A/ quan đIỂM, ĐỊnh hưỚng của nhà NƯỚc về quản lý ngoại thưƠng và thực trạng hoạT ĐỘNG ngoại thưƠng của việt nam



tải về 1.71 Mb.
trang2/12
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích1.71 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

2. Đối với hoạt động nhập khẩu

Năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Đây cũng là bước ngoặt quan trọng trong công cuộc hội nhập của quốc gia này. Do vậy, các nội dung về thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa sẽ được xem xét tập trung từ năm 2007 trở lại đây.



2.1. Về quy mô

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014 đạt mức bình quân 16,1%/năm. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu năm 2008 đạt 80,7 tỷ USD, năm 2010 đạt 84,8 tỷ USD, năm 2012 đạt 113,8 tỷ USD và năm 2014 đạt 148 tỷ USD.

Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng âm (-13,3%) so với năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến hết năm 2014, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng dương so với năm trước (tăng cao nhất vào năm 2010, 2011). Trong các năm 2012 và 2013, do Chính phủ tiếp tục sử dụng các biện pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng chưa cần thiết hoặc trong nước đã sản xuất được, cùng với việc sản xuất và tiêu thụ gặp nhiều khó khăn nên tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam giảm so với các năm trước đó và dẫn đến không ít mặt hàng có khối lượng và giá trị nhập khẩu giảm so với năm 2010 và 2011 như: Xe máy, ô tô nguyên chiếc các loại... Tuy nhiên, vẫn có một số mặt hàng có lượng nhập khẩu cao như: Nguyên liệu dược phẩm, dầu thô, điều thô, dây điện và cáp điện, phương tiện vận tải và phụ tùng.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 73/BC-TCTK ngày 26 tháng 6 năm 2015 về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu tính chung 6 tháng đầu năm 2015 ước tính đạt 81,5 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2014, cao hơn nhiều mức tăng 10,5% của cùng kỳ năm 2014. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 84,5 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước.



2.2. Về cơ cấu chủ thể nhập khẩu

Tham gia hoạt động nhập khẩu hàng hóa, bên cạnh các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trong nước (sau đây gọi là doanh nghiệp trong nước) còn có sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp FDI). Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, trong năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 34,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước và cùng trong giai đoạn này, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 65,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu trong giai đoạn 2007-2014 chủ yếu là các loại vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho phát triển sản xuất của các ngành kinh tế và hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Từ năm 2008 đến nay, tỷ trọng nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước có xu hướng giảm, cụ thể từ 65,5% năm 2008 xuống còn 43% vào 2014 nhưng tỷ trọng nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI trong tổng nhập khẩu của cả nước có chiều hướng gia tăng, cụ thể tỷ trọng năm 2010 là 43,6%, năm 2012 là 52,7% và năm 2014 đạt gần 57%. Nếu tính chung cả giai đoạn 2007-2014, tăng trưởng nhập khẩu bình quân của các doanh nghiệp trong nước chỉ đạt mức 6,5%/năm thì tăng trưởng bình quân của các doanh nghiệp FDI đạt tới 21,4%/năm.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 73/BC-TCTK ngày 26 tháng 6 năm 2015 về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2015, khu vực kinh tế trong nước đạt 32,7 tỷ USD, tăng 7,7%, thấp hơn mức tăng 10,6% của 6 tháng năm trước; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 48,8 tỷ USD, tăng 25,5%, cao hơn nhiều mức năng 10,4% cùng kỳ năm 2014.



2.3. Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu

Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu, Bộ Công Thương phân các mặt hàng nhập khẩu thành 3 nhóm chính:



(1) Nhóm mặt hàng cần nhập khẩu gồm các mặt hàng như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, nguyên nhiên vật liệu, công nghệ… Đây là nhóm mặt hàng thiết yếu, là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu, do đó phải đảm bảo nhập khẩu để ổn định sản xuất và xuất khẩu (Nhóm này có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, chiếm tỷ trọng 85-90% tổng kim ngạch nhập khẩu).

(2) Nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu gồm các mặt hàng như đá quý, kim loại quý, linh kiện phụ tùng ô tô từ 9 chỗ trở xuống, linh kiện phụ tùng xe máy…

(3) Nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu gồm các mặt hàng tiêu dùng như ô tô từ 9 chỗ trở xuống, xe máy, điện thoại di động, mỹ phẩm, rượu…

Theo số liệu thống kê, cơ cấu hàng hóa nhập khẩu theo nhóm hàng giai đoạn 2007-2014 đang có sự thay đổi theo hướng tăng nhanh kim ngạch và tỷ trọng của nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu, giảm tỷ trọng của nhóm mặt hàng cần kiểm soát và cần hạn chế nhập khẩu. Cụ thể:

- Kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng cần thiết nhập khẩu giai đoạn 2008-2014 tăng nhanh với mức tăng trưởng bình quân đạt 12,3%/năm (năm 2008 là 65,1 tỷ USD, năm 2010 là 72,1 tỷ USD, năm 2012 là 99,9 tỷ USD và năm 2014 là 130,6 tỷ USD), tỷ trọng nhập khẩu của nhóm này trong tổng nhập khẩu hàng hóa của cả nước tăng từ 85% năm 2010 lên 88,2% năm 2014.

- Trong nhóm các mặt hàng cần thiết nhập khẩu, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu hàng năm khá lớn và có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân 2007-2014 ở mức tương đối cao như dược phẩm tăng bình quân 17,8%/năm; hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất tăng bình quân 15,6%/năm; chất dẻo nguyên liệu tăng bình quân 16,5%/năm; sắt thép tăng bình quân 12,9%/năm; đặc biệt mặt hàng máy tính, hàng điện tử và linh kiện có mức tăng bình quân 31,9%/năm…

- Kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu giai đoạn 2008-2014 tăng bình quân 33%/năm (năm 2008 là 1,1 tỷ USD, năm 2010 là 4,1 tỷ USD, năm 2012 là 4,4 tỷ USD và năm 2014 là 6,2 tỷ USD); tỷ trọng nhập khẩu của nhóm này trong tổng nhập khẩu hàng hóa của cả nước tăng dần trong đầu giai đoạn và bắt đầu giảm từ 5,6% năm 2011 xuống còn 4,2% năm 2014. Nhiều mặt hàng trong nhóm này tuy cần thiết nhập khẩu nhưng vẫn phải kiểm soát như đá quý, kim loại quý, linh kiện phụ tùng ô tô, linh kiện phụ tùng xe máy và một số hàng hóa khác…

- Kim ngạch nhập khẩu của nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu giai đoạn 2008-2014 tăng bình quân 5,1%/năm. Các mặt hàng trong nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu hiện nay chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng như mỹ phẩm, bánh kẹo, ô tô từ 9 chỗ trở xuống, xe máy, điện thoại di động…

Như vậy, cho đến năm 2014, kim ngạch nhập khẩu của nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu vẫn luôn chiếm tới 88,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, kim ngạch nhập khẩu của các nhóm nhập khẩu còn lại chỉ chiếm khoảng 10-12%.

Tính riêng năm 2014, cả nước có 26 nhóm hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD với tổng kim ngạch gần 124,1 tỷ USD (chiếm 83,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước). Cụ thể:

- Nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất, đạt 22,5 tỷ USD, tăng 20,4% so với năm 2013; nhóm mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện có kim ngạch nhập khẩu đạt 18,7 tỷ USD, tăng 5,7% so với năm 2013. Tính chung kim ngạch nhập khẩu của hai nhóm này năm 2014 chiếm gần 28% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

- Nhóm 5 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu từ 5-10 tỷ USD gồm: vải các loại đạt 9,4 tỷ USD; điện thoại và linh kiện đạt 8,5 tỷ USD; xăng dầu các loại đạt 7,67 tỷ USD; sắt thép các loại đạt gần 7,8 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu đạt 6,3 tỷ USD. kim ngạch nhập khẩu của 5 mặt hàng nêu trên chiếm 26,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước năm 2014.

- 19 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đạt từ 1 - 5 tỷ USD với tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2014 đạt 43,2 tỷ USD, chiếm 29,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Nhìn chung, trong giai đoạn 2007-2014, tăng trưởng về kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu do nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu. Một số mặt hàng trong nhóm này có kim ngạch nhập khẩu lớn như máy móc thiết bị, sắt thép, xăng dầu, nguyên phụ liệu dệt may và da giầy, ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng... Đây là những hàng hoá nhập khẩu chính của Việt Nam mà sản xuất trong nước chưa sản xuất được hoặc đã sản xuất được nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Vì vậy, những năm tiếp theo, nếu sản xuất trong nước không theo kịp sự phát triển kinh tế đất nước và nhu cầu tiêu dùng của dân cư thì kim ngạch nhập khẩu sẽ còn tiếp tục tăng cao.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 73/BC-TCTK ngày 26 tháng 6 năm 2015 về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2015, trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác ước tính đạt 14,1 tỷ USD, tăng 37,4%; vải đạt 5,2 tỷ USD, tăng 13%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 14,1 tỷ USD, tăng 37,5%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 5,2 tỷ USD, tăng 31,9%; sắt thép đạt 3,7 tỷ USD, tăng 10%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 2,6 tỷ USD, tăng 13,1%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,8 tỷ USD, tăng 22,4%; kim loại thường khác đạt 1,8 tỷ USD, tăng 12,2%; ô tô đạt 2,9 tỷ USD, tăng 97,5%, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1,6 tỷ USD, tăng 186%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ : xăng dầu đạt 2,9 tỷ USD, giảm 32%; chất dẻo đạt 2,9 tỷ USD, giảm 4%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,1 tỷ USD, giảm 9,8%.

2.4. Về thị trường

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, Việt Nam không ngừng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu đối với thị trường nhập khẩu hàng hóa. Cũng như những năm trước đây, trong giai đoạn 2007-2014, châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp cả nước, sau đó đến các thị trường ở châu Âu, châu Mỹ, châu Đại Dương và châu Phi.

Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các thị trường thuộc châu Á luôn đạt mức cao với tăng trưởng bình quân đạt 13,1%/năm trong giai đoạn 2007-2014 (cụ thể, năm 2008 là 64,5 tỷ USD, năm 2010 là 64,4 tỷ USD, năm 2012 là 90,9 tỷ USD và năm 2014 là 120,1 tỷ USD).

Trong khu vực châu Á, các nước ASEAN (đặc biệt là Malaysia, Indonesia, Singapore, Thái Lan...) luôn là thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam đối với các mặt hàng như máy tính các loại, linh kiện điện tử, xăng dầu các loại... Ngoài các nước ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông… là các thị trường quan trọng ở châu Á cung cấp phần lớn nguyên liệu cho sản xuất (xăng dầu các loại, vải và nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị và phụ tùng, sắt thép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện…) và nhiều loại hàng tiêu dùng.

Việc nhập khẩu nhiều từ khu vực này là do gần gũi về vị trí địa lý nên chi phí vận tải hàng hóa từ các nước này vào Việt Nam luôn ở mức thấp, giá cả lại phù hợp nên đa số nguyên nhiên phụ liệu và vật tư phục vụ sản xuất đều được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Malaysia…

Việt Nam hàng năm nhập khẩu hàng hóa từ các thị trường khu vực châu Âu với kim ngạch tương đối lớn với mức tăng trưởng bình quân đạt 6,1%/năm trong giai đoạn 2007-2014. Trong các thị trường khu vực châu Âu, Việt Nam nhập khẩu từ EU nhiều hàng hóa như máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, hàng tân dược, sữa và các sản phẩm, nguyên phụ liệu dệt dệt may, da giày…

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ ba khu vực thị trường gồm châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương hiện đang ở mức thấp. Hàng hóa nhập khẩu từ các châu lục này chủ yếu là thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến, máy móc thiết bị và phụ tùng... Đây là các khu vực thị trường hiện Việt Nam đang xuất siêu.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2015, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 73/BC-TCTK ngày 26 tháng 6 năm 2015 về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2015, nhập khẩu từ Trung Quốc duy trì ở mức cao nhất với 24,4 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2014; Hàn Quốc đạt 13,8 tỷ USD, tăng 31,2%; ASEAN đạt 12 tỷ USD, tăng 6%; Nhật Bản đạt 7,3 tỷ USD, tăng 27,7%; EU đạt 4,5 tỷ USD tăng 5,8%; Hoa Kỳ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 19,8%.

Xét về cơ cấu kim ngạch nhập khẩu hàng hóa theo thị trường

Tỷ trọng nhập khẩu từ thị trường châu Á trong tổng nhập khẩu của Việt Nam luôn ở mức cao, chiếm tỷ trọng 80-82% tổng kim kim ngạch nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu từ thị trường các nước châu Âu chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước (10,4% năm 2010, 8,7% năm 2012 và đạt 7,1% năm 2014). Tỷ trọng nhập khẩu của 3 khu vực thị trường còn lại là châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương trong tổng nhập khẩu của Việt Nam luôn ở mức thấp, dưới 10% trong cả giai đoạn 2007-2014.

Năm 2014, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc đạt 43,87 tỷ USD, chiếm 29,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước; tiếp theo là Hàn Quốc 21,7 tỷ USD, chiếm 14,7%; Nhật Bản 12,9 tỷ USD, chiếm 8,7%. kim ngạch nhập khẩu của các nước ASEAN +3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đạt 78,5 tỷ USD, chiếm 65% kim ngạch nhập khẩu của toàn khu vực châu Á, chiếm 53% kim ngạch nhập khẩu của cả nước.



2.5. Cán cân thương mại

Để thấy rõ cán cân thương mại trong những năm vừa qua, có thể đánh giá cán cân thương mại theo các giai đoạn điển hình, cụ thể như sau:



Giai đoạn hai năm đầu gia nhập WTO: Đây là giai đoạn đánh dấu sự tăng trưởng đột biến trong lĩnh vực nhập khẩu và nhập siêu. Trong khi xuất khẩu hai năm 2007-2008 chỉ tăng bình quân 25,5% thì nhập khẩu lại tăng đến 34,1%. Nhập siêu trong hai năm 2007 và 2008 ở mức cao kỷ lục 14,2 tỷ USD năm 2007 và 18 tỷ USD năm 2008 với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu khoảng 29%/năm. Bước sang năm 2009, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kim ngạch XNK đều giảm mạnh, trong đó xuất khẩu giảm 8,9% và nhập khẩu giảm 13,3%. Tuy nhập siêu có giảm nhưng vẫn ở mức cao 12,85 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là 22,5%.

Như vậy, trong giai đoạn 2007 đến năm 2009, tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã tăng vọt lên 29,2%, 29% và 22,5%, được coi là hiện tượng bất thường của nền kinh tế. Điều này xảy ra ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO và trong điều kiện thị trường nguyên nhiên vật liệu thế giới đang xác lập mặt bằng giá mới cao hơn các năm trước, lạm phát có xu hướng tăng lên trên phạm vi toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính, khủng hoảng nợ công đang lan rộng đẩy nền kinh tế thế giới vào một cuộc suy thoái mới. Nhập siêu năm 2010 (12,6 tỷ USD, bằng 17,4% kim ngạch xuất khẩu) và năm 2011 (9,8 tỷ USD, bằng 10,2% kim ngạch xuất khẩu) do tình hình xuất khẩu có sự khởi sắc và các giải pháp quản lý nhập khẩu quyết liệt của Chính phủ.



Giai đoạn năm 2012: Đây là năm đầu tiên sau 20 năm Việt Nam đạt thặng dư thương mại với mức xuất siêu là 781 triệu USD. Đây là một trong những điểm sáng của nền kinh tế, thể hiện sự phát triển sản xuất trong nước góp phần thay thế hàng nhập khẩu, các biện pháp quản lý nhập khẩu hàng tiêu dùng không thiết yếu, hàng trong nước đã sản xuất được phát huy tác dụng, việc triển khai chỉ đạo của Chính phủ về cắt giảm đầu tư công và Cuộc vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam mang lại hiệu quả nhất định,... Đây là những tín hiệu tốt, tạo tiền đề, động lực để tiếp tục phát triển trong năm tiếp theo.

Giai đoạn từ sau 2012 đến nay: Tiếp đà phát triển của năm 2012, hoạt động XNK đặc biệt là công tác kiềm chế nhập siêu năm 2013 và năm 2014 tiếp tục đạt được kết quả khích lệ. Năm 2013 cán cân thương mại đạt mức thặng dư nhẹ (300 nghìn USD) và năm 2014 thặng dư khá lớn (2,14 tỷ USD).

Bên cạnh đó, cán cân thương mại còn được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:



  1. Về chủ thể

Xem xét về cán cân thương mại theo nhóm chủ thể tham gia nhập khẩu, trong giai đoạn 2007-2014, nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì khu vực doanh nghiệp FDI luôn trong trạng thái xuất siêu, với tỷ lệ xuất siêu đạt khoảng 10-20% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong cùng giai đoạn, khu vực doanh nghiệp trong nước luôn ở trong trạng thái nhập siêu với tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu khá cao (87,5% năm 2008; 44,5% năm 2010; 27,3% năm 2012 và 29,9% năm 2014). Tuy nhiên, thâm hụt cán cân thương mại của nhóm doanh nghiệp này đã dần dần được cải thiện rõ rệt.

  1. Về thị trường

Trong giai đoạn 2007-2014, cơ cấu thị trường nhập khẩu vẫn phân chia rõ rệt, với tỷ trọng cao nhất vẫn là khu vực châu Á, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước trong khu vực ASEAN.

Xét theo khu vực thị trường, Việt Nam có thâm hụt thương mại duy nhất với Châu Á và thặng dư thương mại với tất cả các châu lục còn lại. Trong đó, Việt Nam nhập siêu chủ yếu từ Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Trung Quốc. Kể cả trong giai đoạn 2012-2014, trong khi cán cân thương mại tổng thể đạt thặng dư thì Việt Nam vẫn nhập siêu khoảng 40 tỷ USD năm 2012 và khoảng 51 tỷ USD năm 2013 và 60 tỷ USD năm 2014 từ 7 thị trường này.

Trong khu vực châu Á, nhóm các nước ASEAN, trong đó có Malaysia, Indonesia, Singapore, Thái Lan ... là thị trường chủ yếu của Việt Nam trong việc nhập khẩu các loại máy vi tính, linh kiện điện tử, xăng dầu các loại,... Xét về giá trị tuyệt đối, kim ngạch nhập khẩu luôn cao hơn kim ngạch xuất khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN vẫn luôn ở trạng thái thâm hụt. Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng trưởng hàng năm thì kim ngạch xuất khẩu sang các nước ASEAN luôn tăng cao hơn kim ngạch nhập khẩu, do vậy, nhập siêu từ các nước ASEAN có chiều hướng giảm dần trong giai đoạn này.

Bên cạnh đó, các nước châu Á ngoài ASEAN như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ cũng là thị trường nhập siêu lớn của Việt Nam. Phần lớn nguyên liệu cho sản xuất hay những hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam như xăng dầu các loại, vải và nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị và phụ tùng, sắt thép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,... đều được nhập khẩu từ các thị trường này.



c) Về cơ cấu ngành hàng

Xét về cơ cấu mặt hàng thì những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ thị trường Châu Á chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất, xuất khẩu sang các nước khác (linh kiện điện tử nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đi Hoa Kỳ, Nhật Bản; nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu đi Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ,...). Trong tổng thể chung của nền kinh tế thì việc nhập khẩu các mặt hàng trên là cần thiết để phục vụ sản xuất, xuất khẩu và việc nhập siêu từ thị trường Châu Á giúp Việt Nam xuất siêu sang các khu vực thị trường khác.



B/ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM

I. TỔNG QUAN

Kể từ năm 1986 cho đến nay, hệ thống pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có nhiều cải cách, trong đó không thể không nhắc đến 2 cải cách quan trọng đó là:

Điều chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp với nền kinh tế đổi mới nhiều thành phần, chấm dứt chế độ “Nhà nước độc quyền ngoại thương”. Điều này được thể hiện qua việc Nhà nước ta đã ban hành một loạt các sắc thuế bao gồm Luật thuế xuất nhập khẩu (1988), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (1990), sử dụng hệ thống mã tính thuế hài hòa (HS năm 1992)...

Điều chỉnh hệ thống pháp luật để đáp ứng tối đa việc đồng bộ hóa các quy định trong nước với các cam kết quốc tế, phù hợp với cam kết về mở cửa thị trường: Ban hành Luật Thương mại (1997, 2005), Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005), các Pháp lệnh liên quan đến phòng vệ thương mại...

Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật tương đối lớn, trước hết phải kế đến Luật thương mại, các Nghị định hướng dẫn Luật Thương mại, các Thông tư và Quyết định hướng dẫn hoạt động này, các Pháp lệnh liên quan đến phòng vệ thương mại (tự vệ, chống bán phá giá và trợ cấp) và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành liên quan như các Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Luật an toàn thực phẩm, Luật chất lượng hàng sản phẩm hàng hóa, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật,... Các văn bản này đã tạo nên một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh từ trước đến nay6.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu đã đưa ra nhiều biện pháp quản lý trên các khía cạnh của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, bao gồm các biện pháp quản lý hoạt động thương mại của thương nhân, các biện pháp quản lý về xuất xứ hàng hóa và diện mặt hàng, các biện phápthuế, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp xúc tiến thương mại; các biện pháp ưu đãi kinh tế; các biện pháp về tín dụng, tỷ giá hối đoái…Cụ thể như sau:



1. Các biện pháp quản lý hoạt động của thương nhân trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa

Nhằm kiểm soát hoạt động của thương nhân trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của họ cụ thể:



1.1 Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quyền xuất nhập khẩu hàng hóa của thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Theo đó, trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu7, các thương nhân này được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh. Chi nhánh thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo ủy quyền của thương nhân.



1.2 Đối với thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài)

Quyền xuất nhập khẩu hàng hóa của thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài được quy định tại Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007, quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, các thương nhân này được quyền xuất khẩu những mặt hàng không thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu và các mặt hàng không thuộc danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu; được quyền nhập khẩu các mặt hàng không thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu và các mặt hàng không thuộc danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu8.



1.3 Đối với thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam:

Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được quy định tại Nghị định số 90/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2007 quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam. Theo đó, các thương nhân này được thực hiện quyền xuất khẩu cũng giống như thương nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, về thủ tục đăng ký và cấp giấy phép thực hiện quyền xuất khẩu còn phải nộp thêm một số văn bản như giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, báo cáo tài chính, số tài khoản...



2. Các biện pháp quản lý diện hàng hóa xuất nhập khẩu, phương thức xuất nhập khẩu, cửa khẩu, xuất xứ hàng hóa và giấy chứng nhận lưu hành tự do

2.1 Đối với diện hàng hóa xuất nhập khẩu

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, việc quản lý các loại hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện thông qua hình thức cấm (cấm tuyệt đối hoặc cấm trong một khoảng thời gian nhất định - tạm ngừng); hình thức quản lý theo hạn ngạch thuế quan; hình thức quản lý bởi sự cho phép và/ hoặc phê chuẩn của các cơ quan chuyên ngành.



- Đối với hình thức cấm:

Hình thức này được thực hiện bằng việc ban hành các danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, ngừng xuất khẩu; cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo lộ trình cam kết của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới.

Phụ lục I Nghị định 187/2013/NĐ-CP, quy định danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. Các mặt hàng trong danh mục này chủ yếu là loại hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu thông thường theo thông lệ quốc tế như vũ khí, đạn dược, di sản văn hóa quý, động vật hoang dã... (đối với xuất khẩu)9, vũ khí, đạn dược, hóa chất độc hại... (đối với nhập khẩu)10.

Đối với các quy định về danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu được ban hành trong từng thời điểm vì những lý do an toàn môi trường sinh thái hoặc bảo vệ sức khỏe cộng đồng...: Trước đây, Việt Nam đã áp dụng biện pháp tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu đối với hai mặt hàng là đồ gỗ thành phẩm và hàng dệt may và hiện nay đang áp dụng biện pháp tạm ngừng đối với hàng hóa là máy móc thiết bị cũ đã qua sử dụng lạc hậu… Việc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng này đều dựa trên những lý do đặc biệt (từ phía Việt Nam hoặc từ phía các đối tác thương mại).

Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo lộ trình cam kết của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) ban hành kèm theo Thông tư số 34/2013/TT-BCT ngày 24/12/2013 công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Đối với hình thức quản lý theo ngạch thuế quan:

Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam chịu hạn ngạch thuế quan bao gồm muối, thuốc lá nguyên liệu, trứng gia cầm và đường tinh luyện, đường thô. Theo đó, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đã cụ thể theo mã HS dùng trong Biểu thuế xuất nhập khẩu danh mục các mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan trong Thông tư 04/2015/TT-BCT. Tổng lượng hạn ngạch các mặt hàng do Bộ Công Thương công bố hàng năm trên cơ sở quyết định lượng hạn ngạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đối với các mặt hàng muối, trứng gia cầm và đường tinh luyện, đường thô; quyết định lượng hạn ngạch thuốc lá là Bộ Công Thương. Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn cam kết bổ sung hạn ngạch thuế quan với mức thuế suất ưu đãi 0% riêng cho một số chủng loại hàng hóa có xuất xứ từ Lào và Campuchia.



- Đối với hình thức quản lý bởi sự cho phép/phê chuẩn của các cơ quan chuyên ngành11:

Các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu yêu cầu phải có giấy phép được quy định cụ thể tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP, bao gồm hàng hóa xuất, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Công Thương; hàng hóa xuất, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ, cơ quan chuyên ngànhn và hàng hóa xuất, nhập khẩu theo các quy định riêng.

+ Hàng hoá quản lý theo quy định riêng: một số hàng hóa xuất nhập khẩu được quản lý theo cơ chế riêng được quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP, các mặt hàng này chủ yếu là những mặt hàng liên quan đến an ninh quốc phòng, liên quan đến sức khỏe của con người, an toàn môi trường…cần phải có sự điều tiết, quản lý riêng của cơ quan quản lý nhà nước.

2.2 Đối với các phương thức xuất nhập khẩu hàng hóa

Các phương thức xuất nhập khẩu hàng hóa bao gồm các phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu thông thường và các phương thức xuất nhập khẩu khác quy định tại Luật Thương mại và Nghị định số 187/2013/NĐ-CP bao gồm: (i) xuất khẩu, nhập khẩu (ii) tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu; (iii) gia công hàng hoá có yếu tố nước ngoài (gồm gia công hàng hoá cho nước ngoài và đặt gia công hàng hoá ở nước ngoài); (iv) đại lý mua bán hàng hoá (gồm đại lý mua bán hàng hoá cho nước ngoài và thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài).



2.3 Đối với cửa khẩu xuất nhập khẩu hàng hóa

Hàng hòa xuất khẩu nhập khẩu nói chung được thực hiện tại các cảng biển quốc tế, cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính. Riêng một số mặt hàng để khuyến khích xuất khẩu hoặc mặt hàng cần nhập khẩu để phục vụ sản xuất trong nước được thực các cửa khẩu phụ, lối mở nhưng đã đủ lực lượng quản lý chuyên ngành12.

Tuy nhiên, trong những năm qua, Việt Nam có quy định một số mặt hàng chỉ được thực hiện qua một số cửa khẩu nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người tiêu dùng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng... các cửa khẩu này thường lưu lượng hàng hóa thông quan lớn, là nơi có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng và nhân lực để thông quan hàng hóa. Đối với mặt hàng ô tô, khi nhập khẩu ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi (bao gồm cả chưa qua sử dụng và đã qua sử dụng) chỉ được nhập qua các cửa khẩu cảng biển quốc tế: Cái Lân-Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu (Thông tư số 19/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 7/7/2009 và Thông tư liên tịch số 25/2010/TTLT-BCT-BGTVT-BTC ngày 14/6/2010 ).

Đối với các mặt hàng rượu, mỹ phẩm, điện thoại di động, trừ hành lý mang theo người của khách nhập cảnh, khi làm thủ tục nhập khẩu thương nhân chỉ được thông quan tại các cảng biển quốc tế: Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh (Thông báo số 197/TB-BCT ngày 6/5/2011). Tuy nhiên, đến cuối năm 2012, Bộ Công Thương phối hợp với các Bộ, ngành rà soát các quy định quản lý nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông báo số 197/TB-BCT nêu trên. Trên cơ sở các Bộ, ngành đã có hướng dẫn việc nhập khẩu các mặt hàng rượu, mỹ phẩm, điện thoại di động và nhằm cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, ngày 28/12/2012, Bộ Công Thương bãi bỏ Thông báo số 197/TB-BCT.



    1. .Đối với xuất xứ của hàng hóa

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa là văn bản do tổ chức có thẩm quyền thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa cấp dựa trên những quy định và yêu cầu liên quan về xuất xứ, chỉ rõ nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.

Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cần xác định xuất xứ trong trường hợp được hưởng ưu đãi về thuế và các ưu đãi khác hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các quy định chung về xuất xứ hàng hóa đã được cụ thể trong Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hoá, Thông tư số 07/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn thủ tục cấp và quản lý việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP, Thông tư số 08/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại hướng dẫn cách xác định xuất xứ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có xuất xứ không thuần tuý theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP, Thông tư số 10/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại sửa đổi Thông tư số 08/2006/TT-BTM và nhiều Thông tư quy định về xuất xứ ưu đãi như Thông tư số 21/2010/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương về thực hiện quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN…



2.5 Đối với giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS)

CFS được xem là một công cụ để nước nhập khẩu sản phẩm có thể kiểm tra mức độ chất lượng sản phẩm nhập khẩu vào nước họ, cũng như tăng độ tin cậy, vì khi một sản phẩm có CFS thì tức sản phẩm đó đã thông qua những phương pháp đánh giá kiểm tra của cơ quan chuyên môn tại nước xuất khẩu và sản phẩm đó đã được cho phép sản xuất, buôn bán và tiêu dùng tại nước đó.

Để kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa xuất nhập khẩu có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, môi trường sinh thái, hiện nay, Việt Nam có quy định Danh mục sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu như thuốc, mỹ phẩm, trang thiết bị y, giống cây trồng, vật nuôi...yêu cầu phải có CFS, chi tiết hàng hóa được quy định tại Phụ lục I kèm theo Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg ngày 10/02/2010. Khi nhập khẩu những hàng hóa trong phụ lục nêu trên thương nhân phải nộp CFS cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành, khi xuất khẩu thì cơ quan quản lý nahf nước cấp CFS theo yêu cầu của thương nhân xuất khẩu.



3. Các biện pháp quản lý bằng công cụ thuế

Nhóm các văn bản quy định về thuế bao gồm Luật Quản lý thuế (2006), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (2005), Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (2008)…



3.1 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu

Thuế xuất xuất, thuế nhập khẩu là một loại thuế độc lập trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam và các nước trên thế giới. Có thể nói thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một công cụ hữu hiệu nhất để bảo hộ nền sản xuất trong nước khi không thể sử dụng các biện pháp phi thuế quan. Bên cạnh đó, thuế nhập khẩu là cơ sở để nhà nước kiểm soát được số lượng, chất lượng và tác động của hàng hóa được nhập khẩu đối với thị trường Việt Nam, góp phần điều tiết kinh doanh và định hướng tiêu dùng, giúp nhà nước cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

Xác định được tầm quan trọng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng và chính sách thuế quan nói chung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Việt Nam đã không ngừng cải thiện chính sách thuế quan trong nước phù hợp với tình hình phát triển của đất nước cũng như để đối phó với các diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới. Chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho đến nay được thực hiện theo hướng tiếp tục tuân thủ các cam kết của Việt Nam về thuế quan trong WTO, chính sách giảm thuế, tự do hóa thương mại khi tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do và một số chính sách được ban hành nhằm ngăn chặn, suy giảm kinh tế.

Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam được quy định tại Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Nghị định quy định chi tiết Luật và Thông tư của Bộ Tài chính ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, sửa đổi, bổ sung mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi.

Tùy thuộc vào tính đặc thù của từng mặt hàng và loại hình xuất khẩu, nhập khẩu, Nhà nước có chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp trong từng thời kỳ.

Ngoài thuế xuất khẩu, nhập khẩu nêu trên, chính sách thuế nội địa của Việt Nam có ảnh hưởng đến nhập khẩu hàng hóa cũng đã tuân thủ chặt chẽ theo các cam kế trong WTO.

3.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa đặc biệt do các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ tại Việt Nam. Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu đối với một số sản phẩm là hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước định hướng tiêu dùng, thường là những hàng hóa, dịch vụ Nhà nước không khuyến khích sản xuất, nhập khẩu tiêu dùng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt ngoài vai trò là nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết tiêu dùng còn đóng vai trò là công cụ để Nhà nước đánh vào các mặt hàng nhập khẩu nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước và sức khỏe cộng đồng.

3.3 Thuế bảo vệ môi trường

Được điều chỉnh bởi Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.

Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế nêu trên. Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế.

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối, trong đó Số lượng hàng hóa tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.



3.4 Thuế giá trị gia tăng

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa phải chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng ngoài việc, góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ, còn giúp nhà nước kiểm soát được hoạt động nhập khẩu và góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý thông qua việc đánh thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu ngay từ khi nó xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, thuế giá trị gia tăng cùng với thuế xuất khẩu. nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.



4. Các biện pháp phòng vệ thương mại

Được thành hình trong giai đoạn Việt Nam đang thực hiện những nỗ lực nước rút để gia nhập WTO, mục tiêu được đặt ra đối với các vấn đề này là hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam cho phù hợp với quy định của WTO và sẵn sàng cho thời kỳ hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức này. Vì vậy, về hình thức có thể suy đoán rằng các quy định của pháp luật về các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam có nội dung tương đối bám sát các quy định liên quan (mà cụ thể là Hiệp định về tự vệ, Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO).

Trên thực tế, khi soạn thảo các văn bản về ba vấn đề này, các cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, các cơ quan thẩm tra và các nhà tư vấn trong và ngoài nước đều đã dựa trên những quy định về tự vệ, chống bán phá giá và chống trợ cấp của WTO và quy định của một số nước thành viên WTO (với hệ thống pháp luật được suy đoán là cũng phải tuân thủ WTO) để soạn thảo và bình luận hoàn thiện các dự thảo liên quan. Vì vậy có thể nói việc “rà soát” các dự thảo so với “chuẩn” WTO đã được thực hiện ngay từ giai đoạn soạn thảo này.

4.1 Các biện pháp tự vệ

Vấn đề áp dụng các biện pháp tự vệ được điều chỉnh bởi hai văn bản quy phạm pháp luật, đó là Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam (2002) và Nghị định 150/2003/NĐ-CP ngày 08/12/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam. Nhìn từ góc độ nội dung, các văn bản này chủ yếu điều chỉnh các nhóm vấn đề sau:



  • Nhóm các quy định về điều kiện được phép áp dụng biện pháp tự vệ;

  • Nhóm các quy định về thủ tục điều tra;

  • Nhóm các quy định về cách thức áp dụng biện pháp tự vệ;

  • Nhóm các quy định về nhân nhượng;

(i) Về điều kiện13

Pháp lệnh quy định rằng, một biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng sau khi cơ quan điều tra xác định rằng: (1) khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa nhập khẩu gia tăng đột biến một cách tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước; (2) việc gia tăng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp trong nước.

Khi đối chiếu với bốn điều kiện được quy định trong Hiệp định WTO về các biện pháp tự vệ, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy là quy định về điều kiện của Pháp lệnh là chưa đầy đủ.

(ii) Về thủ tục điều tra 14

Pháp lệnh tự vệ quy định một cách chi tiết và cụ thể về thủ tục điều tra, bao gồm căn cứ tiến hành điều tra (Điều 10 Pháp lệnh Tự vệ), nội dung điều tra (Điều 16 Pháp lệnh Tự vệ) và thủ tục thông báo, tham vấn và bảo mật thông tin (Điều 12, Điều 14 Pháp lệnh Tự vệ). Nhìn chung, thủ tục điều tra quy định tại Pháp lệnh Tự vệ về cơ bản giống với các quy định của WTO về các biện pháp tự vệ. Ngoài ra, Pháp lệnh còn bổ sung thêm một số điều khoản làm rõ thủ tục điều tra, ví dụ Điều 11 Pháp lệnh Tự vệ quy định về hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ, Điều 13 liệt kê các bên liên quan đến quá trình điều tra, Điều 15 về quản lý hàng hóa thuộc đối tượng điều tra và Điều 17 quy định các trường hợp đình chỉ điều tra mà trong Hiệp định về các biện pháp tự vệ của WTO không quy định.

(iii) Về cách thức áp dụng biện pháp tự vệ

Các biện pháp tự vệ tạm thời 15

Việc áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời được quy định trong Pháp lệnh khá tương thích với Hiệp định WTO quy định về vấn đề này, duy chỉ có việc gia hạn đối với các biện pháp tạm thời là không được quy định trong Pháp lệnh. Thời hạn áp dụng các biện pháp tạm thời được quy định trong Pháp lệnh cụ thể hơn so với Hiệp định WTO. Về hình thức áp dụng biện pháp tạm thời, trong khi Hiệp định về Tự vệ quy định một cách cụ thể là áp dụng hình thức tăng thuế thì hình thức áp dụng trong Pháp lệnh là tăng thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (nói cách khác, quy định trong WTO cụ thể hơn).

Các biện pháp tự vệ chính thức

- Về điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ chính thức:

Như trong phần điều kiện để áp dụng các biện pháp tự vệ đã chỉ ra, những điều kiện quy định trong Pháp lệnh về Tự vệ là chưa đầy đủ như điều kiện được đặt ra trong Hiệp định của WTO về các biện pháp tự vệ.

- Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ:

Pháp lệnh của Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ như được nêu trong Hiệp định WTO. Tuy nhiên, có một khác biệt nhỏ đó là Việt Nam không có quy định ưu đãi giành cho các nước đang phát triển (có thể là do Việt Nam cũng là một nước đang phát triển nên không thể có ưu đãi hơn được.)

- Các hình thức của biện pháp tự vệ:

Hình thức áp dụng biện pháp tự vệ được quy định trong Pháp lệnh bao gồm tăng mức thuế nhập khẩu, áp dụng hạn ngạch nhập khẩu hoặc áp dụng các biện pháp khác do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, Điều 2 Nghị định 150/2003/NĐ-CP hướng dẫn thực thi pháp lệnh Tự vệ đã bổ sung thêm một số hình thức khác, ví dụ như: áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng thuế tuyệt đối, cấp phép nhập khẩu để kiểm soát nhập khẩu, phụ thu đối với hàng hóa nhập khẩu, các biện pháp khác. Một điểm dễ nhận ra khi đối chiếu quy định của Việt Nam với quy định của WTO về Tự vệ là quy định của Việt Nam được thể hiện chi tiết hơn, nhưng lại không cụ thể bằng quy định của WTO. Pháp lệnh chỉ đơn thuân liệt kê cách thức, nhưng không đặt ra điều kiện để áp dụng biện pháp đó (đặc điểm này khác so với quy định tại Hiệp định Tự vệ của WTO).

- Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ:

Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ trong Pháp lệnh của Việt Nam khá tương thích với Hiệp định Tự vệ của WTO. Tuy Việt Nam không có quy định thời hạn ưu đãi giành cho các nước đang phát triển, song Việt Nam lại quy định về thời gian gia hạn dài hơn 2 năm so với Hiệp định, tức là tổng thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ có thể là 10 năm. Quy định của WTO về tổng thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ là 8 năm, và có thể gia hạn thêm 2 năm nữa đối với các nước đang phát triển.

- Đối với các biện pháp tự vệ:

Quy định trong Pháp lệnh không có gì trái với quy định trong Hiệp định về vấn đề này.

(iv) Về bồi thường, nhân nhượng 16

Xét một cách tổng thể, cả Pháp lệnh và Hiệp định đều quy định một cách chung chung về việc bù đắp thiệt hại do áp dụng các biện pháp tự vệ. Điểm khác biệt rõ nhất đó là không có quy định về áp dụng biện pháp trả đũa trong Pháp lệnh của Việt Nam.

4.2 Các biện pháp chống bán phá giá

Quy định của pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá được quy định một cách cụ thể tại Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2004 về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Nghị định số 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh chống bán phá giá vào Việt Nam. Những nhóm nội dung chính của Pháp lệnh và Nghị định là:



  • Nhóm các quy định về điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

  • Nhóm các quy định về cách thức xác định bán phá giá;

  • Nhóm các quy định về thủ tục điều tra;

  • Nhóm các quy định về cách thức áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

(i) Về điều kiện 17

Pháp lệnh quy định điều kiện để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là: (1) chứng minh được hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam và xác định rõ biên độ bán phá giá; (2) chứng minh được việc bán hàng hóa phá giá là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 5 của Pháp lệnh đã bổ sung thêm một điều kiện nữa (về lợi ích công cộng) để áp dụng các biện pháp tự vệ, cụ thể: “Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế- xã hội trong nước.”

Đối chiếu với các điều kiện theo quy định của WTO có thể nhận thấy là Pháp lệnh, một mặt, thiếu một điều kiện so với Hiệp định về chống bán phá giá 18, mặt khác quy định thêm một điều kiện khác (điều kiện về lợi ích công cộng).

(ii) Về xác định bán phá giá 19

Về vấn đề này, Pháp lệnh về chống bán phá giá quy định không chi tiết bằng quy định tương ứng của WTO. Đặc điểm này được thể hiện ở quy định về nội dung các phương pháp tính giá thông thường trong điều tra chống bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất nội địa, cụ thể là thiếu các quy định về việc xác định điều kiện và cách thức tính giá thông thường theo từng phương pháp (như Điều 2 của Hiệp định về chống bán phá giá.); thiếu các quy định về xác định thiệt hại của ngành sản xuất vùng, về nghĩa vụ bắt buộc phải xem xét các yếu tố khác cùng gây ra thiệt hại ngoài việc hàng nhập khẩu bán phá giá (như Điều 3 Hiệp định về chống bán phá giá).

(iii) Về điều tra hành động chống bán phá giá

Pháp lệnh có sự phù hợp tương đối với Hiệp định của WTO về chống bán phá giá, theo đó, Pháp lệnh cũng quy định 3 bước tiến hành là: mở điều tra, quá trình điều tra và kết thúc điều tra. Nhìn chung, các quy định trong Pháp lệnh được thể hiện chi tiết hơn so với nội dung của Hiệp định.

(iv) Về cách thức áp dụng

Nói chung, cách thức áp dụng các biện pháp tự vệ theo quy định của Pháp lệnh không trái với quy định của Hiệp định. Duy chỉ có một số quy định của Hiệp định nghiêm ngặt hơn so với Pháp lệnh, ví dụ về điều kiện để áp dụng biện pháp tạm thời, về nội dung biện pháp cam kết…

4.3 Biện pháp về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

Quy định của pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được quy định cụ thể tại Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/8/2004 về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Nghị định số 89/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Những nhóm nội dung chính của Pháp lệnh và Nghị định là:



  • Nhóm các quy định về định nghĩa trợ cấp;

  • Nhóm các quy định về điều tra trợ cấp đối với hàng nhập khẩu;

  • Nhóm các quy định về cách thức áp dụng.

(i) Về định nghĩa

Nhìn chung, các định nghĩa trong Pháp lệnh giống với các định nghĩa trong Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng.

(ii) Về thủ tục điều tra

Về cơ bản, pháp lệnh Việt Nam đã tuân thủ chặt chẽ thủ tục điều tra như được nêu trong Hiệp định, gồm các bước: nộp hồ sơ, quyết định điều tra, tham vấn (trước hoặc trong quá trình điều tra, không bắt buộc các bên liên quan vắng mặt vẫn được đảm bảo lợi ích, không gây cản trở đến quá trình điều tra và áp dụng biện pháp chống trợ cấp), bắt đầu điều tra, yêu cầu về bảo mật thông tin, đưa ra kết luận sơ bộ.

(iii) Về cách thức áp dụng

Nội dung các quy định trong Hiệp định và Pháp lệnh về cơ bản là giống nhau, nhưng có một số điểm khác biệt như sau:

- Trong pháp lệnh có quy định khi áp dụng biện pháp áp thuế chống trợ cấp thì phải dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử - là một nguyên tắc chung, phổ biến thế nhưng trong Pháp lệnh của Việt Nam là không hề quy định như vậy

- Pháp lệnh có nêu ra khả năng có thể gia hạn cho việc áp dụng các biện pháp tạm thời và biện pháp áp thuế đối kháng sau khi thòi hạn áp dụng hết hiệu lực, trong khi đó, Hiệp định không có quy định gì về việc gia hạn này.

- Về áp dụng thuế đối với hàng hoá đã được nhập khẩu trước khi Pháp lệnh có hiệu lực và trước khi Hiệp định có hiệu lực (hồi tố), có một khác nhau rất lớn giữa hai văn bản. Ở Pháp lệnh, áp dụng thuế chống trợ cấp có hiệu lực trở về trước đối với hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời nhưng trong Hiệp định thì thời hạn 90 ngày này lại là kể từ ngày áp dụng biện pháp tạm thời.

Với mục tiêu hoàn thiện pháp luật Việt Nam cho phù hợp với các quy định của WTO chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình gia nhập WTO(năm 2007), những văn bản quy phạm pháp luật về tự vệ và chống các hành vi thương mại không công bằng đã được Nhà nước ban hành. Rà soát câu chữ của các văn bản kể trên với các hiệp định liên quan của WTO cho kết quả như sau:

Tất cả các quy định của pháp luật Việt Nam về tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp hiện hành đều tuân thủ đúng các quy định tại Hiệp định về tự vệ, Hiệp định chống bán phá giá và Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO (không có quy định trái hoặc mâu thuẫn).

Một số quy định của pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định lựa chọn của WTO (và do đó hoàn toàn phù hợp với WTO), ví dụ:

- Quy định về các thời hạn trong quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và tự vệ;

- Quy định về các Cơ quan điều tra, quyết định và thực thi quyết định về các biện pháp chống bán phá giá;

- Quy định về một điều kiện bổ sung cho các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp (điều kiện về lợi ích công cộng) 20;

Tuy vậy, cũng còn đó một số quy định chưa đạt được độ chi tiết như quy định tương ứng của WTO. Điều này không có nghĩa là pháp luật Việt Nam không tuân thủ WTO bởi WTO không bắt buộc các nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật chuyên biệt và đầy đủ về chống bán phá giá/chống trợ cấp mà chỉ đòi hỏi các thành viên nếu có quy định trong pháp luật nội địa thì phải đảm bảo rằng các quy định đó tuân thủ quy định của WTO.



5. Các biện pháp phi thuế quan

Hàng rào phi thuế quan là một cơ chế quản lý xuất nhập khẩu được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Mục đích của các hàng rào phi thuế quan ban đầu là để bảo vệ người tiêu dùng của nội địa khỏi các nguy cơ về y tế, an toàn sinh học, an toàn kỹ thuật… Tuy nhiên, với quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, hàng rào thuế quan còn nhiều tác dụng khiến các nhà hoạch định chính sách xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng phải tìm các biện pháp thay thế. Tại Việt Nam, hệ thống hàng rào phi thuế quan bao gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; kiểm dịch động vật, thực vật và an toàn thực phẩm.

Về các tiêu chuẩn liên quan đến an toàn, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm hàng hóa, pháp luật Việt Nam có các Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2007), Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật Khoa học và Công nghệ (2013) và một số Pháp lệnh (An toàn bức xạ…) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành (bao gồm Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng).21

Việc sử dụng các công cụ tính chất kỹ thuật có vai trò, ý nghĩa ngày càng quan trọng đối với quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, thực hiện Hiệp định TBT, SPS theo cam kết WTO, Việt Nam đã từng bước xây dựng, rà soát, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo hướng hài hòa hóa và hợp chuẩn quốc tế. Số lượng TCVN hoàn toàn phù hợp hoặc tương đương các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và nước ngoài ngày một nhiều hơn.

Về các tiêu chuẩn liên quan đến kiểm dịch thực vật, động vật và an toàn thực phẩm, pháp luật Việt Nam có các Luật Thủy sản (2003), Luật Thú y (2015), Luật An toàn thực phẩm (2010), Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (2013) và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.22

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, việc tăng cường quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu nhằm ngăn chặn khả năng gây mất an toàn của hàng hóa nhập khẩu, bảo đảm an toàn cho con người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam,… được Nhà nước rất chú trọng, trước tiên là trên phương diện chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, xét trên phương diện sử dụng các công cụ có tính chất kỹ thuật, như việc xây dựng và sử dụng các hàng rào thương mại TBT, SPS, tiêu chuẩn môi trường,… của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chậm được triển khai, hiệu quả thấp,… nên chưa hạn chế được những tác động bất lợi của tự do hóa thương mại, đầu tư và tài chính theo các cam kết WTO và các FTA đã tham gia đến thị trường và sản xuất trong nước. Một số vấn đề nổi cộm gay gắt nhưng chậm có các công cụ, biện pháp kiểm soát, ngăn chặn và đẩy lùi như: tình trạng nhập khẩu thiết bị và công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu và năng lượng, gây tổn hại môi trường sinh thái từ các nước trong khu vực (đặc biệt là từ Trung Quốc); tình trạng nhập khẩu động thực vật và sản phẩm hàng hóa không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm từ Trung Quốc; tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và thiếu cơ quan chịu trách nhiệm chính cuối cùng trong việc quản lý, kiểm soát chất lượng hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ nước ngoài lưu thông trên thị trường trong nước (hàng hóa được nhập khẩu chính ngạch và tiểu ngạch);…

Trên phương diện quản lý hoạt động nhập khẩu liên quan đến phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu, Việt Nam đã từng bước chú trọng (nhất là sau khi gia nhập WTO), trước hết là về mặt luật pháp, chính sách. Các quy định pháp luật và chính sách liên quan đến vấn đề này đã được ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường (2014); Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đối khí hậu; Luật Chuyển giao công nghệ (2006); Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (2010); Nghị định số 04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; Luật Công nghệ cao (2008); Quyết định số 2457/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định số 432/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam 2011 - 2020; Quyết định số 1393/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; và Quyết định số 2612/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược sử dụng công nghệ sạch đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Tuy nhiên, việc thể chế hóa chính sách còn chậm, việc xây dựng các công cụ kiểm soát nhập khẩu cho phát triển bền vững còn yếu kém.

Trên phương diện quản lý nhập khẩu liên quan đến bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 160/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước phù hợp với cam kết quốc tế, quy định của WTO đến năm 2020.



6. Các biện pháp xúc tiến thương mại

Xúc tiến thương mại là một hoạt động được quy định tại Luật Thương mại 2005 và được hướng dẫn chi tiết thi hành tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Các hoạt động xúc tiến thương mại, theo quy định tại các văn bản trên đều không có sự phân biệt rành mạch giữa xúc tiến thương mại trong nước và xúc tiến ngoại thương (hướng đến xuất khẩu).

Bên cạnh đó, xúc tiến thương mại còn được thể hiện thông qua chương trình xúc tiến thương mại quốc gia; chương trình thương hiệu quốc gia;hệ thống cơ quan đại diện xúc tiến thương mại Việt Nam tại nước ngoài; hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài...

Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia là một chương trình được xây dựng trên cơ sở định hướng phát triển xuất khẩu, thị trường trong nước và thương mại miền núi, biên giới và hải đảo, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo từng thời kỳ, theo đó, nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiện một số nội dung xúc tiến thương mại được quy định tại “Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia ban” được hành kèm theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg, theo đó, nội dung chương chương trình xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu bao gồm: thông tin thương mại, nghiên cứu thị trường, xây dựng cơ sở dữ liệu các thị trường xuất khẩu trọng điểm theo các ngành hàng; tuyên truyền xuất khẩu; tư vấn phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển xuất khẩu, thâm nhập thị trường nước ngoài; đào tạo, tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước; tổ chức đoàn giao dịch thương mại tại nước ngoài…





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương