2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn


Thảm thực vật tự nhiên ở vành đai nhiệt đới trên đất nội địa đới



tải về 463.39 Kb.
trang4/7
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích463.39 Kb.
1   2   3   4   5   6   7

4.1.2 Thảm thực vật tự nhiên ở vành đai nhiệt đới trên đất nội địa đới

4.1.2.1 Trảng cỏ chịu ngập thứ sinh nhiệt đới


Chỉ có diện tích nhỏ, rải rác trên đồng bằng phù sa và các khe núi.

Trên đồng bằng phù sa, trảng cỏ phân bố thành dải hẹp ven hồ và thành các mảng nhỏ vài mét vuông ven suối hay ruộng Lúa nước. Trảng có nguồn gốc thứ sinh, chịu tác động thường xuyên của con người và gia súc. Vào mùa mưa, trảng cỏ thường bị ngập; vào mùa khô nơi ngập nông thoát ngập, nền đất nhiều chỗ trở nên cứng, nơi ngập sâu giảm độ sâu ngập nước.

Ven hồ nơi ngập nông hay ven suối, bờ ruộng có trảng cỏ cao 10-30cm, che phủ kín với tập hợp loài khá phức tạp. Các loài cỏ có nhiều cá thể, chiếm vai trò chính thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) với các loài như Song phân cong (Dimeria falcata), Song phân Thwaites (Dimeria thwaitesii), Cỏ lồng vực nước (Echinochloa crus-galli), Kê hoa cong (Panicum curviflorum), Kê nước (Panicum paludosum),....

Các loài cỏ khác tuy nhiều loài nhưng chỉ có ít cá thể, thường gặp các loài Dương xỉ như Ráng ất minh Vache, Sẹo gà dải, Rau bợ nhỏ, Rau bợ nước, … Cây bụi thường gặp Mua tép, Vú bò.

Nơi ngập nước sâu vào mùa khô ít khi cạn có quần xã Trinh nữ đầm lầy, Điên điển gai, Điền thanh cao 2-3m, che phủ thưa.

Trong các khe núi, trên các bãi đất lầy thường gặp trảng cỏ cao >2m với ưu thế của Sậy núi.


4.1.2.2 Quần xã thủy sinh nước ngọt nhiệt đới


Phân bố trong hồ, đầm ngập nước quanh năm, gồm các loài thủy sinh sống chìm, nổi và trôi nổi không cố định. Các loài thủy sinh chìm có Rong đuôi chó bốn nhị (Myriophyllum tetrandrum), Rong ly vàng (Utricularia aurea), Dùi trống song (Eriocaulon fluviatile), Lá hẹ (Blyxa aubertii), Giang thảo tám nhị (Potamogeton octandrus); loài rễ cắm trong bùn, lá nổi trên mặt nước: Từ cô tròn (Sagittaria guyanensis subsp. lappula); các loài trôi nổi có Bèo hoa dâu (Azolla pinnata), Bèo tai chuột (Salvinia cucullata), Bèo ong (S. natans),……

4.1.3 Thảm thực vật tự nhiên ở vành đai á nhiệt đới

4.1.3.1 Rừng kín lạnh ẩm cây lá rộng á nhiệt đới


Phân bố ở khu vực đỉnh núi từ độ cao >700m.

Rừng kín lạnh ẩm cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới: Tại khu vực đỉnh, trên nền đất mỏng, rừng có chiều cao khoảng 10-15m, với các cây gỗ có đường kính 20-40cm, tạo độ che phủ >70%. Tầng cây gỗ có các loài Đỗ quyên Sim (Rhododendron simsii), Hoa quyên (Enkianus quinqueflorus), Dẻ cau (Quercus platycalyx), Dẻ trám (Quercus sp.), Sồi lá tre (Q. bambusaefolia), Bách xanh (Calocedrus macrolepis).


Rừng kín lạnh ẩm mưa nhiều cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới


Trên sườn phía đông núi Ba Vì. Những cây vượt tán có chiều cao khoảng 35m, gồm các loài Canarium album Syzygium balsamineum.

Tầng tán: theo kết quả phân tích từ ô tiêu chuẩn, tầng tán gồm các cây gỗ có chiều cao từ 15 đến 32m, gồm các loài: Mỡ Ba vì, Dẻ đen, Thích láng, Trơn chà nhật, Dẻ,….

Tầng dưới tán gồm các cây gỗ cao từ 5 đến dưới 15 m các loài như: Mần trây Ba vì, Thích láng, Mắc liễng, Bời lời ba vì,…….

Tầng cây bụi, cây tái sinh và thảm tươi: thường gặp các loài các loài Đa (Ficus spp.), các loài Chân chim (Scheffelera spp.), Bời lời (Litsea spp.), Thu hải đường (Mussaenda sp., Begonia), Móng tay (Impatien), Dương xỉ (Pteris). Lygodium flexuosum

Các loài phụ sinh chủ yếu thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), các loài Dương xỉ với số lượng cá thể nhiều hơn vùng thấp. Dây leo mới thấy loài Dây gắm (Gnetum).

Rừng kín lạnh ẩm mưa cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới


Phân bố ở sườn phía Tây núi Ba Vì. Tầng vượt tán có các đại diện gồm các cây gỗ chiều cao từ 32 đến 35m như: Vernicia montana, Acer laviegatum, Aglaia perviridis, Lithocarpus sp., Madhuca pasqueri.

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây gỗ có chiều cao từ 17 đến 32 m, thuộc các loài: Song chôm, Sồi, Lộc mại, Thích láng,….

Tầng dưới tán: gồm các cây gỗ cao từ 4 đến dưới 17 m gồm các loài: Lộc mại, Máu chó, Dẻ., chè,….

Tầng cây bụi, cây tái sinh và thảm tươi:

Thực vật ngoại tầng: gồm các loài dây leo và bì sinh trên cây gỗ như: Tổ điểu, Phong lan, các loài dây leo thuộc họ Na, họ Trúc đào, ho Nho, họ Bầu bí, họ Dương đào,….

4.1.3.2 Rừng thứ sinh mát ẩm mưa (mưa nhiều) cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới.


Tầng vượt tán: chỉ xuất hiện ở các khu vực có khe ẩm, cây gỗ vượt tán rất hiếm, đều là cây sót lại của trạng rừng nguyên sinh trước đây như Dẻ (Castanopsis sp.), Sấu (Dracontomelon duppreanum), Sồi (Quercus sp.),…

Tầng ưu thế sinh thái: cây gỗ thưa thớt, chiều cao khoảng 14 đến 25m nhưng không liên tục. Các loài đại diện có Thôi chanh, Trâm, Bục bạc, Lộc mại ấn, Sấu, Giổi lông,…

Ở một số nơi, do tác động nặng nề của khai thác gỗ hoặc rừng được tái sinh sau nương rẫy, chưa có tầng tán rõ ràng, thành phần loài khá đơn giản. Tầng cây gỗ có tán nhấp nhô không liên tục, cây chỉ cao khoảng 10m bao gồm nhiều loài cây sống lâu ưa khí hậu mát, điển hình là các loài: Vối thuốc, Re hương, Lim xẹt, Thẩu tấu lá dày, Trứng gà ba gân,......

Tầng cây bụi thường thưa thớt, sức sinh trưởng của tầng cây bụi không tốt không đồng đều. Thành phần loài gồm: Lấu, Trọng đũa tuyến, Trọng đũa lá khôi, ỏng ảnh, Mua núi cao. ở những nơi sáng thành phần có nhiều Bồ cu vẽ, Găng.

Tầng thảm tươi gồm: các loại Cỏ lá tre cao, Cỏ lông, Cỏ Chè vè, các loài Quyết thực vật, Loài mua đất, Thach tùng, Rêu.

Thực vật ngoại tầng ít gồm các loài: Phong lan, Dây leo nhỏ thuộc họ Na, họ Trúc đào. Trong dây leo đáng chú ý có loài Ngũ da bì, Dây Gắm nhỏ... là những loài quí hiếm cũng có mặt.


4.1.3.3 Trảng cây bụi mát ẩm thứ sinh á nhiệt đới


Các loài cây bụi điển hình ở đây có: Clerodedrum sinensis, Breynia fruticosa, Glochidion velutinum, Urena lobata, Rubus alceaefolius, Sida rhombifolia,

Các loài cỏ mọc xen có: Chít, Chè vè, Lau, Cỏ Lào; Cỏ lá tre,….


4.1.4 Thảm thực vật nhân tác

4.1.4.1 Rừng trồng


Rừng trồng phân bố tập trung chủ yếu ở vùng thấp <400m, bao gồm:

Thông Mã vĩ phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưói tán rừng phát triển kém, nhiều cành khô lá thông rụng nên dễ bị lửa rừng.

Các loài Bạch đàn phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưới tán rừng phát triển mạnh, nhiều cỏ khô lá rụng nên dễ bị lửa rừng.

Rừng Bạch đàn hom U-Rô trồng thử nghiệm Bạch đàn phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưói tán rừng phát triển kém.

Rừng Keo lá tràm và Keo tai tượng trồng rải rác ở trong toàn khu vực nghiên cứu. Diện tích rừng do dân trồng nhỏ và không tập trung. Keo đang phát triển tốt, Một phần diện tích rừng keo gần đến tuổi khai thác,.

Rừng Sa mu (Cunninggghamnia lanceolata), phân bố ở độ cao 400-600m, cao 15-18m, đường kính 20-30m. Cây thích hợp với khí hậu có mùa đông dài lạnh. Tương đối phù hợp ở Ba Vì từ độ cao 400 m trở lên.

Rừng Bồ đề trắng và Mỡ trồng rải rác ở một số điểm.

Rừng Luồng Thanh Hoá trồng rải rác ở trong khu vực nghiên cứu. Diện tích rừng do dân trồng nhỏ và không tập trung. Rừng Luồng phát triển ở mức độ trung bình. Đất dưói rừng Luồng còn khá tốt nhưng khô, cây bụi thảm tươi, cây tái sinh ít.

4.1.4.2 Các quần xã cây trồng công / nông nghiệp


Bao gồm Lúa nước trồng tập trung trên đồng bằng phù sa, thường trồng 2 vụ/năm.

Tập đoàn cây màu gồm Ngô, Khoai lang, Sắn, Dong riềng, các loại Đậu, Lạc, Vừng, Mía, các loại rau trồng trên các địa thế cao của đồng bằng theo kiểu xen canh hay trồng thường xuyên trên các đồi thấp thoải, sườn núi.

Cây trồng dài ngày được trồng ở các vườn rừng bao gồm chủ yếu là các loại cây ăn quả như Na, Nhãn, Vải, Cam…

4.1.4.3 Các cây trồng trong khu dân cư


Trong khu dân cư nông thôn có các cây bóng mát, vật liệu xây dựng (Xoan, Tre), cây ăn quả (Mít, Chuối, Ổi, Na, Bưởi, Cam, Dừa …) và các loài cây rau, màu. Trong khu dân cư đô thị phổ biến tập đoàn cây bóng mát như Xà cừ, Sấu, Dái ngựa, Hoa sữa và các cây cảnh trong các công sở.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương