A/ quan đIỂM, ĐỊnh hưỚng của nhà NƯỚc về quản lý ngoại thưƠng và thực trạng hoạT ĐỘNG ngoại thưƠng của việt nam



tải về 1.71 Mb.
trang4/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

9. Sử dụng biện pháp tín dụng


Biện pháp tín dụng được Nhà nước sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau và có tác động lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu. Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng biện pháp tín dụng dưới các hình thức khác nhau như đầu tư phát triển, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh tín dụng và các hình thức hỗ trợ tín dụng khác.

Dịch vụ tín dụng do các ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tài chính, Quỹ hỗ trợ phát triển, các Quỹ đầu tư,... thực hiện. Dịch vụ này bao gồm các loại cho vay bằng tiền dưới dạng: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, chiết khấu và cho vay bằng tài sản dưới dạng cho thuê tài chính. Trong thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đã tiếp cận được nguồn vốn tín dụng để mở rộng sản xuất và đầu tư đổi mới công nghệ kinh doanh xuất nhập khẩu,... nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước hoặc có vốn sở hữu của nhà nước (chiếm khoảng 7%), còn khu vực kinh tế tư nhân còn bị hạn chế (chỉ chiếm khoảng 30%). Nguyên nhân là do: Một là, các doanh nghiệp tư nhân và các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh không có hoặc ít khi có đủ tài sản để thế chấp; Hai là, các ngân hàng vẫn còn có khuynh hướng hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn sẽ ít rủi ro hơn; Ba là, năng lực xây dựng các dự án đầu tư khả thi (để làm cơ sở vay vốn) của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn yếu; Bốn là, do thủ tục vay vốn của các ngân hàng còn rườm rà, tốn thời gian công sức nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các hộ gia đình còn thiên hướng tiếp cận vốn vay từ nguồn vốn tín dụng phi chính thức (vay nặng lãi, vay gia đình, bạn bè, thậm chí vay một số doanh nghiệp nhà nước,...).

Tóm lại, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã chú trọng sử dụng công cụ tín dụng nhằm hỗ trợ, khuyến khích phát triển xuất nhập khẩu nói riêng, khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế nói chung. Các khoản tín dụng này được các Quỹ hoặc qua hệ thống ngân hàng để hỗ trợ đã bước đầu phát huy tác dụng và mang lại hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, việc hình thành và phương thức sử dụng các khoản tín dụng có hạn chưa phát huy hết vai trò của nó. Mặt khác, việc hình thành quá nhiều tổ chức tín dụng có chức năng gần như nhau đã gây phân tán nguồn lực tài chính, cạnh tranh không cần thiết giữa các tổ chức, lãng phí, chồng chéo, vừa thừa vừa thiếu, khó quản lý và dễ gây thất thoát. Vì thế, hiện nay nhu cầu cấp thiết là cần tập trung vào một đầu mối cung cấp tín dụng và ưu đãi tín dụng thúc đẩy xuất nhập khẩu.

II. Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

1. Những kết quả đã đạt được

Từ các quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, hiện nay đã góp phần tạo hành lang pháp lý cho việc xác lập và thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo ra được một cơ chế thông thoáng, minh bạch cho hoạt động nhập khẩu của thương nhân cũng như đáp ứng về cơ bản các yêu cầu quản lý nhà nước trong hoạt động xuất nhập hàng hóa của Việt Nam.

Các quy định pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa đã thiết lập được một số các biện pháp để điều hành, quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa, các biện pháp này được xây dựng theo hướng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế và đã từng bước được đổi mới để phù hợp với các cam kết quốc tế.

Các biện pháp quản lý nhập khẩu được điều chỉnh kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế và theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.Trong giai đoạn qua, về cơ bản, các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu đưa ra phủ hợp với tình hình thực tế và mục tiêu điều hành. Trong quá trình triển khai thực hiện, các Bộ, ngành đã kịp thời phối hợp, xử lý những vấn đề phát sinh, đồng thời có sự nghiên cứu, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế. Một số biện pháp quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa nêu trên, đã đạt được những kết quả khá cao cụ thể như sau:



1.1 Biện pháp về thương nhân, hàng hóa, cửa khẩu, phương thức xuất nhập khẩu và xuất xứ hàng hóa

Về thương nhân: Các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng, đa dạng hóa và một số chủ thể hoạt động ngày càng có hiệu quả. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhẩu ngày càng tăng, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gia tăng thúc đẩy sản xuất và phát triển xuất khẩu. Khoảng 55% tổng số dự án và trên 50% tổng số vốn FDI đã được thu hút vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sản phẩm xuất khẩu. Số doanh nghiệp FDI trực tiếp tham gia xuất khẩu tăng nhanh từ 1.854 doanh nghiệp trong năm 2003 lên 3.272 doanh nghiệp trong năm 2007 và khoảng trên 4000 doanh nghiệp trong năm 2010, chiếm gần 20% tổng số doanh nghiệp xuất khẩu cả nước.

Về mặt hàng: Phát triển được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thực hiện thành công một số khâu đột phá tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng mới. Năm 2001, có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD (gồm dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản), với tổng giá trị 8,4 tỉ USD, chiếm 56% kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 2010, đã có 18 mặt hàng xuất khẩu chủ lực (thủy sản, gạo, cà phê, cao su, sản phẩm gỗ, than đá, dầu thô, xăng dầu, sắt thép và sản phẩm thép, dệt may, giày dép, đá quí và kim loại quí, máy vi tính và linh kiện, máy móc thiết bị, dây điện và cáp điện, phương tiện vận tải, túi xách và ô dù), với tổng giá trị xuất khẩu trên 51 tỉ USD, chiếm 70,6% kim ngạch xuất khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực đã vượt mục tiêu Chiến lược đề ra.Thủy sản đã thực hiện được vai trò hạt nhân tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản; kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt trên 5 tỉ USD (mục tiêu Chiến lược là 3,5 tỉ USD). Chúng ta đã bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu gạo từ 0,62 tỉ USD trong năm 2001 lên 1,4 tỉ USD trong năm 2005 và 3,25 tỉ USD trong năm 2010. Dệt may và giày dép đã thực hiện được vai trò hạt nhân tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng chế biến, chế tạo. Đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hai mặt hàng dệt may và giày dép đạt 16,33 tỉ USD, chiếm 22,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (chỉ tiêu này của năm 2000 là 23,2%).



Về xuất xứ hàng hóa: Hiện nay, Việt Nam đã tham gia rất nhiều Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với nhiều nước trên thế giới như các hiệp định giữa ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Ấn Độ, giữa Việt Nam với các nước Úc, Niu-Di-Lân... Kết quả cho thấy, bằng việc tham gia FTA, phần lớn hàng xuất khẩu của Việt Nam đã được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thậm chí giảm còn 0%. Điều này tạo thuận lợi lớn cho phát triển kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu, tạo thuận lợi tự do hóa thương mại và tăng khả năng cạnh tranh cho nhiều ngành hàng có lợi thế của Việt Nam như dệt may, da giầy, thủy sản, đồ gỗ,.... Đặc biệt trong thời gian tới, khi Hiệp định TPP có hiệu lực sẽ đem lại lợi ích to lớn về thuế quan khi hàng hóa Việt Nam được tiếp cận các thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0%.

1.2 Các biện pháp thuế

Hệ thống văn bản pháp luật về thuế đặc biệt, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xây dựng và thực hiện nghiêm túc, đã tạo khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng, thống nhất góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định về thuế. Cơ chế quản lý thuế được thực hiện theo phương thức mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường trang thiết bị, công nghệ, hiện đại hóa ngành tạo cơ chế chủ động, đơn giản hóa thủ tục trong việc quản lý thu, nộp, thanh khoản hoàn thuế.

Trong những năm qua, Luật Thuế xuất nhập khẩu đã đạt được nhiều kết quả, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật thuế XNK đã tạo khuôn khổ pháp lý góp phần quan trọng trong thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, phù hợp với tiến trình cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế giai đoạn 2005 đến 2015.

Luật thuế XNK đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các quy định tại Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện cam kết quốc tế về thuế quan như gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các Thỏa thuận thành lập khu vực thương mại tự do (FTA). Việc quy định ba loại thuế suất thuế nhập khẩu là thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường đã tạo cơ sở để áp dụng các mức thuế nhập khẩu phân biệt theo mức độ cam kết về quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan... và qua đó, thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo nguyên tắc có đi có lại. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ; có thỏa thuận về quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với 90 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ký kết và triển khai thực hiện 10 Hiệp định thương mại tự do (FTAs) song phương và đa phương với các đối tác lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc - Niuzilan và Chile, khối nước liên minh kinh tế Á Âu bao gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia và hướng tới kết thúc đàm phán một số Hiệp định thương mại quan trọng như Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Việt Nam-EU (EVFTA).

Trong những năm qua, Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ cam kết quốc tế, trong đó có nghĩa vụ về thuế xuất nhập khẩu. Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam đã được xây dựng và điều chỉnh hàng năm phù hợp với cam kết cắt giảm thuế quan trong WTO, từ mức thuế bình quân năm 2005 là 17,4% đến nay xuống còn 10,4%. Bên cạnh đó, Biểu thuế ưu đãi đặc biệt trong các FTAs đã từng bước được cắt giảm theo đúng lộ trình cam kết với mức độ bảo hộ hợp lý. Việc gia nhập các Hiệp định thương mại quốc tế đã thực sự mở ra cơ hội hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào thị trường quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần cải cách kinh tế trong nước thông qua việc thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế, chuyển đổi cơ cấu ngành, vùng.

Từ năm 2002 đến năm 2011, Việt Nam đã ký kết, gia nhập và tuân thủ toàn bộ Công ước HS; Ký kết Nghị định thư thực hiện Danh mục Biểu thuế hài hoà ASEAN (AHTN). Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam đã tuân thủ theo Công ước HS ở cấp độ 6 số và tuân thủ theo AHTN ở cấp độ 8 số, có chi tiết ở cấp độ 10 số theo đặc thù hàng hoá Việt Nam. Từ năm 2012 trở đi, Biểu thuế nhập khẩu đã thống nhất hoàn toàn theo AHTN ở cấp độ 8 số.

Việc áp dụng trị giá tính thuế theo trị giá thực thanh toán theo quy định của Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO thay thế việc tính thuế theo trị giá tối thiểu phù hợp với thông lệ quốc tế, công bằng bình đẳng trong kinh doanh thương mại và là cơ sở để tính thuế theo nguyên tắc chung của WTO nên đã tạo thuận lợi trong kinh doanh và bảo vệ ở mức cao nhất quyền lợi của các doanh nghiệp nhập khẩu, góp phần hội nhập sâu rộng để thực thi các chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở quy định về trị giá tính thuế, cơ quan hải quan đã xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu giá tính thuế (GTT22, GTT01). Hệ thống cơ sở dữ liệu này đã giúp cơ quan hải quan phát hiện nghi vấn, tổ chức tham vấn và bác bỏ những lô hàng có trị giá khai báo thấp, bất hợp lý đặc biệt là những mặt hàng nhạy cảm thuế suất cao, nâng cao ý thức tuân thủ của doanh nghiệp trong khai báo trị giá, góp phần từng bước ngăn chặn các hiện tượng gian lận thương mại, thu bổ sung hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho ngân sách Nhà nước.

Theo đó, Việt Nam đã thực hiện cải cách hệ thống thuế theo hướng minh bạch, đơn giản, không phân biệt đối xử theo tiêu chuẩn quốc tế và đặc biệt trở thành tiền đề mở ra những cơ hội phát triển kinh tế, giao thương văn hóa và hợp tác chặt chẽ về chính trị.

Thứ hai, Luật thuế XNK góp phần tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất và xuất khẩu, hỗ trợ dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đối với một số nhóm mặt hàng, ngành nghề phù hợp với tiến trình hội nhập và định hướng phát triển của Nhà nước giai đoạn 2005 đến 2015.

Luật đã góp phần tạo môi trường pháp lý tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, hỗ trợ dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đối với một số nhóm mặt hàng, ngành nghề cụ thể phù hợp với tiến trình hội nhập và định hướng phát triển của nhà nước.

Các quy định về miễn thuế, xét miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế nhập khẩu đã được quy định rõ ràng, minh bạch theo đúng định hướng phát triển ngành nghề kinh tế của Đảng và Chính phủ, trong đó đã tập trung ưu đãi theo lĩnh vực hoặc địa bàn đầu tư; khuyến khích mở rộng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài. Việc bảo hộ có chọn lọc cũng đã góp phần hình thành một số ngành nghề, doanh nghiệp phát triển vững chắc tạo công ăn việc làm cho người lao động để đảm bảo an sinh và ổn định xã hội. Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn góp phần định hướng tiêu dùng, góp phần hạn chế nhập khẩu các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường. Việc bổ sung các biện pháp phòng vệ về thuế để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nhập khẩu hàng hóa đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết trong việc xử lý các tình huống có nguy cơ đe dọa đến sản xuất một số hàng hóa trong nước. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tham gia đầy đủ, đồng bộ với thị trường quốc tế trong tiến trình tự do hóa thương mại, xóa bảo hàng rào thuế quan trong những năm tới.

Cùng với các chính sách khác, Luật Thuế xuất nhập khẩu đã tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý và thúc đẩy sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu theo định hướng của Nhà nước, tăng cường hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là quan hệ với các đối tác thương mại lớn như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Luật Thuế xuất nhập khẩu đã quy định nguyên tắc xây dựng Biểu thuế, thuế suất trên cơ sở đó, Chính phủ, Bộ Tài chính đã quy định các mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với yêu cầu bảo hộ, theo lộ trình và thời hạn cụ thể, có điều kiện, góp phần tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia, theo đúng lộ trình cam kết với các nước trong khu vực và quốc tế.

Luật đã góp phần tạo môi trường pháp lý tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, hỗ trợ dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời, bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đối với một số nhóm mặt hàng, ngành nghề cụ thể phù hợp với tiến trình hội nhập và định hướng phát triển của nhà nước.

Các quy định về miễn thuế, xét miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế nhập khẩu đã được quy định cụ thể, rõ ràng theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, trong đó tập trung ưu đãi theo lĩnh vực hoặc địa bàn đầu tư cần ưu tiên phát triển, góp phần khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc đã tạo điều kiện hình thành một số ngành nghề, doanh nghiệp phát triển, tạo việc làm cho người lao động, góp phần đảm bảo an sinh và ổn định xã hội. Qua đó, cùng với các chính sách khác đã tạo môi trường pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho việc quản lý và khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hợp lý hơn đối với hàng hóa nhập khẩu theo định hướng của Nhà nước, nhất là quan hệ với các đối tác thương mại lớn như các nước ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản.

Bên cạnh đó, việc thực hiện các quy định của Luật còn góp phần định hướng tiêu dùng, hạn chế nhập khẩu các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích tiêu dùng, góp phần hạn chế nhập siêu; đồng thời đối với thuế xuất khẩu, Luật chỉ quy định thu thuế đối với nhóm hàng là tài nguyên khoáng sản không tái tạo, nhóm tài nguyên thiên nhiên cần bảo vệ như gỗ rừng, da động vật sống đã thực sự trở thành công cụ hiệu quả để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả. Việc quy định bổ sung các biện pháp phòng vệ về thuế để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nhập khẩu hàng hóa đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết trong việc xử lý các tình huống có nguy cơ đe dọa đến sản xuất một số hàng hóa trong nước. Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tham gia đầy đủ, đồng bộ với thị trường quốc tế trong tiến trình tự do hóa thương mại, xóa bảo hàng rào thuế quan trong những năm tới.



Thứ ba, tỷ trọng số thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN giảm nhưng số thu vẫn tăng hợp lý hàng năm, góp phần điều chỉnh cơ cấu thu NSNN theo hướng bền vững và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế.

Giai đoạn 2005-2010 số thu bình quân chiếm khoảng 15-16% tổng thu NSNN. Những năm gần đây, do tác động của việc thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan, tỷ trọng thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong tổng thu NSNN giảm dần, cụ thể: năm 2011 số thu NSNN từ thuế XNK đạt 65.622 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,09%; năm 2012 số thu đạt 60.066 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 7,96%; năm 2013 số thu đạt 66.450 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,22%; năm 2014 số thu đạt 80.099 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 7,99%; ước năm 2015 số thu dự kiến là 81.200 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,11% tổng thu NSNN. Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng thu từ thuế XNK ước đạt 5,8/năm. Về cơ cấu thu, bình quân giai đoạn 2011-2015, thu từ thuế xuất khẩu chiếm 20,5%, thu từ thuế nhập khẩu chiếm 79,5% tổng thu thuế XNK. Thu thuế xuất khẩu chủ yếu từ xuất khẩu khoáng sản chưa qua chế biến (dầu thô, than đá), giai đoạn 2011-2015 ước chiếm 76,6% tổng thu thuế xuất khẩu. Bên cạnh đó, công tác quản lý và thu hồi nợ thuế đã có nhiều tiến bộ. Các khoản nợ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được phân loại, theo dõi quản lý, đôn đốc thu nộp; từng bước giảm thiểu và hạn chế phát sinh nợ mới.



    1. Biện pháp phi thuế

Việt Nam đã bước đầu xây dựng một số quy định về quản lý nhập khẩu và được chấp nhận theo thông lệ quốc tế như hạn ngạch thuế quan, luật chống bán phá giá, các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật... Việc ban hành các chính sách phi thuế quan đã góp phần hạn chế các tác động xấu đối với môi trường. Danh mục hạn chế định lượng chủ yếu tập trung vào việc ngăn cấm hoặc hạn chế nhập khẩu những hàng hoá nhạy cảm với môi trường như hoá chất độc hại, chất thải, động thực vật có nguy cơ lây lan dịch bệnh, động thực vật quý hiếm, nhập khẩu hàng hoá đã qua sử dụng, công nghệ, thiết bị cũ, lạc hậu. Nước ta đã ban hành Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn cùng nhiều văn bản về tiêu chuẩn quy chuẩn chuyên ngành đối với hàng hóa. Hiện tại, Việt Nam có khoảng 1200 trong tổng số 5600 tiêu chuẩn quốc gia hiện hành phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế tương ứng. Riêng trong khu vực, Việt Nam đã chấp nhận 56 trong tổng số 59 tiêu chuẩn của chương trình hài hoà tiêu chuẩn ASEAN.

Việt Nam đã xây dựng và sử dụng một số rào cản thương mại thuế quan và phi thuế quan như thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệ quốc, thuế quan ưu đãi phổ cập, giấy phép nhập khẩu, hạn chế định lượng, chỉ định đầu mối nhập khẩu và quản lý chuyên ngành, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, đặc biệt là các loại rào cản kỹ thuật trong các lĩnh vực nông sản, thuỷ hải sản, may mặc... với các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng phù hợp với quy chuẩn của quốc tế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ người tiêu dùng trong nước và bảo vệ môi trường.

Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường liên quan đến hoạt động xuất khẩu cũng như đã tiến hành rà soát hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng cho phù hợp với nguyên tắc của Hiệp định TBT. Việt Nam đã cam kết bãi bỏ dần các hàng rào phi thuế quan trong nhiều thoả thuận quốc tế. Quan trọng nhất là bãi bỏ các hạn chế định lượng, số lượng và mở rộng quyền hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó là việc thuế hoá các biện pháp phi thuế quan và giảm dần các mặt hàng phải xin giấy phép xuất nhập khẩu.

Áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu đã có những tác động tích cực buộc các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ và phương thức sản xuất thân thiện môi trường, xuất khẩu tạo thêm nguồn lực tài chính để phục hồi và tái tạo môi trường. Nhập khẩu hàng hóa đã chú trọng nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ phục vụ sản xuất trong nước.Ý thức chấp hành các quy định môi trường của doanh nghiệp đã được nâng lên, số doanh nghiệp triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 vào quá trình sản xuất ngày càng nhiều.

Nhà nước đã từng bước lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các chính sách phát triển được xác định trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoach, chương trình phát triển xuất nhập khẩu.Trong chính sách xuất khẩu đã chú trọng đến các sản phẩm tiêu thụ ít nguyên liệu, năng lượng, ít gây ô nhiễm. Thực tế thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng và áp dụng một số biện pháp phi thuế quan nhằm bảo vệ môi trường, đưa ra một số tiêu chuẩn liên quan đến vệ sinh và môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không thân thiện với môi trường, hạn chế ô nhiễm qua biên giới mà không vi phạm các cam kết gia nhập WTO. Điều này là thực sự cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, thách thức về môi trường qua biên giới sẽ ngày càng lớn, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường trong hoạt động nhập khẩu đang có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển bền vững ở nước ta. Tình trạng vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam đang diễn biến rất phức tạp, khó kiểm soát và gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, trong đó phải kể đến các hoạt động: nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo quy định môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm; di nhập các sinh vật lạ, sinh vật biến đổi gien; nhập khẩu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật độc hại; nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị lạc hậu; nhập khẩu phế liệu, phế thải gây ô nhiễm môi trường...

Trong bối cảnh đó, nhập khẩu hàng hóa đã chú trọng nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ phục vụ sản xuất trong nước, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phần chủ yếu trong tổng giá trị nhập khẩu hàng năm là các nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và công nghệ cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất, tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.

Về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập như sau:

1.3.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến KTCN26

Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm tra chuyên ngành và thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (đến tháng 8/2015) là 265 văn bản (có danh mục kèm theo tại Phụ lục VI), gồm:

- Văn bản do Quốc Hội ban hành gồm Luật và Pháp lệnh: 20 văn bản.

- Văn bản do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm Nghị định, Chỉ thị, Quyết định và Thông báo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: 54 văn bản.

- Văn bản do các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành gồm Thông tư và quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ: 191 văn bản với khoảng trên 200 Danh mục hàng hóa và hơn 100.000 dòng hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành, kiểm tra chuyên ngành khi làm thủ tục xuất nhập khẩu.

1.3.2. Nhận xét hệ thống văn bản pháp luật quy định về KTCN

a. Mặt được:

a.1. Đã hình thành hệ thống các văn bản pháp luật quy định về quản lý chuyên ngành, kiểm tra chuyên ngành tương đối đầy đủ (Luật, pháp lệnh: 20 văn bản; Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông báo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: 54 văn bản; Thông tư, quyết định của các Bộ, ngành: 191 văn bản) và nhiều văn bản cá biệt hướng dẫn thực hiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành tạo điều kiện thuận lợi, minh bạch cho hoạt động thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.

a.2. Nhiều Bộ, ngành ban hành văn bản pháp luật quy định về quản lý chuyên ngành, kiểm tra chuyên ngành và công bố danh mục hàng hóa cần quản lý chuyên ngành có mã số phân loại hàng hóa (mã số HS) kèm theo đã giúp cho cơ quan hải quan và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu thực hiện thống nhất, dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc áp dụng chính sách quản lý hàng hóa và áp mã tính thuế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, tạo sự thống nhất giữa doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong việc xác định mặt hàng, áp mã thuế đối với mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ các doanh nghiệp kinh doanh đúng pháp luật, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giữ gìn và bảo vệ môi trường, giữ uy tín, giữ thị trường cho hàng hóa của Việt Nam.

a.3. Các văn bản quy định kiểm tra chuyên ngành đã tạo lập môi trường pháp lý cần thiết nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương