A/ quan đIỂM, ĐỊnh hưỚng của nhà NƯỚc về quản lý ngoại thưƠng và thực trạng hoạT ĐỘNG ngoại thưƠng của việt nam



tải về 1.71 Mb.
trang7/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Về khu vực hải quan riêng: mục đích của phát triển của các khu này nhằm mang lợi ích chung của cả nền kinh tế ở góc độ tạo công ăn việc làm, thu hút các nguồn lực phát triển, mở rộng và khuyến khích xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và tri thức quản lý, phát triển tổng hợp vùng. Mục tiêu chung của các chính sách đặc thù cho các đặc khu kinh tế, khu chế xuất, khu phi thuế quan là giảm thiểu mọi hàng rào về thuế nhằm thu hút các nhà đầu tư, cụ thể: Giảm thiểu các loại thuế bao gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (hàng hóa sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu khi xuất khẩu ra nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu); thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng (là 0%), tự do trung chuyển hàng hóa; đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp; đơn giản hóa các thủ tục hải quan; áp dụng cách chính sách khuyến khích về tài chính; tạo thuận lợi trong việc sử dụng kết cấu hạ tầng...

Tình hình phát triển và hoạt động ngoại thương tại các khu này như sau28:



- Đối với KCN

Trong năm 2015 có 12 KCN mới được thành lập và mở rộng. Tính đến hết tháng 12/2015, cả nước có 300 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 84 nghìn ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 56 nghìn ha, chiếm khoảng 66% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó 212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên gần 60 nghìn ha và 88 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 24 nghìn ha. Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt trên 27 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy 49%, riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 67%, cao hơn 2% so với cuối năm 2014.



- Đối với KKT

Trong năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 42/2015/QĐ-TTg ngày 16/9/2015 về việc thành lập Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị với diện tích là 23.792 ha và đồng ý điều chỉnh mở rộng 2 khu kinh tế là KKT Đông Nam Nghệ An tại Quyết định số 10/2015/QĐ-TTg ngày 04/4/2015 (thêm 750 ha) và KKT Nghi Sơn, Thanh Hóa tại Quyết định số 18/2015/QĐ-TTg ngày 12/06/2015 (thêm 87.388,18 ha) nâng tổng diện tích mặt đất và mặt nước của các KKT thành 814.792 ha. Số lượng KKT ven biển tăng lên là 16 KKT.

Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN, KKT vẫn có chuyển biến tích cực, có mức tăng trưởng khá, đặc biệt trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN, KKT trong cả nước năm 2015 cụ thể như sau:

- Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài

Trong năm 2015, có 563 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư đạt trên 8.461 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn cho 315 dự án với tổng số vốn đầu tư tăng thêm là hơn 4.719 triệu USD. Tính chung 12 tháng đầu năm, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KKT đạt 13.180 triệu USD (bằng 96,2% so với cùng kỳ năm 2014), bằng khoảng 70% tổng số vốn FDI của cả nước trong, vượt20% so với kế hoạch năm 2015.

Lũy kế đến cuối tháng 12/2015 các KCN trong cả nước đã thu hút được 6.080 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 97.125 triệu USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt hơn 55.200 triệu USD, bằng 57% tổng vốn đầu tư đăng ký. Các KKT thu hút được 332 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 42.200 triệu USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 16.850 triệu USD bằng 40% tổng vốn đầu tư đăng ký.

- Tình hình thu hút đầu tư trong nước

Trong năm 2015, các KCN, KKT đã thu hút được 461 dự án với tổng vốn đăng ký 71.260 tỷ đồng và điều chỉnh tăng vốn 123 dự án với tổng vốn tăng thêm 11.163 tỷ đồng. Như vậy, trong năm 2015 tổng vốn đầu tư trong nước thu hút được đạt hơn 82.423 tỷ đồng, tăng hơn 6% tổng vốn đăng ký tăng thêm so với cùng kỳ năm 2014, gần bằng 97% so với kế hoạch năm 2015.

Tính lũy kế đến hết tháng 12/2015, các KCN cả nước đã thu hút được 5.732 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 584.784 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 293.256 tỷ đồng, bằng 51% tổng vốn đăng ký.

Đối với các KKT, luỹ kế đến nay, các KKT ven biển đã thu hút được 878 dự án với tổng mức đầu tư 550.415 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 181.210 tỷ đồng, bằng 32% tổng vốn đăng ký.

Các dự án đầu tư đăng ký mới trong 12 tháng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm may mặc cao cấp, điện tử, công nghiệp chế biến, chế tạo.

- Tình hình sản xuất kinh doanh

Tổng doanh thu đạt hơn 116.000 triệu USD tăng hơn 52% so với cùng kỳ năm ngoái, hơn 96% so với kế hoạch năm 2015.

Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt 78.624 triệu USD tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2014, bằng 98% so với kế hoạch năm 2015, đóng góp khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Kim ngạch nhập khẩu đạt 75.563 triệu USD, chiếm gần 50% tổng kim ngạch nhập khẩu 12 tháng và vượt 1% so với kế hoạch năm 2015.

Đóng góp vào ngân sách Nhà nước: 90.313 tỷ đồng, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2014, bằng 95% so với kế hoạch năm 2015.

Tổng số lao động trong KCN, KKT luỹ kế đến tháng 12/2015 là khoảng 2,57 triệu lao động.

Về cơ sở pháp lý cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh tại khu phi thuế quan về cơ bản đã đầy đủ, dần được hoàn thiện, đã đáp ứng được yêu cầu quản lý và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Kết quả cho thấy, các khu này đã đạt được những kết quả nhất định về thu hút đầu tư, giải quyết việc làm, đóng góp đáng kể cho ngân sách địa phương, góp phần ổn định, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng an ninh biên giới và tăng cường mối quan hệ chính trị kinh tế với các nước có chung biên giới.

Như vậy, có thể nói, việc ban hành văn bản quy định cơ chế riêng của các khu đã tạo cơ sở pháp lý và thể hiện chính sách ưu đãi của nhà nước đối với các khu vực đặc biệt này.

2. Những khó khăn, vướng mắc

2.1 Hệ thống pháp luật về các biện pháp kiểm soát ngoại thương còn tản mát và thiếu sự thống nhất, chủ yếu được điều chỉnh bởi văn bản dưới luật

Theo pháp luật thương mại, thì Luật Thương mại là văn bản pháp lý cao nhất quy định về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa, tuy nhiên luật mới chỉ đưa ra khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và các quy định chung nhất, văn bản quy định chi tiết được thể hiện ở cấp dưới luật (Nghị định; các Thông tư) và các luật, pháp lệnh chuyên ngành. Do đó, quy định về quản lý nhập khẩu hàng hóa chưa có tính thống nhất cao, thậm chí có thể chồng chéo, điều này thể hiện trong quá trình tham vấn xây dựng các quy định không được thực hiện rộng rãi và kỹ càng so với văn bản luật nên các quy định thường không đảm bảo sự ổn định lâu dài.

Từ hiện trạng pháp luật có thể thấy, các biện pháp quản lý hoạt động nhập khẩu hiện nay có thể phân chia thành các nhóm sau đây:

(1) Nhóm 1 gồm các biện pháp quản lý hoạt động thương mại của thương nhân;

(2) Nhóm 2 gồm các biện pháp quản lý xuất xứ hàng hóa và diện mặt hàng xuất, nhập khẩu: quản lý các loại hàng hóa có quy định riêng; xuất xứ hàng hóa; giấy chứng nhận lưu hành tự do;

(3) Nhóm 3 gồm các biện pháp quản lý bằng công cụ thuế (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường);

(4) Nhóm 4 gồm các biện pháp phòng vệ thương mại như chống trợ cấp, chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ khẩn cấp.

(5) Nhóm 5 gồm các biện pháp phi thuế quan, là các quy định về chất lượng sản phẩm hàng hóa, an toàn thức phẩm, kiểm dịch thực vật, động vật (nằm trong khuôn khổ các hiệp định SPS và TBT mà Việt Nam cam kết khi gia nhập WTO)29;

(6) Nhóm 6 gồm các biện pháp ưu đãi cho các khu phi thuế quan, thương mại tự do, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và thương mại biên giới.

(7) Nhóm 7 gồm các biện pháp tỉ giá hối đoái.

(8) Nhóm 8 gồm các biện pháp tín dụng.

Trong đó, chỉ có Nhóm (3) và Nhóm (5) là đã được quy định tương đối cụ thể ở cấp văn bản luật (Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật An toàn thực phẩm...). Các biện pháp phòng vệ thương mại thuộc Nhóm (4) được quy định ở cấp Pháp lệnh. Còn lại các biện pháp thương mại khác gồm quy định về hoạt động của thương nhân, quản lý hàng hóa, các biện pháp khác chỉ được quy định cụ thể ở các cấp văn bản Nghị định trở xuống.

Tình trạng đó gây ra những bất cập trong công tác quản lý nhà nước và gây khó khăn cho các doanh nghiệp, cụ thể là không đảm bảo tính minh bạch, tính thống nhất, đồng bộ và ổn định của chính sách, vì (i) Thứ nhất: khó có thể tìm hiểu một vấn đề pháp lý qua những văn bản quy phạm pháp luật rời rạc, thiếu sự liên kết; (ii) Thứ hai: không chắc chắn về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật áp dụng; (iii) Thứ ba: Không đảm bảo tính chuẩn xác của văn bản quy phạm pháp luật mà doanh nghiệp nghĩ rằng áp dụng cho trường hợp của mình; và (iv) Thứ tư: tốn kém thời gian để tập hợp các loại văn bản quy phạm pháp luật từ nhiều nguồn khác nhau để thực hiện.

2.2.2 Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu vừa thiếu vừa chưa được sử dụng hiệu quả trong điều tiết, điều hành và kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu

Hệ thống pháp luật phải đáp ứng yêu cầu cuối cùng là cho phép sử dụng các công cụ nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách và thực hiện môi trường kinh doanh tốt cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự rời rạc của các văn bản hiện hành làm cho các nỗ lực chung khó có thể thực hiện được vì mục tiêu điều hành chính sách nhập khẩu như việc chúng ta chưa sử dụng và chưa có năng lực sử dụng các biện pháp phi thuế quan một cách có hiệu quả. Các biện pháp để điều hành, quản lý nhập khẩu bao gồm: Điều chỉnh hạn mức nhập khẩu; sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong trường hợp khẩn cấp, khả năng có trợ cấp, bán phá giá…; sử dụng các hàng rào phi thuế quan để ngăn chặn hàng nhập khẩu không đảm bảo chất lượng, quy cách.

Trong đó, một số biện pháp chưa từng được sử dụng như: tự vệ, chống trợ cấp và chống bán phá. Các biện pháp khác được sử dụng còn tùy tiện do thực tế là một số quy định mới được hình thành trong thời gian gần đây trong quá trình thực hiện cam kết quốc tế như các biện pháp TBT, SPS hoặc do việc hoạch định chính sách phải chạy theo hướng đối phó với tình hình.

Nhiều công cụ quản lý, nhất là các công cụ có tính chất kỹ thuật chưa được thiết kế cụ thể nên rất khó sử dụng trên thực tiễn, làm giảm năng lực thực thi chiến lược, chính sách xuất nhập khẩu đã ban hành. Chẳng hạn: Các chiến lược phát triển xuất nhập khẩu (theo Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg, và theo Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011) đều đề ra định hướng và chính sách khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị tiên tiến, nhưng cho đến nay Nhà nước chưa xây dựng được tiêu chí cụ thể và chưa lập được Danh mục phân loại hàng hóa nhập khẩu theo hàm lượng công nghệ (như nhóm hàng công nghệ cao, nhóm hàng công nghệ trung bình, nhóm hàng công nghệ thấp). Vì thế, một mặt, chưa có thống kê nhà nước về phân loại hàng hóa nhập khẩu theo tiêu chí hàm lượng công nghệ để phục vụ cho phân tích kinh tế vĩ mô và triển khai thực thi chính sách khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao; mặt khác, làm hạn chế tác dụng của việc sử dụng các công cụ có tính chất kỹ thuật trong quản lý điều tiết hoạt động ngoại thương.

Một trong những công cụ quan trọng là cam kết quốc tế nhằm thực hiện sự phân biệt về mặt hàng xuất nhập khẩu và phân biệt thị trường để tận dụng lợi thế so sánh. Tuy nhiên, do không có hệ thống công cụ quản lý xuất nhập khẩu được tổ chức hợp lý nên quá trình đàm phán, thỏa thuận thương mại quốc tế cũng đã gặp nhiều khó khăn. Về mặt lý thuyết, công tác đàm phán phải bao gồm nghiên cứu chiến lược thị trường, nghiên cứu khả thi thỏa thuận thương mại, chuẩn bị phương án đàm phán, tham vấn các đối tượng chịu tác động, dự kiến lợi ích – chi phí của kết quả đàm phán, tiến hành đàm phán, đánh giá tác động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, rất nhiều khâu trong đó chúng ta không có điều kiện để thực hiện, đặc biệt là việc nghiên cứu, đánh giá và dự kiến kết quả do các đơn vị chức năng thiếu thông tin, năng lực, và cơ chế để thực hiện công tác và phối hợp công tác với cơ quan chủ trì đàm phán/đoàn đàm phán. Hiện nay, cam kết quốc tế của Việt Nam bao gồm các thỏa thuận song phương và nhiều bên, như các hiệp định thương mại trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN +, WTO, và nhiều hiệp định thương mại song phương … nghĩa là chúng ta đã cam kết vào hầu hết các thỏa thuận thương mại nhưng thực tế tổ chức đàm phán không làm được hết các khâu cần thiết phải làm. Tuy vậy, quá trình đàm phán là liên tục và việc phải liên kết sử dụng các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu với công tác đàm phán là không muộn. Cụ thể, cần phải tạo cơ chế để tạo một mối liên kết chặt chẽ giữa hoạch định chính sách xuất nhập khẩu và phương án đàm phán, hay cụ thể là mối liên hệ giữa các mục tiêu xuất nhập khẩu và bản chào cam kết.

2.2.3 Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định chính sách và sử dụng các biện pháp quản lý, điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu, các quy định được ban hành đôi khi chưa có tính thực tiễn và tính khả thi để áp dụng

Hiện nay, hoạch định các công cụ chính sách và sử dụng các biện pháp điều tiết và kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu do các cơ quan sau đây đề xuất:



  • Bộ Công Thương: điều chỉnh hoạt động thương mại, thương nhân, mặt hàng, các công cụ phòng vệ thương mại.

  • Bộ Tài chính: chính sách thuế, tín dụng, bảo hiểm và các công cụ của từng chính sách này.

  • Bộ Khoa học Công nghệ: TBT.

  • Bộ Y tế: SPS.

  • Bộ Kế hoạch Đầu tư: Các chính sách ưu đãi kinh tế, đầu tư.

  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: công cụ tỉ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế.

  • Các Bộ, ngành khác: tham gia chính sách mặt hàng và dịch vụ cụ thể.

Và hầu như việc hoạch định các chính sách và biện pháp trên được thực hiện hoàn toàn độc lập nếu ban hành ở cấp thông tư; hầu như là độc lập của đơn vị chủ trì, các ý kiến các bộ, ngành khác ở mức độ tham gia ý kiến ở cấp độ Nghị định. Do đó, một số quy định thiếu thực tiễn, không khả thi để áp dụng, ví dụ năm 2014 Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 20/2014/TT-BKHCN quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, tuy nhiên sau đó phải ra Quyết định ngừng thi hành Thông tư vào ngày 29/8/2014 hoặc Thông tư số 32/2009/TT-BCT ngày 05/11/2009 của Bộ Công Thương về quy định kiểm tra formaldehyt với sản phẩm dệt may hiện nay cũng được phản ánh gây khó khăn, vướng mắc cho sản xuất trong nước. Cụ thể, Thông tư này được ban hành với mục đích xây dựng hàng rào kỹ thuật để bảo vệ người tiêu dùng, bởi formaldehyt là chất có hại với sức khỏe. Tuy nhiên, việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt được áp dụng với quá nhiều đối tượng mà không có sự phân biệt, chưa cụ thể quy định về kiểm tra xác suất đã tạo thêm khó khăn, chi phí cho doanh nghiệp và cả cơ quan quản lý như vậy, nhưng kết quả lại không đáng kể. Theo phản ánh của các doanh nghiệp, tỷ lệ các trường hợp không đạt hàm lượng quy định vô cùng nhỏ, chỉ dưới 1%. 

Như vậy, cho thấy các quy định đưa ra cần phải tham vấn ý kiến doanh nghiệp, phải có tính thực tiễn và tính khả thi. Đồng thời việc đóng góp ý kiến vào dự thảo văn bản của các Bộ, ngành phải được phối hợp chặt chẽ, đầy đủ và đồng bộ, tránh trường hợp góp ý chiếu lệ và đưa ra các ý kiến trái chiều, không thống nhất ngay từ các đơn vị thuộc các Bộ, ngành.

Mô hình này thể hiện sự hoạch định chính sách trên cơ sở đơn vị hành chính có sẵn, nghĩa là công cụ kinh tế đi từ tư duy hành chính, do đó là mô hình ngược so với mô hình tổ chức hành chính phải xuất phát từ yêu cầu thực hiện chính sách.

2.2.4 Chưa quy định rõ cơ quan “đầu mối” của Chính phủ để chủ trì, điều phối việc hoạch định và sử dụng các biện pháp nhằm tận dụng tối đa các điều khoản về trường hợp ngoại lệ trong WTO (GATT 1994), các ưu đãi mà các đối tác FTA dành cho Việt Nam để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu, nâng cao hiệu quả hội nhập thương mại quốc tế

Trên thực tế nhìn chung, ngoài việc áp dụng các ngoại lệ chung (Điều XX GATT 1947) và ngoại lệ về an ninh (theo Điều XXI GATT 1994) được các thành viên WTO áp dụng phổ biến, còn các trường hợp ngoại lệ được áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước của các thành viên là nước đang phát triển (Điều XVIII.C GATT), ngoại lệ được áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với nhập khẩu các sản phẩm nhất định (Điều XIX GATT 1994) rất khó khăn áp dụng trong thời kỳ GATT, còn sau khi WTO thành lập, việc áp dụng được thực hiện theo Hiệp định ASCM và Hiệp định AC. Đối với Việt Nam, việc áp dụng và sử dụng biện pháp tự vệ trong thương mại (theo Hiệp định ASCM và Hiệp định AC) dưới hình thức xây dựng và sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại do Bộ Công Thương chủ trì thực hiện.

Tuy thế, việc áp dụng biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ cán cân thanh toán (Điều XII và Điều XVIII.B GATT 1994) chưa rõ Bộ, ngành nào chủ trì (Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính?) vì liên quan đến các quy định về các thỏa thuận về ngoại hối (theo Điều XV GATT 1994) và thực hiện các thủ tục đối với tham vấn về cán cân thanh toán. Tương tự, việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ cũng có cách thức và thủ tục áp dụng rất phức tạp, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều Bộ, ngành (Công Thương, Tài chính, Khoa học và Công nghệ,…) đòi hỏi phải có cơ quan đầu mối chủ trì.

Việc tận dụng các ưu đãi của các đối tác FTA dành cho Việt Nam xét từ khía cạnh hoạch định chính sách và công cụ điều tiết kinh tế cũng liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều Bộ, ngành (Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông,…) nhưng chưa có văn bản pháp lý quy định cụ thể cơ quan đầu mối chủ trì thực hiện.



2.2.5 Một số quy định cụ thể

Thứ nhất, liên quan đến các quy định quản lý diện hàng hóa, phương thức nhập khẩu hàng hóa cũng còn chưa đầy đủ:

(i) việc quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa theo mặt hàng là lĩnh vực quản lý trọng yếu nhất, liên quan trực tiếp rộng khắp đến các biện pháp mà Việt Nam có thế sử dụng để kiểm soát. Hiện nay, việc thực hiện quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa hiện nay dựa chủ yếu vào Nghị định số 187/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định này mới chỉ liệt kê các mặt hàng dưới dạng Phụ lục hàng cấm/hạn chế hoặc cấp phép mà chưa có quy định về nguyên tắc cho các nhóm hàng này.

(ii) xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng chiến lược chưa có cơ chế khác biệt so với các mặt hàng thông thường (xăng dầu, gạo…);

(iii) một số mặt hàng cần có các yêu cầu đặc biệt về hồ sơ, giấy tờ để chứng minh đủ điều kiện nhập khẩu lại không có căn cứ pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước sử dụng, kiểm soát hiệu quả;

(iv) việc quản lý một số mặt hàng có sự xung đột về mục tiêu dẫn đến gây nhiều tranh cãi trong thực hiện (hạn ngạch một số mặt hàng)…

(v) Một số mặt hàng nhập khẩu vào khu phi thuế quan chưa có chính sách riêng (về giấy phép nhập khẩu, điều kiện nhập khẩu...), dẫn đến có những vướng mắc trong quá trình thực thi, nhiều khi phải sử dụng văn bản hành chính để giải quyết.

(vi) Các trường hợp khẩn cấp trong xuất nhập khẩu hàng hóa cần có sự can thiệp ngay lại không có cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch theo pháp luật thương mại hiện hành (Điều 31 Luật Thương mại 2005) theo đó chỉ giao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng. Việc quy định như vậy trong bối cảnh hiện nay là không còn phù hợp do việc áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp khẩn cấp có thể gây phản ứng từ cộng đồng doanh nghiệp, từ người tiêu dùng trong nước cũng như từ các đối tác thương mại của Việt Nam. Bên cạnh đó, do không cụ thể hóa được các trường hợp khẩn cấp là những trường hợp nào cũng như các biện pháp được sử dụng là gì cũng sẽ tạo nên sự thiếu minh bạch, chắc chắn cho việc ban hành các biện pháp đó trong trường hợp cần thiết.

(vii) hiện nay hàng hóa nhập khẩu phi mậu dịch chưa được quy định tại văn bản quy phạm nào, trường hợp nào được coi là phi mậu dịch, ngoại trừ việc nhập khẩu một số mặt hàng thuộc danh mục cấm để nghiên cứu khoa học và viện trợ nhân đạo.

Thứ hai, liên quan đến các biện pháp thuế quan, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế và khu vực, dư địa để áp dụng các biện pháp thuế quan ngày càng thấp do Việt Nam phải cam kết cắt giảm thuế quan ưu đãi theo lộ trình. Việc sử dụng công cụ thuế như một biện pháp quản lý nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước không còn thực sự mang lại nhiều tác dụng, trừ đối với một số mặt hàng nhạy cảm Việt Nam chưa đưa vào cam kết cắt giảm thuế quan (như đường, xăng dầu,…).

Như vậy, có thể thấy, các biện pháp thuế quan chịu sự ràng buộc bởi các cam kết hội nhập. Do vậy, trong quá trình đàm phán các hiệp định thương mại, đàm phán mở cửa thị trường luôn là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng. Nguyên tắc cần áp dụng là tận dụng tối đa hàng rào thuế quan để bảo hộ các sản phẩm nông nghiệp. Đối với các sản phẩm công nghiệp chỉ bảo hộ những sản phẩm có khả năng vươn lên trong cạnh tranh nhưng cần có thời gian. Điều quan trọng là bảo đảm các doanh nghiệp nhận thức được rằng bảo hộ chỉ thực hiện trong một giai đoạn nhất định, sau đó được rút dần. Đối với những sản phẩm không có lợi thế lại là những sản phẩm thuộc nhu cầu sản xuất, nhất là những sản phẩm trung gian, là đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu không nên duy trì chính sách bảo hộ bằng việc áp dụng thuế suất cao nhất theo cam kết vì điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.

Thứ ba, liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại, có thể nói các quy định pháp luật về phòng vệ thương mại trong thời gian đã áp dụng để điều tra, xử lý được một số vụ việc, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập cho nên việc pháp điển hóa các văn bản pháp luật về chống trợ cấp, chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ trong một đạo luật về quản lý hoạt động ngoại thương là cần thiết để nâng cao hiệu lực pháp lý của các công cụ này đồng thời là cơ hội để sửa đổi, bổ sung các quy định chưa phù hợp trong các văn bản nói trên. Đặc biệt sự cần thiết còn được nhấn mạnh trong bối cảnh chúng ta đang có những động thái ban đầu về việc sử dụng các công cụ phòng vệ trong thương mại quốc tế cũng như triển vọng sử dụng các công cụ này trong thời gian tới.

Thứ tư, các hàng rào kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ của Việt Nam đã được xây dựng và triển khai chưa chứng minh được hiệu quả kiểm soát nhập khẩu trên thực tế dẫn đến tình trạng “xây dựng cho có”, không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước. Các cơ quan thực hiện việc xây dựng, thực thi quy định trong lĩnh vực này chỉ thực hiện theo quy trình của riêng mình mà chưa tính đến mục tiêu kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu, thậm chí có nơi xây dựng hàng rào quá thấp, dễ dàng để cho hoạt động nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ hơn: Pháp luật hiện hành chưa tạo điều kiện để các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp kiểm soát trước và sau thông quan hàng hóa một cách hiệu quả thông qua các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực thẩm, giống cây trồng (TBT, SPS) do các vấn đề này được quy định riêng rẽ tại nhiều hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khác nhau (Luật, Pháp lệnh, các Nghị định hướng dẫn Luật Thương mại, Nghị định hướng dẫn Luật chuyên ngành…, thậm chí là Thông tư). Do quy định riêng rẽ tại nhiều văn bản khác nhau nên quy trình kiểm tra, kiểm soát không thống nhất (có quy trình trước, có quy trình sau thông qua), xảy ra tình trạng “vừa thừa vừa thiếu”, vừa tạo ra thủ tục hành chính rườm ra nhưng lại không kiểm soát hiệu quả nhập khẩu cả về chất lẫn về lượng.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật để bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, hiệu quả thực thi chưa cao và cần nhiều thời gian để hoàn thiện, hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, cũng như phù hợp với cam kết trong các Công ước/Điều ước môi trường quốc tế. Việt Nam chưa có đủ các biện pháp phi thuế quan để bảo vệ, hạn chế ô nhiễm môi trường qua biên giới, hiệu quả thực thi còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là khâu phát hiện và xử lý vi phạm đối với hàng hóa nhập khẩu ở hải quan cửa khẩu. Do đó, tình trạng hàng hóa nhập khẩu vi phạm các quy định về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn phổ biến. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại nói trên là do:



Một là, nhận thức về môi trường và phát triển bền vững của doanh nghiệp và các nhà quản lý còn hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, cục bộ mà chưa quan tâm đến môi trường và phát triển bền vững. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế chỉ quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế mà chưa chú trọng đến các vấn đề môi trường.

Hai là, năng lực xây dựng, ban hành và giám sát việc thực thi pháp luật trong hoạt động nhập khẩu còn yếu kém, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của tiến trình hội nhập. Hiện trạng về công tác quản lý môi trường đang có nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý Nhà nước về BVMT, hệ thống tổ chức quản lý hiện nay còn nhiều bất cập về nhân lực, vật lực, trang bị kỹ thuật, đầu tư cho công tác BVMT còn quá ít và thiếu tập trung, nhất là trong khâu giám định hàng nhập khẩu, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT. 

Ba là, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xây dựng, ban hành các quy định và biện pháp quản lý nhập khẩu và cơ quan thực thi việc quản lý nhập khẩu như Hải quan, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, và các Bộ, ngành chủ quản các lĩnh vực khác; chưa có một cơ chế chuyên trách về quản lý hoạt động nhập khẩu một cách hiệu quả…

Bốn là, hệ thống pháp lý về thương mại và môi trường còn chưa đồng bộ, chậm được rà soát và thiếu tính hệ thống, việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT chưa nghiêm, cùng với năng lực quản lý và giám sát thi hành pháp luật hạn chế đã dẫn đến hiện tượng ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.

Năm là, hiện nay các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam vẫn chưa được xây dựng đầy đủ, trong khi ngân sách Nhà nước lại chưa đủ sức tiến hành những chương trình hỗ trợ cho việc thực thi các quy định đó, cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất trong nước, nhằm khuyến khích nhập khẩu và sử dụng các công nghệ, thiết bị và hàng hóa thân thiện với môi trường.

Sáu là, cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc triển khai áp dụng các biện pháp phi thuế quan như: triển khai Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá, các quy định về tiêu chuẩn môi trường... trong vấn đề kiểm nghiệm, xét nghiệm, thẩm tra xác thực, kiểm định, chứng nhận đảm bảo cho sản phẩm đáp ứng các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn đặt ra, hiện còn rất thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.

Bảy là, Luật Quy chuẩn và Tiêu chuẩn kỹ thuật, cũng như Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá đã ra đời nhưng thực tế triển khai áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc. Hơn nữa, trình độ sản xuất trong nước còn kém phát triển, do đó khả năng đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn chất lượng và môi trường còn nhiều hạn chế, tạo kẽ hở cho hàng nhập khẩu không đạt tiêu chuẩn môi trường thâm nhập thị trường trong nước.

Tám là, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về áp dụng biện pháp phi thuế quan nhằm bảo vệ môi trường còn chậm; các quy định liên quan đến trách nhiệm bảo hiểm, bồi thường thiệt hại, khắc phục ô nhiễm môi trường và chế tài xử phạt vi phạm quy định môi trường trong hoạt động nhập khẩu chưa thỏa đáng, thiếu tính răn đe, do đó chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác quản lý môi trường cũng như phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường qua biên giới.

Chín là, các biện pháp về hành chính và thủ tục hải quan còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân là vì vẫn còn quá nhiều các quy định chồng chéo. Ví dụ vấn đề về chính sách mặt hàng đối với những mặt hàng thuộc Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu; giải quyết thủ tục nhập khẩu hay không cho phép nhập khẩu tại chỗ; vấn đề chuẩn hóa theo Danh mục biểu thuế HS đối với các mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành; vấn đề kiểm tra nhà nước về chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu...

Thứ năm, các quy định pháp luật về biện pháp ưu đãi áp dụng đối với các phi thuế quan, khu chế xuất, các khu vực hải quan riêng khác hiện nay được quy định ở nhiều các văn bản khác nhau (thường là những quyết định riêng rẽ của Thủ tướng Chính phủ ban hành cho từng khu riêng, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 100/2009/QĐ-TTg về về quy chế hoạt động của các khu phi thuế quan trong khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu và Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg quy định về cơ chế chính sách tài chính-hiệu lực pháp lý của các văn bản này tương đương nhau), văn bản sau thường có những điểm khác với văn bản trước. Việc chồng chéo này gây khó khăn trong công tác chỉ đạo chung của các cơ quan quản lý

Bên cạnh đó, quy định chưa thực sự thống nhất về hoạt động nhập khẩu ở các không gian kinh tế riêng biệt (giữa các khu kinh tế “bình thường” và các khu kinh tế “đặc biệt”; giữa trong các khu kinh tế và “nội địa”) là mảnh đất màu mỡ cho các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại phát triển nhưng lại hạn chế một cách không đáng có đối với một số hoạt động hợp pháp, phù hợp với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ sáu, các quy định về thương mại biên giới chưa xác định nội hàm khái niệm thương mại biên giới, mặc dù khái niệm này là căn cứ để xác định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của hoạt động thương mại biên mậu, đồng thời cũng là căn cứ xác định đối tượng được áp dụng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong hoạt động thương mại biên mậu. Hoạt động thương mại biên mậu là một hoạt động đặc thù, được ưu đãi hơn so với thương mại quốc tế (ngoại lệ của WTO). Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hoạt động thương mại biên giới có tính đặc thù và hoạt động thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, về chính sách mặt hàng thương mại biên giới chưa có quy định riêng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, việc lựa chọn một số mặt hàng chủ lực để phát triển, xuất khẩu cần có chính sách ưu đãi hỗ trợ riêng.

Thứ bảy, các quy định về xử lý vi phạm còn chưa đủ sức răn đe, thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa hiện nay xuất hiện những vi phạm chưa có biện pháp xử lý hoặc mức xử phạt chưa đủ sức răn đe (như đối với hàng hóa chưa đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật nhưng đã được đưa vào lưu hành tại Việt Nam). Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về hình thức thu hồi giấy phép trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật. Do có lỗ hổng của quy định pháp luật như vậy, một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trục lợi gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý và điều hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

C/ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP KHẨU DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM

I. Quy định về dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu

Theo quy định hiện hành thì hiện nay có 02 văn bản quy định về Danh mục xuất, nhập khẩu dịch vụ đó là:



Quyết định số 28/2011/QĐ-TTg ngày 17 tháng 05 năm 2011 ban hành danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam;

Thông tư số 08/2011/TT-BKĐT ngày 01 tháng 8 năm 2011 quy định nội dung danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam.

Theo quy định tại Quyết định số 28/2011/QĐ-TTg thì bao gồm 12 nhóm ngành dịch vụ xuất, nhập khẩu, mã hóa bằng bốn chữ số:

1. Dịch vụ vận tải (mã 2050);

2. Dịch vụ du lịch (mã 2360);

3. Dịch vụ bưu chính và viễn thông (mã 2450);

4. Dịch vụ xây dựng (mã 2490);

5. Dịch vụ bảo hiểm (mã 2530);

6. Dịch vụ tài chính (mã 2600);

7. Dịch vụ máy tính và thông tin (mã 2620);

8. Phí mua, bán quyền sử dụng giấy phép, thương hiệu, bản quyền (mã 2660);

9. Dịch vụ kinh doanh khác (mã 2680);

10. Dịch vụ cá nhân, văn hóa và giải trí (mã 2870);

11. Dịch vụ Chính phủ, chưa được phân loại ở nơi khác (mã 2910);

12. Dịch vụ Logistic (mã 9000).

Mỗi nhóm ngành dịch vụ nêu trên được chi tiết thành các phân nhóm, sản phẩm và được mã hóa bằng bốn chữ số tại phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.

Tại Thông tư số 08/2011/TT-BKĐT có quy định một số khái niệm trong xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ như sau:



Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam: là danh mục phân loại các sản phẩm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu giữa đơn vị thường trú của Việt Nam và đơn vị không thường trú. Khái niệm về đơn vị thường trú và không thường trú được quy định thống nhất trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và cán cân thanh toán quốc tế (BOP).

Dịch vụ xuất khẩu: là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước - đơn vị thường trú của Việt Nam - cung cấp cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài - đơn vị không thường trú.

Dịch vụ nhập khẩu: là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước - đơn vị thường trú của Việt Nam - tiêu dùng/nhận từ các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân nước ngoài - đơn vị không thường trú.

Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định nội dung các nhóm, phân nhóm dịch vụ ví dụ Dịch vụ vận tải bao gồm các dịch vụ vận chuyển hành khách, vận chuyển hàng hóa bằng các phương thức vận tải đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, đường ống, truyền tải điện, các dịch vụ hỗ trợ và liên quan đến vận tải như bốc xếp hàng hóa, kho bãi, dịch vụ cảng hàng không, cảng biển…, Dịch vụ bưu chính và viễn thông bao gồm các dịch vụ bưu chính, chuyển phát và viễn thông

Ngoài ra, Thông tư ban hành kèm theo Phụ lục 1 Bảng mã tương thích giữa Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam (VCITS) với Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam (VCPA) và Phụ lục 2 Bảng mã tương thích giữa Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam (VCITS) với Phân loại dịch vụ GNS/W/120 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (W120).

Từ quy định trên, ta có thể thấy danh mục dịch vụ được xuất, nhập khẩu đã được quy định cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, chỉ quy định về danh mục được thực hiện và nội dung cụ thể các nhóm, phân nhóm dịch vụ, còn phạm vi điều chỉnh từng dịch vụ lại được quy định tại hệ thống các văn bản chuyên ngành khác nhau, theo quản lý riêng của các Bộ, ngành.



II. Hệ thống văn bản điều chỉnh lĩnh vực xuất, nhập khẩu dịch vụ

Hệ thống văn bản pháp luật trong điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ nói chung và xuất nhập khẩu dịch vụ nói riêng rất đồ sộ và phức tạp. Các quy định được thế hiện ở nhiều văn bản khác nhau từ Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Quyết định của Bộ trưởng cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Mỗi nhóm ngành dịch vụ được xuất, nhập khẩu được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật chuyên ngành riêng biệt như dịch vụ vận tải đường bộ được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản như Luật giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn các Luật này, dịch vụ viễn thông được điều chỉnh bởi Luật viễn thông, các Nghị định, Quyết định và Thông tư hướng dẫn, dịch vụ tài chính được điều chỉnh bởi Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn, dịch vụ bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn… bên cạnh đó, mỗi nhóm ngành cũng chịu sự điều chỉnh của quy định khác có liên quan.

Do mỗi nhóm ngành dịch vụ được xuất, nhập khẩu của Việt Nam được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật riêng biệt và độc lập. Do vậy, báo cáo này chỉ tập trung nghiên cứu, rà soát một số nhóm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu lớn và có tiềm năng để từ đó có cái nhìn tổng quát chung trong toàn bộ các quy định của pháp luật liên quan đến xuất nhập khẩu dịch vụ.

  1. Dịch vụ viễn thông

1.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

- Luật viễn thông;

- Luật Bưu chính;

- Luật Tần số vô tuyến điện;

- Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật viễn thông;

- Nghị định 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2012 quy định chi tiết thi hành một số quy định của Luật bưu chính;

- Thông tư số 10/2012/TT-BTTT ngày 10/7/2012 ban hành danh mục dịch vụ viễn thông theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP;

- Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 phê duyệt chiến lược phát triển viễn thông và công nghệ thông tin giai đoạn 2011-2020;

Ngoài ra, còn một loạt các Nghị định, Quyết định và Thông tư, thông tư liên tịch quy định các nội dung liên quan như như Nghị định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, thông tư liên tịch hướng dẫn cấp phép, đăng lý thực hiện quảng cáo trên báo, mạng thông tin máy tính…

1.2 Quy định về quản lý nhà nước và cơ quan quản lý

Việc quản lý trong lĩnh vực viễn thông thuộc trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông, theo đó Bộ Thông tin và Truyền thông có trách ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật về viễn thông; chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia.

Theo đó, năm 2009 Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật viễn thông và thay thế Pháp lệnh bưu chính, viễn thông. Luật được ban hành nhằm thống nhất hệ thống pháp luật trong viễn thông, internet, thay thế các quy định mẫu thuẫn, chồng chéo không còn phù hợp và tạo ra cơ sở pháp lý cao, giải quyết các vấn đề vướng mắc phát sinh trong giai đoạn mới để tạo ra thị trường viễn thông lành mạnh và bền vững.

Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực viễn thông như: quản lý giá cước, khuyến mãi đối với dịch vụ thông tin di động; quản lý thuê bao di động trả trước; chứng nhận công bố hợp quy sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông… 



Ngoài ra, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về Quy hoạch viễn thông quốc gia đến 2020; về đấu giá, chuyển nhượng kho số viễn thông, tài nguyên Internet…Hệ thống văn bản pháp luật này đã và sắp ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ để triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông, Internet.

1.3 Quy định về đầu tư trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

Theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP thì nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư kinh doanh dịch vụ viễn thông dưới hình thức đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về viễn thông và pháp luật về đầu tư

Trường hợp đầu tư trực tiếp để cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam. Trường hợp đầu tư để cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, nhà đầu tư nước ngoài được phép liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với doanh nghiệp viễn thông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông tại Việt Nam.

Ngoài việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư dự án đầu tư nước ngoài trong kinh doanh dịch vụ viễn thông phải bảo đảm các điều kiện khác như phù hợp với quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, quy hoạch tài nguyên viễn thông; quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động trên địa bàn đầu tư; đáp ứng điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư; tỷ lệ phần vốn góp phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.



1.4 Quy định về sở hữu trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

 Nhà nước nắm cổ phần chi phối trong doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của toàn bộ cơ sở hạ tầng viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tỷ lệ vốn hoặc cổ phần tối đa một tổ chức, cá nhân được quyền nắm giữ trong hai hoặc nhiều doanh nghiệp viễn thông khác nhau cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh được quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP thì một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì không được sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.

1.5 Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ viễn thông

Để được kinh doanh dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông (Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng hoặc Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông)

Đối với Doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông:

- Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư kinh doanh dịch vụ viễn thông;

- Có đủ khả năng tài chính, tổ chức bộ máy và nhân lực phù hợp với quy mô của dự án;

- Có phương án kỹ thuật, phương án kinh doanh khả thi phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia, các quy định về tài nguyên viễn thông, kết nối, giá cước, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông;

- Có biện pháp bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông và an ninh thông tin.

Đối với Doanh nghiệp hoạt động thiếu lập mạng viễn thông công cộng: tương tự các điều kiện của doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông, ngoài ra, phải có vốn pháp định và mức cam kết đầu tư quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.



2. Dịch vụ ngân hàng

2.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh



- Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam;

- Luật các tổ chức tín dụng;

- Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi thi hành..

Trong những năm qua, hệ thống pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng đã dần dẫn được cải thiện, một bước tiến quan trọng năm 1990 Pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính. Sau đó năm 1997 Luật Ngân hàng nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được ban hành, hai luật này đã tạo ra sân chơi bình đẳng cho các tổ chức tín dụng và tạo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên do quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hai luật này cũng đã bộc lộ những hạn chế và khó khăn trong quá trình thực hiện đối và cũng như thiếu cơ sở pháp lý trong việc quản lý, giám sát của Ngân hàng nhà nước.

Do vậy, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng được xây dựng lại và đã Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế hai luật năm 1997. Hiện nay, hai luật này là cơ sở pháp lý cao nhất tạo nền tảng cho các hoạt động của ngân hàng nói chung và dịch vụ tài chính nói riêng. Trên cơ sở quy định của các Luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đã ban hành một số Nghị định, Quyết định và Thông tư để hướng dẫn thực hiện. Các văn bản pháp lý đã tạo ra khuôn khổ pháp lý khá toàn diện điều chỉnh cả các tổ chức tín dụng và hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho các tổ chức tín dụng hoạt động trong môi trường cạnh tranh.

2.1 Quy định về cơ quan quản lý nhà nước

Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2.2 Quy định về hình thức pháp lý và loại hình hoạt động của Tổ chức tín dụng


- Về hình thức pháp lý: Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định, Tổ chức tín dụng được tổ chức theo các hình thức pháp lý của Luật Doanh nghiệp (hoặc Luật Hợp tác xã) như sau: Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ); tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn; ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã; tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.

Như vậy, các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát được phân loại theo hình thức pháp lý của Tổ chức tín dụng (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã).



- Về hoạt động của Tổ chức tín dụng: Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định phạm vi hoạt động của từng Tổ chức tín dụng phụ thuộc vào loại hình hoạt động của chính Tổ chức tín dụng (như Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân).

2.3 Quy định về cấp phép và điều kiện được cấp phép

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện và được quản lý, giám sát chặt chẽ, do đó Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định theo nguyên tắc mọi tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác có liên quan của pháp luật được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép thì được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng.

Loại hình được cấp phép và điều kiện cấp phép:

Việc cấp phép được chia làm 5 trường hợp: (i) Tổ chức tín dụng; (ii) Tổ chức tín dụng liên doanh tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài (iii) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài (iv) văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng và (v) Điều kiện cấp Giấy phép đối với ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô. Tùy từng loại mà điều kiện cấp phép được quy định khác nhau, các điều kiện được quy định cụ thể tại Luật các tổ chức tín dụng. Riêng đối với trường hợp thứ năm (v) điều kiện do Ngân hàng nhà nước quy định.



2.4 Quy định về tăng cường quản lý, ngăn chặn sự lũng loạn

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định chặt chẽ về điều kiện của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập tổ chức tín dụng, điều kiện, tiêu chuẩn đối với người quản lý, điều hành, yêu cầu công khai lợi ích liên quan có liên quan đến tổ chức tín dụng, giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằm bảo đảm điều kiện tài chính, năng lực quản trị, điều hành của cổ đông, thành viên sáng lập, người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, ngăn ngừa khả năng lũng đoạn hoạt động ngân hàng của các cá nhân tổ chức là cổ đông lớn và hạn chế xung đột lợi ích tiềm tàng.

Bên cạnh đó Luật các tổ chức tín dụng quy định chặt chẽ về điều kiện khai trương hoạt động của tổ chức tín dụng để bảo đảm tổ chức tín dụng khi khai trương hoạt động có đầy đủ các điều kiện về bộ máy nhân sự, cơ sở vật chất, quy trình quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm soát rủi ro.

3. Dịch vụ bảo hiểm



3.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

- Luật kinh doanh bảo hiểm;

- Luật sửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm;

- Nghị định số 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

- Nghị định số 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh sổ xổ;

- Nghị định 103/2008/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới;

- Nghị định 214/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 103/2008/NĐ-CP ngày 16/09/2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

- Quyết định số 193/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020;

- Các Thông tư, Quyết định hướng dẫn.

3.2 Quy định quản lý nhà nước và cơ quan quản lý

Việc quản lý nhà nước dịch vụ kinh doanh bảo hiểm được thông qua việc cấp phép thành lập, điều kiện được thành lập, hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu về tài chính, cam kết với bên mua bảo hiểm, chấp thuận doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài, thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

Cơ quan quản lý trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là Bộ Tài chính.

3.3 Điều kiệm tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Doanh nghiệp hoạt động kinh doạnh bảo hiểm được phải được cấp giấy phép thành lập và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, theo đó điều kiện để được cấp giấy phép thành lập bao gồm:

+ Không thuộc các đối tượng bị cấm trong Luật kinh doanh bảo hiểm

+ Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;

+ Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật;

+ Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm;

+ Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định Luật kinh doanh bảo hiểm.

3.4 Hợp đồng bảo hiểm

- Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm Hợp đồng bảo hiểm con người; Hợp đồng bảo hiểm tài sản và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

- Hợp đồng bảo hiểm phải được phải được lập thành văn bản

- Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau:

+ Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

+ Đối tượng bảo hiểm;

+ Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

+ Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

+ Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

+ Thời hạn bảo hiểm;

+ Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

+ Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

+ Các quy định giải quyết tranh chấp;

+ Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

Ngoài những nội dung trên, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương