chế hóa các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thông qua việc xây dựng, ban hành Luật Quản lý ngoại thương


Từ những hạn chế, bất cập và khó khăn trong thực trạng pháp luật và quản lý nhà nước về ngoại thương cho thấy cần thiết phải xây dựng một đạo luật thống nhất các biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương, trong đó bao gồm các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch; các biện pháp phòng vệ thương mại; các biện pháp xúc tiến ngoại thương; các biện pháp khẩn cấp; các biện pháp hành chính... để khắc phục sự tản mát, dàn trải của biện pháp kiểm soát ngoại thương được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật (dưới luật) và sự thiếu hụt các biện pháp quản lý ngoại cũng như thiếu hụt trong phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương trong thời gian qua.

Pháp luật của các quốc gia được nghiên cứu đều có chung một thực tế là xây dựng một đạo luật riêng, điều chỉnh hoạt động ngoại thương dù tên gọi các đạo luật này là khác nhau (ví dụ Trung Quốc có Đạo luật Ngoại Thương 2004, Thái Lan có Đạo luật xuất nhập khẩu hàng hóa B.E.2536 1993, chi tiết trong báo cáo kinh nghiệm quốc tế về ngoại thương). Đạo luật này điều chỉnh các chính sách quản lý xuất nhập khẩu thống nhất và ổn định, quán triệt nguyên tắc hiệu quả, khách quan, minh bạch để đáp ứng các yêu cầu của WTO. Xây dựng,ban hành Luật Quản lý ngoại thương nhằm tạo một cơ sở pháp lý duy nhất trong quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa, trong đó quy định các điều khoản điều chỉnh hành vi của các đối tượng liên quan đến xuất nhập khẩu như các tổ chức quản lý xuất nhập khẩu, doanh nghiệp tham gia nhập khẩu. Tăng cường phối hợp và cải thiện cơ chế phân chia, phân bổ và hợp tác trong quản lý nhà nước đối với xuất nhập khẩu ở cấp bộ, ngành và địa phương. Nhấn mạnh vai trò điều phối của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển hoạt động xuất nhập khẩu.


II. Hoàn thiện thiết chế thực thi pháp luật về ngoại thương


Việc hoàn thiện thiết chế thực thi pháp luật về ngoại thương nhằm tăng cường sự thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện các chiến lược, quy hoạch, cơ chế, chính sách, pháp luật và sử dụng các biện pháp quản lý, điều tiết, thúc đẩy và kiểm soát hoạt động ngoại thương. Trong đó, việc nghiên cứu, đề xuất thành lập và kiện toàn các cơ quan chức năng có đủ năng lực đề xuất, xây dựng chính sách, sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý, điều tiết hoạt động ngoại thương, kiểm tra, kiểm soát và giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến ngoại thương là rất cần thiết trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mau lẹ, khó lường.

Điều hành hoạt động ngoại thương theo chiến lược, kế hoạch thống nhất ở cấp Chính phủ, trong đó đầu mối là Bộ Công Thương, cụ thể:

- Ban hành, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa, phát triển thị trường, xúc tiến ngoại thương, đàm phán và ký kết về hội nhập kinh tế quốc tế trong từng thời kỳ;

- Ban hành, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý ngoại thương

- Thực hiện đàm phán, ký kết, điều phối việc thực hiện các điều ước quốc tế về ngoại thương.

- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý ngoại thương; xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý ngoại thương theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan

- Giải quyết tranh chấp trong ngoại thương theo thẩm quyền

Bên cạnh đó, phải có sự phân công, phân nhiệm cho các bộ, ngành thực thi các nhiệm vụ cụ thể theo kế hoạch, chiến lược chung.



III. Xây dựng, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý xuất nhập khẩu phù hợp với cam kết quốc tế

Nhằm tận dụng tối đa các cam kết tác động có lợi cho phát triển ngoại thương của Việt Nam, khắc phục những tác động bất lợi của các cam kết quốc tế, nhất là các cam kết WTO và các FTA mà Việt Nam tham gia. Chủ động có các giải pháp ứng phó cả về mặt luật pháp, chính sách, biện pháp quản lý, tổ chức bộ máy, các nguồn lực khác,…nhằm hạn chế những tác động bất lợi của các FTA mà Việt Nam mới tham gia (FTA Việt Nam – EU, FTA Việt Nam với Liên minh Hải quan Nga – Belarus – Kazakhstan, FTA Việt Nam – Hàn Quốc,…) và các hiệp định sẽ tham gia trong thời gian tới (Hiệp định TPP, RCEP, Việt Nam – EFTA…) đối với hoạt động ngoại thương.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc đối với những cam kết trong WTO, các quy định luật pháp chuyển từ cách tiếp cận định hướng phòng vệ sang cách tiếp cận mang tính chủ động hơn. Những rào cản thương mại không công bằng và cơ chế bảo hộ mà Trung Quốc trải qua cũng đã góp phần vào sự chuyển đổi này. Cách tiếp cận theo định hướng mang tính chủ động có thể hữu ích đối với việc thiết lập một môi trường thương mại quốc tế công bằng hơn cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

IV. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu, minh bạch hóa các thủ tục hành chính


Trong hoạt động ngoại thương để giảm chi phí cho hoạt động xuất, nhập khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chỉnh liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như cấp giấy phép, thông quan, giám định, kiểm định hàng hóa xuất, nhập khẩu để thuận lợi hóa cho hoạt động kinh doanh xuất – nhập khẩu của các doanh nghiệp, góp phần tạo lòng tin cho các đối tác thương mại nước ngoài.

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm các thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, đơn giản hóa các bước trong giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa.



V. Một số quy định cụ thể

1. Hoàn thiện về quyền kinh doanh hoạt động của cá nhân

Pháp luật hiện hành chưa có quy định cho cá nhân được thực hiện hoạt động ngoại thương, tuy nhiên qua nghiên cứu pháp luật các nước cho thấy chủ thể tham gia hoạt động ngoại thương cần được xem xét để được thực hiện. Đây là kinh nghiệm từ Trung Quốc, quốc gia này cho phép cá nhân tại Trung Quốc có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngoại thương, bao gồm cả nhập khẩu. Sự thay đổi này đã tạo điều kiện đa dạng hóa các chủ thể hoạt động ngoại thương.



2. Hoàn thiện các biện pháp quản lý về diện mặt hàng, về cửa khẩu, về xuất xứ hàng hóa

2.1 Về diện mặt hàng

Đối với hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu vẫn cần phải áp dụng đối với một số loại hàng hóa nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn môi trường, an toàn lao động và các mục tiêu công cộng chính đáng khác phù hợp với những điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết, tham gia, tuy nhiên khi một loại hàng hóa cần đưa vào danh mục cấm, tạm ngừng phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc cụ thể mà được luật định.Tương tự như vậy, đối với hàng hóa hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu cũng cần phải có những nguyên tắc cụ thể khi áp dụng giấy phép hoặc điều kiện nhập khẩu. Theo đó, khi ban hành các danh mục hàng hóa cần phải quy định cụ thể mã HS và mô tả hàng hóa cụ thể.

Bên cạnh đó, hoàn thiện các quy định pháp luật về biện pháp khẩn cấp trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa: bổ sung thêm các biện pháp khẩn cấp có thể được áp dụng phù hợp với quy định của WTO (như vận dụng tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng cán cân thanh toán để áp dụng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu khẩn cấp), quy định rõ hơn về thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp (có quy định cụ thể về trường hợp nào do Thủ tướng Chính phủ và trường hợp nào do Bộ quản lý chuyên ngành quyết định việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp), quy định cụ thể các trường hợp áp dụng và cách thức áp dụng.

Liên quan đến hàng hóa nhập khẩu không vì mục đích tương mại, đề nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về nhập khẩu hàng hóa không vì mục đích thương mại: bổ sung quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục nhập khẩu loại hàng hóa này cũng định mức nhập khẩu loại hàng hóa này để tạo thuận lợi cho Bộ quản lý chuyên ngành trong quá trình xem xét và quyết định các trường hợp được phép nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu.

Theo kinh nghiệm của Ấn Độ, quy định về cách thức quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa bằng hệ thống mã số xuất nhập khẩu là một biện pháp có thể xem xét áp dụng thay bằng cấp giấy phép nhập khẩu. Theo quy định của hầu hết các nước (trong đó có Việt Nam), việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương được thực hiện thông qua hệ thống các giấy phép, chẳng hạn giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu…Các quy định về mã số xuất khẩu, nhập khẩu của Ấn Độ được đánh giá có tính áp dụng trên thực tế đảm bảo tính thống nhất, linh hoạt cao. Mặt khác, việc quản lý xuất khẩu, nhập khẩu bằng giấy phép, giấy chứng nhận được áp dụng trong một số trường hợp nhất định, xuất phát chủ động từ phía người tiến hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu khi họ nộp đơn đề nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép, giấy chứng nhận nếu người nộp đơn đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của cơ quan có thẩm quyền và từ chối việc cấp phép trong trường hợp ngược lại.

2.2 Về cửa khẩu

Cần ban hành các quy định về việc xác định các cửa khẩu được phép nhập khẩu một số loại hàng hóa, dựa trên phương pháp sử dụng đối với “kênh nhập khẩu”, tức là cho phép nhập khẩu đối với các hàng hóa liên quan đến môi trường tại một số cảng cửa khẩu cụ thể. Các cửa khẩu này có thể được phép nhập khẩu không giới hạn, nhưng với một quy trình quản lý và giám sát chất lượng nghiêm ngặt. Đối với các cửa khẩu khác, để thực hiện chính sách thương mại cửa khẩu, cần quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu để ngăn chặn nhập khẩu ồ ạt hàng hóa không được quản lý và có tác động đến môi trường. Do đặc điểm địa lý của Việt Nam là trải dài với đường biên giới dài trên đất liền và bờ biển dài cộng với cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị và nhân lực tại các cửa khẩu còn thiếu và hạn chế, chưa thể đáp ứng nhu cầu về quản ký chất lượng hàng hóa trong thông quan, biện pháp này sẽ giúp cải thiện việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và ngăn chặn hành vi nhập khẩu trái phép làm ảnh hưởng đến thị trường sản xuất nội địa, hủy hoại môi trường, cuộc sống và sức khỏe con người. Đây là biện pháp được WTO cho phép và được sử dụng hiệu quả bởi nhiều nước trên thế giới.



2.3 Về xuất xứ hàng hóa

Quy tắc xuất xứ trong đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA) cần được chú trọng như một biện pháp quản lý nhập khẩu hàng hóa với thuế quan ưu đãi giúp sàng lọc, hạn chế ưu đãi tiếp cận thị trường đối với những mặt hàng cần hỗ trợ sản xuất trong nước.

Rủi ro/phát sinh liên quan đến gian lận thương mại hàng nhập khẩu và tăng lượng nhập khẩu sẽ được hạn chế khi có quy định cụ thể về: (i) bộ tiêu chí xuất xứ chặt chẽ, đảm bảo về mặt quy trình kỹ thuật sản xuất ra hàng hóa và (ii) quy trình cấp và kiểm tra xuất xứ bài bản, có quy định chi tiết về thủ tục kiểm tra xuất xứ, trách nhiệm của doanh nghiệp và chế tài xử phạt đích đáng.

Về bộ tiêu chí xuất xứ:

Để hạn chế nhập khẩu hàng hóa với thuế quan ưu đãi, cần xây dựng một bộ tiêu chí xuất xứ mặt hàng đảm bảo bản chất sản xuất tạo ra hàng hóa tại nước thành viên FTA. Theo đó, cần tính đến:

- Các công đoạn gia công đơn giản không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa;

- Quy định đối với vấn đề chuyển tải, chia nhỏ lô hàng tại nước thứ ba để tránh trường hợp tráo hàng, gian lận thương mại để hưởng thuế quan ưu đãi.



Về quy trình cấp và kiểm tra xuất xứ để quy tắc xuất xứ ưu đãi phát huy vai trò bảo hộ nhập khẩu:

- Cần có quy định chi tiết về thủ tục, chứng từ chứng minh nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra được xác định là đáp ứng xuất xứ;

- Các cơ quan cấp C/O tập trung nguồn lực cho công tác cấp phép/hậu kiểm các nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ.

- Các nước thành viên FTA hợp tác trao đổi thông tin danh sách các nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ cho cơ quan Hải quan của nước nhập khẩu.



3. Hoàn thiện các biện pháp quản lý nhập khẩu bằng thuế quan

Định hướng chung đối với hoàn thiện biện pháp thuế quan trong thời kỳ tới là thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cắt giảm hàng rào thuế quan theo các lộ trình đã cam kết với WTO và các cam kết thương mại song phương/đa phương, tiếp tục giảm bảo hộ đối với sản xuất trong nước, nhất là khu vực thay thế nhập khẩu, khắc phục quan điểm chỉ chú trọng hỗ trợ đầu ra, ít chú trọng hỗ trợ đầu vào. Việc giảm bảo hộ sẽ góp phần giảm chi phí đầu vào đối với nền kinh tế nói chung, đối với khu vực sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng, đồng thời kích thích sản xuất trong nước giảm giá thành sản xuất theo đơn vị sản phẩm và tăng sức cạnh tranh. Ngoài ra, thuế quan sẽ hướng các nguồn lực trong và ngoài nước tập trung vào một số ngành nghề thay thế nhập khẩu.

Mặt khác, chính sách thuế nói chung, thuế quan nói riêng cần chú trọng tạo lập sự bình đẳng giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực 100% vốn trong nước. Cần thuế hóa các biện pháp phi thuế quan, vì việc sử dụng thuế quan vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa cải thiện tính minh bạch của chính sách thương mại và quan trọng hơn là phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Theo đó, các biện pháp phi thuế hiện nay trước hết cần được thay thế bằng thuế quan tương ứng để bảo hộ. Đồng thời để hoàn thiện hệ thống thuế quan, trong thời kỳ tới Nhà nước cần vừa hoàn thiện thuế quan thông thường (đánh thuế theo giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu), vừa xây dựng và sử dụng thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá, chống độc quyền và xử lý vấn đề “quyền tự vệ trong trường hợp khẩn cấp”; hạn chế sự phức tạp của các thủ tục hải quan, đơn giản hóa và mẫu hóa thống nhất các loại hóa đơn, chứng từ; cải tiến phương thức thu thuế giá trị gia tăng (VAT) tại khâu bán ra để doanh nghiệp không phản ứng trước tiền thuế và do đó không phải chịu lãi suất ngân hàng trên số tiền nộp thuế; tiến tới áp dụng thống nhất một thuế chung, không có sự phân biệt giữa khối doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI cũng như thuế áp dụng cho khu vực khuyến khích phát triển kinh tế thương mại (khu kinh tế cửa khẩu) với khu vực khác.

4. Hoàn thiện các biện pháp phòng vệ thương mại

Các biện pháp phòng vệ thương mại đã được quy định tại các pháp lệnh và các văn bản hướng tuy nhiên, trong thời gian qua trong quá trình thực thi vẫn tồn tại một số vướng mắc, bất cập. Do vậy việc pháp điển hóa các văn bản pháp luật về chống trợ cấp, chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ trong một đạo luật là cần thiết để nâng cao hiệu lực pháp lý của các công cụ này đồng thời là cơ hội để sửa đổi, bổ sung các quy định chưa phù hợp trong các văn bản nói trên. Việc làm này sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất, linh hoạt và có hiệu lực đủ mạnh trong việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Đồng thời, giải quyết được những khó khăn về mặt pháp lý và kỹ thuật cho các cơ quan có thẩm quyền, mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam sử dụng hiệu quả một trong số các công cụ quản lý ngoại thương để ngăn chặn những hành vi cạnh tranh không công bằng của hàng hóa nhập khẩu, trong khi vẫn có thể bảo vệ hữu hiệu ngành sản xuất còn non trẻ trong nước một cách hợp pháp.

Đồng thời, cần hoàn thiện, sửa đổi các quy định pháp luật điều chỉnh biện pháp phòng vệ thương mại để phù hợp với các quy định của WTO, chú trọng các quy định chưa rõ ràng hoặc do việc dùng từ ngữ dễ gây hiểu nhầm hoặc chưa chuyển tải hết quy định của WTO hoặc không có cơ sở để áp dụng (điều kiện áp dụng, phương pháp điều chỉnh khi tính toán biên độ bán phá giá, biên độ trợ cấp, các quy định về cam kết giá,..).

Bổ sung những quy định chi tiết hơn về các thủ tục, quy trình và tiêu chí điều tra để tạo điều kiện cho việc áp dụng các công cụ phòng vệ thương mại dễ hơn, đồng thời tránh sai sót khi áp dụng. Các quy định được bổ sung đảm bảo là công cụ ngăn chặn, xử lý các hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài vì những mục đích cạnh tranh thương mại không lành mạnh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa và tránh bị nước xuất khẩu khiến kiện trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp tại WTO. Một số vấn đề cần được quy định rõ thêm như các thủ tục thông báo (các bên liên quan, công khai thông tin, WTO), quyền và thủ tục tiếp cận thông tin của doanh nghiệp có quyền lợi liên quan, vấn đề bảo mật thông tin, các quy định thời hạn xử lý và phương pháp tính toán biên độ chống bán phá giá, biên độ trợ cấp.



5. Hoàn thiện các biện pháp phi thuế quan

Từ những quy định tản mát và thiếu tính khả thi của việc xây dựng các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật, an toàn thực phẩm trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm quốc tế và hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành, cần xây dựng chính sách quản lý có tính thực thi cao và mang tính ổn định, lâu dài trong đó có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan liên quan như quy định nguyên tắc quản lý chất lượng, an toàn đối với hàng hóa nhập khẩu; quy định áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quản lý chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và biện pháp xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm.

Trên cơ sở rà soát hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn, cần chuyển các tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn cơ sở… thành quy chuẩn quốc gia; và sửa đổi các quy chuẩn, quy tắc, thủ tục, tài liệu kỹ thuật cần thiết để được áp dụng như các quy chuẩn quốc gia. Ví dụ, cần sửa đổi các quy định của Thông tư 32/2009/TT-BCT ngày 5/11/2009 của Bộ Công Thương về quy cách tạm thời về giới hạn cho phép sử dụng chất formaldehyde, aromatic amine có thể phóng thích từ thuốc nhuộm dùng trong sản phẩm dệt may; quy định này nên được đưa thành quy chuẩn quốc gia. Ngoài ra, cần nghiên cứu các tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn quốc gia đối với các sản phẩm khác như giày, da, da nhập khẩu, sản phẩm điện tử, thiết bị; cần sửa đỏi các quy chuẩn quốc gia về quyên góp cho chất thải nhập khẩu (trừ các tiêu chuẩn về chất thải nhựa và thép như quy định).

Đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam, mã hóa hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn theo luật pháp của Việt Nam và phù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiệp định TBT và các cam kết quốc tế, cũng như của doanh nghiệp trong nước. Xây dựng, áp dụng và cấp giấy chứng nhận cho hệ thống quản lý môi trường và quản lý chất lượng theo ISO 9000, ISO 14000, HACCP, GMP, và SA 8000... Tổ chức chủ trì là Tổng cục Tiêu chuẩn và Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ, với sự phối hợp của Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, vv….

Bên cạnh đó, cần tăng cường đàm phán ký kết các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp (Thỏa thuận MAR) theo từng chuyên ngành; tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực để xúc tiến áp dụng phương pháp tương đương cho một số chuyên ngành sản phẩm. Xây dựng cơ chế hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước về thuận lợi hóa sự thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp, thừa nhận lẫn nhau về Giấy chứng nhận sự phù hợp,...

Về thủ tục đánh giá hợp chuẩn hợp quy, cần đầy mạnh nghiên cứu để công nhận các tiêu chuẩn, đẩy nhanh quá trình xây dựng và triển khai các dự án về đánh giá hợp chuẩn hợp quy trong bối cảnh đầu tư nhà nước cho việc xây dựng các tiêu chuẩn còn hạn chế (ví dụ, các tiêu chuẩn của một số nước châu Âu có thể được sử dụng cho nông phẩm và thực phẩm; các tiêu chuẩn của ASEAN có thể áp dụng cho máy móc thiết bị). Đẩy nhanh quá trình đàm phán, công nhận các tiêu chuẩn và quy chuẩn tương đương với tiêu chuẩn chất lượng của các tổ chức công nhận quốc tế, khuyến khích các tổ chức công nhận phù hợp ở Việt Nam ký kết và triển khai các công nước và hiệp định song phương, đa phương và khu vực về đánh giá hợp chuẩn hợp quy giữa Việt Nam và các quốc gia, khu vực là thị tường chính và tiềm năng, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì, với sự phối hợp của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, vv...

Trên cơ sở rà soát các quy định về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu trong các văn bản pháp luật hiện tại, cần bỏ các quy định trùng lặp và chồng chéo gây khó khăn và phức tạp cho việc quản lý và triển khai trên thực tế. Bên cạnh đó, việc chuẩn hóa và phân nhóm theo biểu thuế quan áp dụng với các sản phẩm phải qua kiển tra chuyên ngành và phân nhóm các cơ quan quản lý chức năng như Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Khoa học & Công nghệ, ngoài ra còn cần bổ sung các quy định cụ thể và phù hợp đối với hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành như hóa chất độc hại, phân bón, thuốc trừ sâu, vv….

Đề xuất xây dựng và áp dụng cơ chế mới về quản lý chất lượng từ xa nhằm ngăn chặn việc thâm nhập và lưu thông trên thị trường các hàng hóa không đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, yêu cầu an toàn và vệ sinh môi trường và không rõ nguồn gốc xuất xứ; cần xây dựng các quy định về cơ chế quản lý chất lượng tại các cơ sở sản xuất trong nước để xuất khẩu hàng hóa nếu cần thiết; tham gia tích cực vào hệ thống cảnh báo sớm về chất lượng hàng hóa giữa các nước.

Thiết lập và áp dụng hệ thống các quy định và tiêu chuẩn môi trường đối với sản phẩm, quy trình và phương pháp sản xuất, chế biến; nếu cần thiết, thực hiện giám sát trực tiếp tại cơ sở sản xuất và chế biến và không cho phép nhập khẩu vào Việt Nam nếu không thực hiện thủ tục giám sát đó.

Xây dựng và triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, sử dụng công nghệ sạch, sử dụng năng lượng sạch, tiêu dùng sạch để hạn chế nhập khẩu.



6. Hoàn hiện các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương

Đề nghị bổ sung quy định về các công cụ xúc tiến mới và các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu phù hợp với quy định của WTO; tăng cường hiệu lực pháp lý, hiệu lực thực thi đối với các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, chương trình thương hiệu quốc gia, quỹ xúc tiến xuất khẩu và các trung tâm xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài; bổ sung quy định tạo ra cơ chế lồng ghép giữa chiến lược xúc tiến xuất khẩu với chiến lược về phát triển thương hiệu quốc gia, chiến lược xúc tiến đầu tư, chiến lược xúc tiến du lịch và hoạt động trao đổi văn hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên thế giới; bổ sung quy định về cơ chế phối hợp hiệu quả trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu giữa các hiệp hội ngành hàng với cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu hàng hóa.



7. Hoàn thiện các biện pháp ưu đãi chính sách cho các khu hải quan riêng

Do các khu kinh tế được thành lập theo quyết định riêng rẽ của Thủ tướng Chính phủ nên quy định về hoạt động nhập khẩu tại không gian kinh tế riêng biệt chưa thực sự thống nhất.

Bên cạnh đó, văn bản pháp luật hiện hành chưa quy định rõ ràng về mối quan hệ giữa các khu kinh tế, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất… Do vậy, để khắc phục tình trạng này cần có văn bản quy định cụ thể mối quan hệ giữa các khu kinh tế là quan hệ xuất nhập khẩu hay quan hệ mua bán nội địa.

Ngoài ra, cần nghiên cứu có chính sách riêng về mặt hàng khi đưa vào khu này ví dụ hàng kinh doanh có điều kiện hoặc hạn chế kinh doanh khi sản xuất, kinh doanh trong các khu này có phải áp dụng các điều kiện như kinh doanh nội địa hay không.



8. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngoại thương

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuối thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được một giải pháp tích cực cho tranh chấp”, và ưu tiên những “giải pháp được các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan”. Xét ở mức độ rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc tế.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên, theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này. Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này. Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế đang tồn tại (thẩm quyền giải quyết của các cơ chế truyền thống không có tính bắt buộc mà phụ thuộc vào sự chấp thuận của các quốc gia liên quan).

Qua hơn một thập kỷ thực hiện, cơ chế giải quyết tranh chấp này đã tỏ rõ ưu thế của mình trong việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp giữa các quốc gia trong khuôn khổ WTO. Hiệu quả này đạt được chủ yếu dựa trên các qui định hết sức chặt chẽ về thủ tục được nêu tại các văn bản (nguồn) khác nhau, cơ chế thông qua quyết định mới (cơ chế đồng thuận phủ quyết), các cơ quan chuyên môn độc lập với các thời hạn cụ thể. Không phải ngẫu nhiên mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được coi là một trong những thành công cơ bản của Vòng đàm phán Urugoay.

Trên cơ sở các qui định rời rạc về giải quyết tranh chấp trong GATT, WTO đã thành công trong việc thiết lập một cơ chế pháp lý đầy đủ, chi tiết trong một văn bản thống nhất để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên WTO (bao gồm các quốc gia có chủ quyền và những lãnh thổ thuế quan riêng biệt) : Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) - Phụ lục 2 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO.

Ngoài ra, cơ chế này còn được có một số qui định riêng biệt trong các văn bản khác (được DSU viện dẫn đến) như:

- Điều XXII và XXIII GATT 1947 (Điều 3.1 DSU)

- Các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp tại các Hiệp định trong khuôn khổ WTO (Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT 1994…)

- “Quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt” GATT 1966: bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp giữa một nước kém phát triển và một nước phát triển (Điều 3.12 DSU) và các thủ tục đặc biệt áp dụng cho tranh chấp có một bên là nước kém phát triển nhất (Điều 2.4 DSU)

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này. Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này. Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế đang tồn tại (thẩm quyền giải quyết của các cơ chế truyền thống không có tính bắt buộc mà phụ thuộc vào sự chấp thuận của các quốc gia liên quan).

Việt Nam đã là thành viên của WTO nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh chấp thương mại có thể có với các thành viên WTO khác. Cơ chế này sẽ là một cứu cánh quan trọng để bảo vệ các lợi ích thương mại của chúng ta trong quan hệ thương mại quốc tế. Hiện tại, việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống án lệ đồ sộ của nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các quy định của hiệp định thương mại mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong quá trình thực thi hiệp định thương mại bởi hiệp định thương mại được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy tắc thương mại quốc tế đang có hiệu lực trong WTO.

9. Hoàn thiện các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu khác

9.1 Các biện pháp liên quan tới môi trường

Xây dựng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá, sản phẩm và các quy định về môi tr­ường (nhãn sinh thái, bao bì phế thải và tái chế bao bì ...).

Xây dựng cơ sở pháp lý để áp dụng nhãn sinh thái là một tiêu chuẩn, không chỉ giúp người tiêu dùng nhận thức về sản phẩm, tác động đối với môi trường mà còn giúp quản lý, kiểm soát xuất nhập khẩu. Việc Việt Nam căn cứ vào các tiêu chí của quốc gia mình để quyết định cấp nhãn hiệu sinh thái cho một sản phẩm nhập khẩu nào đó là một hàng rào hữu hiệu, phù hợp với quy định của WTO và với các Hiệp định FTA khác. Trước mắt, nghiên cứu, xem xét xác định danh mục các mặt hàng nhập khẩu cần áp dụng nhãn sinh thái bắt buộc.

9.2 Quy định về nhãn hàng hóa

Nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và mục tiêu quản lý nhập khẩu, sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về nhãn hàng hóa theo hướng hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài cần được in cảnh báo, in hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt, không cho phép sử dụng nhãn phụ.



9.3 Quy định về dán nhãn năng lượng

Nhãn năng lượng xác nhận là nhãn thể hiện hình biểu tượng Tiết kiệm năng lượng (hay còn gọi là Ngôi sao năng lượng Việt) được dán cho các phương tiện, thiết bị lưu thông trên thị trường khi những phương tiện, thiết bị này có mức hiệu suất năng lượng đạt hoặc vượt mức hiệu suất năng lượng cao (HEPS) do Bộ Công Thương quy định theo từng thời kỳ.

Theo Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg ngày 12/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng, áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và lộ trình thực hiện: nhóm thiết bị gia dụng và nhóm thiết bị công nghiệp áp dụng bắt buộc từ 01/01/2013, xe ô tô con (dưới 7 chỗ) áp dụng bắt buộc từ 01/01/2015 và khuyến khích tự nguyện với nhóm thiết bị văn phòng và thương mại.

 Nhãn năng lượng đã góp phần chuyển đổi và tiến tới việc loại bỏ dần các trang bị hiệu suất thấp. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật thực hiện trong dán nhãn năng lượng và hệ thống cơ sở vật chất trong triển khai thực hiện dán nhãn năng lượng: nhân lực, máy móc, hệ thống phòng thử nghiệm,… Các Bộ, ngành liên quan, từ Trung ương đến địa phương tiếp tục triển khai một cách đồng bộ và tích cực hoạt động kiểm tra các nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và giám sát sản phẩm sau khi cấp chứng nhận khi sản phẩm lưu thông trên thị trường.



9.4 Bảo hộ sở hữu trí tuệ

Xu thế hội nhập quốc tế sẽ ngày càng khẳng định giá trị của tài sản trí tuệ, vì vậy bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ là một hàng rào bảo hộ rất tốt đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong nước. Việc thiếu cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ là thiệt hại cho Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam đang là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam đang ngày càng có nhiều sản phẩm có uy tín trên thế giới như nông sản (cà phê, gạo, ngũ cốc…) và nhiều sản phẩm khác trong tương lai.

Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nhập khẩu là điểm nổi bật trong pháp luật ngoại thương của các quốc gia. Theo đó, cần quy định rõ nội dung bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động xuất nhập khẩu, nhằm thực thi một trong các nghĩa vụ quan trọng của WTO và các cam kết quốc tế khác.

9.5 Kiểm tra tại cửa khẩu

Do các yêu cầu về kiểm tra, quản lý chất lượng đối với một số mặt hàng có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe nhân dân, an ninh trật tự xã hội, áp dụng quy định về cửa khẩu nhập khẩu đối với một số mặt hàng cần đảm bảo có đủ điều kiện cơ sở vật chất tại cửa khẩu.

Tăng cường công tác kiểm tra chuyên ngành và công tác kiểm tra tại cửa khẩu. Xây dựng hành lang pháp lý thống nhất đối với việc kiểm tra chuyên ngành, đảm bảo thời gian thông quan hợp lý.

9.6 Về xử phạt vi phạm hành chính

Tăng cường thể chế và chế tài xử phạt nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi kinh doanh phi pháp, bổ sung những biện pháp xử lý đối những vi phạm chưa có biện pháp xử lý, tránh doanh nghiệp lợi dụng những thiếu hụt các biện pháp để trục lợi, đặc biệt là doanh nghiệp có ý định nhập khẩu các chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người./.



PHỤ LỤC I

HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM LUẬT ĐIỀU CHỈNH

XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

STT

Tên văn bản

Số văn bản/ ngày ban hành

Ghi chú

Các Luật, pháp lệnh



Luật Thương mại

36/2005/QH11






Luật An toàn thực phẩm

55/2010/QH12






Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hoá

05/2007/QH12






Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật

41/2013/QH13






Luật Thú y

79/2015/QH13






Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

22/2004/PL-UBTVQH11






Pháp lệnh về việc Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

20/2004/PL-UBTVQH11





Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

42/2002/PL-UBTVQH10







Luật Hải quan

54/2014/QH13






Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

45/2005/QH11






Luật Quản lý thuế

78/2006/QH11






Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế

71/2014/QH13






Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

27/2008/QH12






Luật Thuế giá trị gia tăng

13/2008/QH12






Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

70/2014/QH13






Luật thuế bảo vệ môi trường

54/2014/QH13




Văn bản quy định chung



Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài

20.2.2014






Thông tư số 05/2001/TT-BTM ngày 23/2/2001 của Bộ Thương mại hướng dẫn việc cấm nhập khẩu xe và phương tiện sử dụng xăng pha chì theo Chỉ thị số 24/2000/CT-TTg ngày 23/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai sử dụng xăng không pha chì tại Việt Nam.

23.2.2001






Quyết định 41/2005/QĐ-TTg ngày 2/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về cấp phép nhập khẩu hàng hóa

2.3.2005






Thông tư liên tịch 03/2007/TTLT/BTM/BCN ngày 28/2/2007 của Bộ Thương mại; Bộ Công nghiệp về việc hướng dẫn giám sát xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ

28.2.2007






Thông tư liên tịch sô 03/2007/TTLT-BCT-BTC-BNG ngày 15/10/2007 hướng dẫn việc tạm nhập khẩu, nhập khẩu hoặc mua miễn thuế tại Việt Nam, xuất khẩu, tái xuất khẩu, chuyển nhượng và tiêu hủy những vật dụng cần thiết phục vụ cho nhu cầu công tác và sinh hoạt của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam

15.10.2007






Thông tư số 05/2010/TT-BCT ngày 25/1/2010 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2007/TT-BTM ngày 02 tháng 02 năm 2007 của Bộ Thương mại về phân loại chi tiết nguyên liệu sản xuất, vật tư, linh kiện được miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại khoản 15 Điều 16 Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

25.1.2010






Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg ngày 10/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về giấy chứng nhận lưu hành tự do đối với sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

10.2.2010






Quyết định 1380/QĐ-BCT ngày 25/3/2011 về việc ban hành danh mục các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu

25.3.2011






Thông tư 10/2011/TT-BCT ngày 30/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu theo Nghị quyết số 59/NQ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương

30.3.2011






Thông tư 15/2011/TT-BCT ngày 30/3/2011 quy định thủ tục đăng ký danh mục hàng nhập khẩu, hàng tạm nhập tái xuất, hàng thanh lý của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam

30.3.2011






Thông tư liên tịch 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT của Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn

30.12.2011






Thông tư liên tịch số 65/2011/TTLT-BTC-BCT-BGTVT sửa đổi, bổ sung Mục IV của Thông tư liên tịch số 08/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT ngày 17 tháng 12 năm 2004 hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển container tại các cảng biển Việt Nam của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải

28.6.2011






Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BCT-BTC của Bộ Công Thương ngày 03/01/2012 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 14/2009/TTLT-BCT-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2009 của Bộ Công Thương và Bộ Tài chính hướng dẫn việc cấp chứng nhận và thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu kim cương thô nhằm thực thi các quy định của Quy chế chứng nhận Quy trình Kimberley

3.1.2012






Thông tư 12/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định việc áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động thép.

12.6.2012






Thông tư liên tịch 34/2012/TTLT-BCT-BTNMT hướng dẫn về điều kiện nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất

1.1.2013






Quyết định 53/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng đối với xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam

1.11.2013






Quyết định 10/2010/QĐ-TTg ngày 10/2/2010 quy định Giấy chứng nhận lưu hành tự do đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu

10.2.2010






Thông tư 07/2011/TT-BCT ngày 24/3/2011 của Bộ Công Thương quy định Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời hạn nộp thuế nhập khẩu

24.3.2011






Quyết định 1380/QĐ-BCT ngày 25/3/2011 về việc ban hành danh mục các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu

2453.2011






Thông tư số 24/2011/TT-BCT ngày 16 tháng 6 năm 2011 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 07/2011/TT-BCT ngày 24 tháng 3 năm 2011 của Bộ Công Thương quy định Danh mục Hàng tiêu dùng để phục vụ việc xác định thời hạn nộp thuế nhâp khẩu

16.6.2011






Thông tư 04/2014/TT-BCT quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài

20.2.2014






Thông tư 05/2014/TT-BCT quy định về hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu hàng hóa

20.2.2014






Thông tư 35/2014/TT-BCT về áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng phân bón

01.12.2014




Cơ chế điều hành hạn ngạch, thuế quan



Thông tư số 28/2009/TT-BCT ngày 28/9/2009 xác nhận hạn ngạch thuế quan đối với mật ong tự nhiên nhập khẩu vào Nhật Bản theo Hiệp định giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhật Bản về Đối tác Kinh tế

28.9.2009






Quyết định 1103/QĐ-BCT ngày 25/2/2010 về việc kiểm tra nhập khẩu và sử dụng muối hạn ngạch thuế quan cho sản xuất công nghiệp và chế biến thực phẩm

25.2.2010






Thông tư số 02/2015/TT-BCT về việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2015 với thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hóa có xuất xứ từ Cộng hòa DCND Lào

12.02.2015






Thông tư số 49/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2015

22.12.2014






Thông tư 09/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2014 và 2015 với thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hoá có xuất xứ Campuchia

24.02.2014






Thông tư số 03/2015/TT-BCT quy định về nguyên tắc điều hành hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đối với mặt hàng muối, trứng gia cầm năm 2015.

27.2.2015






Thông tư 25/2015/TT-BCT (Thông tư 25) quy định về nguyên tắc điều hành hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đối với mặt hàng đường năm 2015.

3.8.2015




Các phương thức xuất nhập khẩu



Thông tư số 27/2014/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về quá cảnh hàng hóa của vương quốc Campuchia qua lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4.9.2014






Thông tư 11/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về quá cảnh hàng hóa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa qua lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

04.6.2015






Thông tư số 22/2009/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về quá cảnh hàng hóa của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào qua lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

18.9.2009






Thông tư liên tịch số 08/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT ngày 17/12/2004 của Liên tịch Bộ Thương mại – Bộ Tài chính – Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển container tại các cảng biển Việt Nam

19.1.2005






Quyết định số 24/2006/QĐ-BTM ngày 15/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc ngừng tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu đồ gỗ thành phẩm qua Việt Nam sang Hoa Kỳ và quy định việc tạm nhập tái xuất tinh dầu xá xị phải có giấy phép của Bộ Thương mại

15.6.2006






Quyết định 17/2007/QĐ-BTM ngày 27/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc tạm dừng việc tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu hàng dệt may

27.7.2007






Thông tư 10/2011/TT-BCT của Bộ Công Thương về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu theo Nghị quyết số 59/NQ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương

30.3.2011






Thông tư 15/2011/TT-BCT ngày 30/3/2011 quy định thủ tục đăng ký danh mục hàng nhập khẩu, hàng tạm nhập tái xuất, hàng thanh lý của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam

30.3.2011






Thông tư liên tịch 62/2011/TTLT-BTC-BCT-BGTVT của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Bộ Giao thông Vận tải sửa đổi, bổ sung Mục IV của Thông tư liên tịch số 08/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT ngày 17/12/2004 hướng dẫn thực hiện dịch vụ trung chuyển container tại các cảng biển Việt Nam của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải

 13.5.2011






Thông tư 05/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất một số loại hàng hóa

27.1.2014




Cơ chế điều hành xuất nhập khẩu một số mặt hàng

Kinh doanh xuất khẩu gạo



Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 của Chính phủ về
kinh doanh xuất khẩu gạo

4/11.2011






Thông tư 44/2010/TT-BCT ngày 31/12/2010 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo

31.12.2011






Thông tư 08/2011/TT-NHNN ngày 8/4/2011 của Ngân hàng Nhà nước quy định chi tiết về tín dụng kinh doanh xuất khẩu gạo theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP ngày 4/11/2010 của Chính phủ

8.4.2011






Thông tư số 89/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 hướng dẫn về phương pháp xác định giá sàn gạo xuất khẩu

17.6.2011




Xuất khẩu sản phẩm gỗ, nhập khẩu gỗ nguyên liệu



Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg ngày 1/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp phát triển ngành chế biến gỗ và xuất khẩu sản phẩm gỗ

1.6.2004






Thông tư 10/2011/TT-BCT sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu theo Nghị quyết 59/NQ-CP ngày 17/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Công Thương

30.3.2011






Thông tư 01/2014/TT-BCT quy định về nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Campuchia

15.1.2014




Xăng dầu, nhiên liệu

 






Quyết định số 004/2007/QĐ-BCT ngày 11/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc tổ chức nhập khẩu và lưu thông dầu diesel

11.9.2007






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương