A/ quan đIỂM, ĐỊnh hưỚng của nhà NƯỚc về quản lý ngoại thưƠng và thực trạng hoạT ĐỘNG ngoại thưƠng của việt nam



tải về 1.71 Mb.
trang3/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

Chương trình Thương hiệu quốc gia là một chương trình xúc tiến thương mại dài hạn, nhằm xây dựng, quảng bá tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước, theo đó, doanh nghiệp tham gia chương trình được hỗ trợ kinh phí để thực hiện một số nội dung chương trình tại “Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia” được ban hành kèm theo Quyết định số 984/QĐ-BCT, được hỗ trợ về tư vấn đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, tên thương mại, chỉ dẫn địa địa lý, được sử dụng cơ sở dữ liệu thông tin thị trường…


Ngoài ra, hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế còn được thực hiện thông qua tín dụng xuất khẩu quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đang được thí điểm thực hiện theo Quyết định số 2011/QĐ-TTg.

7. Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu đặc thù

7.1 Kiểm soát hoạt động nhập khẩu của khu vực hải quan riêng (khu phi thuế quan, khu thương mại tự do, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất...)

Nghị định số 29/2008/NĐ-CP xác định quan hệ trao đổi hàng hóa giữa khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất23 với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu.

Quyết định số 100/2009/QĐ-TTg xác định quan hệ trao đổi hàng hóa,dịch vụ giữa khu phi thuế quan24 thuộc khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu với bên ngoài (nội địa) là quan hệ xuất khẩu, nhập nhập khẩu.

Các cơ chế, chính sách áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu được quy định tại Quyết định 100/2009/QĐ-TTg. Về cơ bản các quy định về nhập khẩu hàng hóa vào Khu phi thuế quan, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất áp dụng tương tự như hàng hóa nhập khẩu thông thường mà không có ưu đãi riêng đối với hàng hóa nhập vào khu này, cụ thể một số quy định như sau:

Chủ thể hoạt động trong khu phi thuế quan được nhập khẩu được xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hóa, trừ các hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Việc nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện, hàng hóa hạn chế kinh doanh được thực hiện theo các quy định của pháp luật Việt Nam.

Hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, gia công, quá cảnh tại khu phi thuế quan phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

7.2 Kiểm soát hoạt động nhập khẩu của hoạt động thương mại biên giới

Thương mại biên giới là một hoạt động đặc thù của thương mại quốc tế theo định nghĩa (xuyên biên giới) nhưng lại mang nhiều những đặc tính khác biệt. Nội hàm của chính sách biên mậu được thể hiện đầy đủ tại Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về thương mại với các nước có chung đường biên giới.

Hoạt động thương mại biên mậu theo Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg bao gồm các hoạt động:25

- Nhập khẩu dưới hình thức mua bán hàng hóa của cư dân biên giới;

- Nhập khẩu thông qua mua bán hàng hóa tại các chợ biên giới, chợ cửa khẩu hay chợ trong các khu kinh tế cửa khẩu;

- Nhập khẩu hàng hóa theo các phương thức không theo thông lệ quốc tế được Việt Nam cam kết trong các Hiệp định song phương với các nước có chung đường biên giới.

Ngoài ra, còn có hoạt động nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới nằm ngoài các khu kinh tế cửa khẩu được quy định tại Thông tư số 13/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương

Việc mua bán, trao đổi và nhập khẩu hàng hóa theo hình thức thương mại biên giới được thực hiện theo quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP nay là Nghị định số 187/2013/NĐ-CP. Riêng đối với hàng hóa trao đổi, mua bán của cư dân biên giới được Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố trong từng thời kỳ.

Ngoài ra, hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa còn bao gồm các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực này, đó là các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong Nghị định số 185/2013/NĐ-CP.

8. Sử dụng biện pháp tỉ giá hối đoái


Tỉ giá hối đoái là quan hệ về sức mua giữa nội tệ so với các ngoại tệ khác, đặc biệt là các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi tự do. Theo lý thuyết, một nền kinh tế có độ mở càng lớn, quy mô và vị trí của nền kinh tế đó càng mở rộng và tăng cường trong phân công lao động quốc tế bao nhiêu thì vai trò của đồng tiền nước đó, sức mua của nó so với các đồng tiền khác trong thương mại quốc tế càng lớn bấy nhiêu, tác động tỉ giá của đồng tiền đó đối với thương mại và kinh tế trong nước cũng như thế giới càng lớn bấy nhiêu.

Nếu để đồng tiền mất giá quá lớn, xuất khẩu sẽ tăng, nhập khẩu sẽ giảm và có thể sẽ tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm trong nước, song nguy cơ bùng nổ lạm phát lại tăng lên. Ngược lại, nếu để đồng tiền trong nước tăng giá quá cao thì tuy lạm phát có thể giảm xuống, nhưng cán cân ngoại thương sẽ xấu đi, xuất khẩu giảm sút, nhập khẩu tăng lên, kéo theo gia tăng chi phí sản xuất trong nước và thu hẹp công ăn việc làm, tiềm ẩn nguy cơ suy thoái kinh tế.

Nhằm hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và tăng trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu nói chung, nước ta đã thực hiện chế độ neo tỷ giá điều chỉnh dần. Cụ thể, đồng Việt Nam được điều chỉnh để giảm giá danh nghĩa so với USD. Mức độ giảm giá danh nghĩa này phụ thuộc vào đánh giá của Ngân hàng Nhà nước về diễn biến thương mại thế giới và tình hình cụ thể trên thị trường ngoại tệ.

Giai đoạn 2006-2013, tỷ giá VNĐ/USD bình quân liên ngân hàng giữ xu hướng tăng, thể hiện việc đồng Việt Nam mất giá danh nghĩa so với đồng USD. Tuy nhiên, tỷ giá này có xu hướng giảm nhẹ trong các tháng đầu năm 2008 khi dòng vốn ngoại tệ vào nước ta là khá dồi dào. Năm 2014, tỷ giá của VNĐ so với USD nói chung tương đối ổn định và hoàn toàn nằm trong giới hạn kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản của thị trường ngoại hối tốt. Biên độ giao động trong phạm vi 21.200đ/USD đến 21.300đ/USD trong năm 2014 được coi là khá ổn định so với các cặp ngoại tệ khác trong khu vực và trên thế giới. 

Theo lý thuyết kinh tế học, việc giảm giá VNĐ có tác dụng tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam, khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập khẩu, góp phần cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán. Mặc dù trên thực tế, tác dụng tích cực của việc giảm giá VNĐ một phần bị hạn chế do mức co giãn về tỷ giá của hàng xuất khẩu của Việt Nam thấp và tỷ trọng hàng nhập khẩu để phục vụ hàng xuất khẩu hiện đang ở mức cao (thông qua việc nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thị trường ngoại hối, điều hành linh hoạt giảm giá VNĐ đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, góp phần tăng trưởng kinh tế.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương