2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn


SỰ BIẾN ĐỔI CỦA THỰC VẬT THEO ĐỘ CAO VÀ HƯỚNG SƯỜN



tải về 463.39 Kb.
trang5/7
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích463.39 Kb.
1   2   3   4   5   6   7

4.2 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA THỰC VẬT THEO ĐỘ CAO VÀ HƯỚNG SƯỜN

4.2.1 Sự biến đổi thành phần loài theo độ cao


Đề tài sử dụng công thức tính độ thân thuộc giữa hệ thực vật ở các độ cao khác nhau do Sorensen xây dựng: S = 2c(a+b)x100.

Bảng 4.1. Mức độ tương đồng về thành phần loài trong cấu trúc thảm thực vật giữa các bậc độ cao khác nhau trên núi Ba Vì



Độ cao (m)

300

400

500

600

700

800

900

1000

1100




31

 

 

 

 

 

 

 

 

300

100

32

 

 

 

 

 

 

 

400

 

100

52

 

 

 

 

 

 

500

 

 

100

54

 

 

 

 

 

600

 

 

 

100

60

 

 

 

 

700

 

 

 

 

100

42

 

 

 

800

 

 

 

 

 

100

56

 

 

900

 

 

 

 

 

 

100

62

 

1000

 

 

 

 

 

 

 

100

53

Như vậy, có thể nhận thấy ở độ cao dưới 500m, hệ thực vật hoàn toàn ngẫu nhiên, khác biệt lớn giữa các bậc độ cao.

Có sự tương đồng khá rõ giữa thành phần loài ở các cấp độ cao liên tục từ 500m đến 700m hoặc từ 800m đến trên 1100m. Sự không tương đồng xuất hiện khi so sánh thành phần loài ở độ cao 600-700m với 700-800m, ở đó chỉ có khoảng 21% số loài cây gỗ phân bố ở độ cao từ 600 đến 800m. Như vậy, dựa trên kết quả này đai phân tách giữa thảm thực vật nhiệt đới và thảm thực vật á nhiệt đới xảy ra ở độ cao từ 700 đến 800m.

Các nhóm loài đại diện ở độ cao trên 800m có các loài: Acer laeviegatum, dinandra sp., Aglaia perviridis, Alangium kurzii, Bischoffia javanica, Camellia sp., Castanopsis sp., và 17 loài khác. Trong khi đó, ở độ cao dưới 800m có các loài Aglaia perviridis, Alangium kurzii, Aphananthe aspera, Archidendron balansae, Archidendron sp., Baringtonia sp., Castanopsis indica, và 20 loài khác.

Những loài làm nên khác biệt về sự ưu thế trong cấu trúc rừng ở đai thấp và đai cao như sau:



  • Đai trên 700m: Acer laeviegatum, Adinandra sp., Bischoffia javanica, Camellia sp., Cinnamomum sp., và 21 loài khác.

  • Đai dưới 700m: Aphananthe aspera, Archidendron balansae, Archidendron sp., Baringtonia sp., Castanopsis indica, và 15 loài khác.

4.2.2 Sự khác biệt giữa sườn Đông và sườn Tây


Dựa trên chỉ số Sorensen được tính toán ,kết quả chỉ ra có sự khác biệt giữa sườn đông và sườn tây về sự tương đồng thành phần loài cây gỗ ở các bậc độ cao địa hình liên tục (xem bảng 4.2) trong khoảng độ cao từ dưới 600 đến dưới 800m so với mặt nước biển.

Bảng 4.2 Mức độ tương đồng về thành phần loài trong cấu trúc thảm thực vật giữa các bậc độ cao khác nhau ở hai sườn Đông – Tây núi Ba Vì



Độ cao

(m)


Sườn Tây

Sườn Đông

600

700

800

600

700

800

<600

39







58







<700




32







52




<800







23







65

Như vậy, nếu ở sườn Đông, sự khác biệt giữa bậc dưới 700m với bậc trên 700m tương ứng là 58% và 65% so với 52%, có nghĩa sự khác biệt ở đai trên 700m và đai dưới 700m là 13% và 6% thì ở sườn tây, sự khác biệt giữa đai trên 700m và đai dưới 700m là 9% và 7%. Ở sườn đông có sự chênh lệch lớn giữa bậc độ cao 700-800 và 600-700 m (13%) trong khi đó ở sườn tây mức khác biệt này chỉ là 9%. Vậy phải chăng, ở sườn đông, do điều kiện ẩm ướt hơn nên sự phân hóa đai độ cao thực tế sẽ còn cao hơn so với mức 700m ở sườn tây.

Những nhóm loài ưu thế làm nên khác biệt giữa hai sườn ở các đai cao khác nhau được tổng hợp trong bảng sau:



Bảng 4.3. Các loài ưu thế theo các hướng sườn và đai độ cao khác nhau ở Ba Vì

Sườn Đông

Sườn Tây

Rừng kín á nhiệt đới

Castanopsis tonkinensis, Magnolia baviensis, Ichnocarpus polyanthus, Acer laviegatum, Machilus sp., và 16 loài khác.

Claoxylon indicum, Paranephelium sperei, Madhuca pasquieri, Lithocarpus sp., Homalium zeylanicum, và 18 loài khác.

Rừng thứ sinh á nhiệt đới

Castanopsis sp., Claoxylon indicum, Ficus tristylis

Alangium kurzii, Mallotus paniculatus, Claoxylon indicum, Syzygium sp., Wrightia sp. và Schefflera sp.

Rừng nhiệt đới

Saraca dives, Macaranga denticulate, Claoxylon indicum, Machilus bonii, Archidendron balansae, Magnolia balansae,

Và 12 loài khác.

Castanopsis indica, Villebrunea intergrifolia, Elaeocarpus sp., Alangium kurzii, Archidendron sp., và 9 loài khác.

4.2.3 Đánh giá mức độ đa dạng sinh học theo đai cao và hướng phơi

4.2.3.1 Mức độ đa dạng sinh học theo đai cao


Chỉ số đa dạng sinh học Shannon Index (H) có sự khác nhau rõ ràng giữa các đai cao. Càng lên cao thì chỉ số H càng tăng. Trong khi đó chỉ số đồng đều Evenness (H’) cao nhất đối với đai > 1000 m và thấp nhất đối với đai < 400 m. Đối với các chỉ số lâm phần DBH, Hvn và G (tiết diện ngang), nhìn chung các giá trị đều tăng dần theo đai cao và sự khác nhau giữa các đai là rõ rệt.

4.2.3.2 Mức độ thuần nhất các loài theo đai cao


Đai 400-700 m và 700-1000 m có chỉ số cao nhất. Mức độ thuần nhất giảm xuống giữa đai 700-1.000 m và đai > 1.000 m, và thấp nhất giữa đai < 400 m và đai > 1.000 m. Nhìn chung các đai càng xa nhau thì chỉ số thuần nhất loài giữa các đai càng thấp.

4.2.3.3 Đa dạng sinh học và cấu trúc lâm phần theo hướng phơi


Mức độ thuần nhất về loài giữa hai sườn là khá thấp (SI = 0,39). Chỉ số đa dạng Shannon (H) và chỉ số đồng đều Evenness (H’) không có sự khác nhau giữa 2 hướng Đông và Tây. Mặc dù vậy cấu trúc lâm phần mật độ cây, DBH, G (tiết diện ngang) và Hvn là khác nhau giữa hai hướng Đông và Tây. Hướng Đông có các giá trị cấu trúc lâm phần lớn hơn so với hướng tây.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương