2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN



tải về 463.39 Kb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích463.39 Kb.
1   2   3   4   5   6   7

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐA DẠNG THẢM THỰC VẬT VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ.


Thảm thực vật VQG Ba Vì được mô tả gồm 14 đơn vị thảm cụ thể như sau:

4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên ở vành đai nhiệt đới trên đất địa đới

4.1.1.1 Rừng kín nóng ẩm - mưa vừa cây lá rộng thường xanh nhiệt đới


Rừng gồm các tầng: Tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi, tầng thảm tươi; ngoài ra còn có quần phiến dây leo, phụ sinh, ký sinh có phân bố trong rừng. Tầng cây gỗ rất phong phú về loài, thường gặp các loài như họ Đậu (Fabaceae), họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Trám (Burseraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Máu chó (Myrticaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Du (Ulmaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae)... Tầng cây bụi có rất nhiều loài thuộc một số họ chủ yếu như: Họ Cam quýt (Rutaceae), Họ Cà phê, Họ Trúc đào (Apocynaceae), Họ Mua (Melastomaceae), Họ Hoa tán (Araliaceae), Họ Thầu dầu, Họ Cau dừa (Arecaceae), Họ phụ Tre trúc (Bambusoideae)... Tầng thảm tươi có các loài phổ biến ở họ Họ Cỏ (Poaceae), Họ Cói (Cyperaceae), Họ ôrô (Acanthaceae), Họ Gai (Urticaceae), Họ Ráy (Araceae), Họ Gừng (Zinginberaceae), Họ Hành tỏi (Liliaceae)...và các loài dương xỉ trong ngành Dương xỉ. Tầng phụ sinh, ký sinh có nhiều loài của họ Phong lan (Ochidaceae), Họ Đàn hương (Santalaceae), Họ Tầm gửi (Loranthaceae ),và nhiều loài quyết thực vật sống phụ sinh. Tầng dây leo có nhiều loài dây leo thân gỗ có giá trị như các loài dây leo thuộc họ Na, Họ Đậu, Họ Sổ (Dilleniaceae), Họ Huyết đằng, Họ Tiết dê (Menispermacaeae), Họ Cậm cang (Smilacaceae ), Họ Củ nâu (Dioscoreaceae), Họ Nho (Vitaceae), Họ Vang (Caesalpiniaceae), Họ Trinh nữ (Mimosaceae)...

4.1.1.2 Rừng thứ sinh mát ẩm - mưa vừa cây lá rộng thường xanh nhiệt đới

Trạng thái rừng thứ sinh ít bị tác động


Ở những nơi có độ dốc cao, rừng còn tốt, ở đó vẫn còn những cây vượt tán, cấu trúc ít nhiều bị phá hủy nhưng vẫn còn những loài cây gỗ lớn sót lại từ trạng rừng kín trước đây. Cấu trúc rừng như sau:

Tầng vượt tán: gồm các cây có chiều cao trên 25m. Ở sườn phía tây có một số cây cao tới 38m. Nhiều cây có đường kính gốc đến trên 1m, đó đều là những cây còn xót lại của trạng thái rừng nguyên sinh trước đây. Những loài cây có mặt ở đây là: Elaeocarpus sp., Pometia pinnata., Allospondias lakhoensis., Cryptocarya sp., Engelhardtia sp.,…..

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây gỗ cao đến 25m, với các loài đặc trưng là Ba soi, Lát ruối, Cứt ngựa, Ngũ gia bì,…. và một số loài khác như Gội, Cà lồ Ba Vì, Sấu, Sến, Giổi, Sồi đỏ,…..

Tầng dưới tán: gồm các cây gỗ cao dưới 15m. Các loài thường gặp có Dẻ gai ấn, Nai bìa nguyên, Thôi chanh, và một số loài khác như Bộp lá tù, Nhội, Giổi,….

Tầng cây bụi thưa, có mật độ 3000 cây/ha, gồm các loài Tọa liên, chân chim, các loài Re, Thị, Bứa, Sồi,. … và các loài Thăng mộc lá to, Tổ điểu nối dài , Thị.,….

Tầng cỏ thưa gồm các loài trong các họ Quyển bá, Móng ngựa, Guột, Ráng đa túc, Chân xỉ,…..

Dây leo gỗ khá nhiều thuộc các họ Gắm, Họ Đậu, Họ Nho, Họ Củ nâu,….. các loài phụ sinh nhiều, chủ yếu là các loài Dương xỉ và các loài trong họ Phong lan,..

Trạng thái rừng thứ sinh bị tác động vừa


Đa phần rừng thứ sinh ở độ cao dưới 700m hiện bị phá vỡ cấu trúc mạnh mẽ, không có tầng vượt tán, tầng tán cũng không liên tục và có nhiều loài mọc nhanh. Trạng thái rừng trung bình có cấu trúc rừng được khảo sát chỉ ra như sau:

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây cao 10-15m, độ khép tán 0,5 - 0,6. Do bị chặt phá nhiều trong quá khứ, đang trong quá trình phục hồi nên Tầng cây gỗ này có tán nhấp nhô không liên tục có thể chia ra 2 tầng phụ: tầng tán cao (A1), bao gồm nhiều loài cây sống lâu cho gỗ tốt thuộc các nhóm II; III; IV; V và một ít loài gỗ trong các nhóm VI; VII. điển hình là các loài: Hernandia brilletti, Magnolia, các loài Cinnamomum, các loài Machilus,…., chúng có chiều cao vượt tầng A2; tầng tán thấp (A2) là tầng chính của rừng có chiều cao trung bình tư 10 – 12 m độ khép tán ngang cao, ngoài cây của tầng A1 có mặt ở đây còn có nhiều loài cây khác có giá trị như: Re Hương, Thanh Thất, Re Gừng, Kháo Đá, Kháo Vàng, Dẻ Cau, Dẻ Gai, Sồi hồng, .... Đặc biệt ở tầng này ta còn thấy xuất hiện các loài quý như Trai lý, Vàng kiêng, Giổi Xanh, Giổi, với số lượng nhỏ. Các loài cây gỗ của tầng cây gỗ có mật độ trung bình từ 400-600cây/ha.

Tầng cây bụi và cây tái sinh: thường cao không quá 3m, có đường kính d<6cm; sức sinh trưởng của tầng cây bụi không đồng đều, ở những nơi có độ khép tán thấp cây bụi phát thiển khá, ở những nơi có độ khép tán cao có tầng cây bụi thưa thớt. Thành phần loài gồm: Lấu, Trọng đũa tuyến, Trọng đũa lá khôi, Bồ cu vẽ, Mua cây cao. ở những nơi sáng thành phần có nhiều Sim, Bồ cu vẽ, Quanh châu, Găng. Ngoài ra, trong tầng còn có các loài Tre, Nứa.

Tầng thảm tươi: nằm sát mặt đất gồm: các loại Cỏ, Ráy, Sa nhân, các loài Quyết thực vật, Thach tùng, Bòng bong. Ở nơi sáng tầng thảm tươi tập trung chủ yếu các loài: Ràng ràng, Bòng bong, các loài Cỏ và một số loài trong họ Gừng. Trong tầng thảm tươi đáng kể có các loài quý hiếm như: Rau rớn, Cẩu tích, Địa lan.

Thực vật ngoại tầng có: các loài phụ sinh gồm các loài: Phong lan, Dương xỉ; các loài dây leo thuộc họ Na, họ Trinh nữ, họ Vang, họ Đậu, họ Trúc đào, họ Cà phê, họ Thiên lý. Trong dây leo đáng chú ý có loài dây Đau xương, Dây Bình vôi, dây Hoàng đằng, dây Ngũ da bì,... là những loài quí hiếm cũng có mặt; cây ký sinh ít.

Trạng thái rừng thứ sinh bị tác động mạnh


Trạng thái rừng non, đa phần tái sinh sau hoạt động khai thác kiệt quệ, mang nhiều nét đặc trưng của rừng thứ sinh thường gặp ở vùng núi thấp của khu vực. Về cấu trúc thẳng đứng nhận thấy sự phân hóa chiều cao trong quần thụ không rõ rệt. Cấu trúc như sau:

Tầng ưu thế sinh thái: đã thống kê được trên 60 loài cây gỗ trong đó nhiều nhất là các loài thuộc họ Lauraceae - 6 loài, họ Moraceae - 7 loài, họ Fagaceae - 5 loài. ở đây gặp cả những loài ưa sáng tạm cư như Màng tang, Ba soi, Ba bét, và những loài cây định cư có tầm vóc to lớn, có đời sống dài như Giổi xanh. Tại đây cũng gặp nhiều loài cây gỗ quý như, Giổi (Michelia), Sến mật (Madhuca pasquieri), và một số loài Re, như Re Hương (Cinnamomum iners), Re lá nhỏ (Cinnamomum tetragonum), Re (Neocinamomum delavayi), và một số loài khác.

Tầng cây bụi và cây tái sinh: không phát triến, mọc thành từng đám hoặc rải rác dưới tán rừng. Các loài thường gặp là Bồ cu vẽ, Lấu (2 loài), Đơn nem (2loài), Dây trứng quốc (2 loài), Bọt ếch, Phèn đen, Thao kén, Quanh Châu ... Tổng số có khoảng 20-25 loài. Cây tái sinh đã có số lượng đáng kể. Các loài chính thường gặp là Các loài Re, các loài Dẻ, Sung rừng, Mít rừng, Bứa, Máu chó, Dẻ gai ấn độ…... Số lượng đạt 500-1000cây/Ha và có sức sinh trưởng tương đối khá nhưng tỷ lệ triển vọng không cao.

Thực vật ngoại tầng gồm: Dây leo tương đối nghèo nàn, rải rác có gặp Móng bò leo, Dây mật, Bạc thau (3 loài), Ngấy (2 loài)...; nhóm cây ký phụ sinh ít gặp, chỉ có một vài loài thuộc họ Loranthaceae và Moraceae, một số loài của ngành Dương xỉ.


Trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy


Rừng phục hồi sau nương rẫy trong khu nghiên cứu tập trung chủ yếu trên một số sườn núi mà nguồn gốc do nhân dân đốt nương làm rãy lâu năm bị thoái hoá bỏ lại. Nguồn giống cây rừng bị kiệt quệ nên tái sinh tự nhiên rất kém. Thực vật ở đây lác đác có các loài cây chồi như Dẻ gai, Kháo, Trâm, Thành ngạnh, Hoắc quang, Máu chó, cây bụi như: Sim, Sầm xì, Bồ cu vẽ, Lấu, Mua. Rừng sau khai thác kiệt có số cây tái sinh nhiều hơn. Các loài cây chính như Dẻ gai, Kháo, Thành ngạnh, Ngát, Hoắc quang, Máu chó, Sau Sau, Chẹo…

Tầng cây tái sinh lẫn trong tầng cây bụi gồm: Thẩu tấu, Sau sau, Chẹo, Mò gói thuốc, Bộp, Thôi ba, Ba soi, Lòng mang,...... Những loài cây cho gỗ tốt chủ yếu là tái sinh chồi từ rễ, gốc của các cây bị chặt như: Sồi ghè, Côm tầng, Thôi ba, Xoan nhừ, Mỡ, với số lượng ít.


4.1.1.3 Rừng Tre nứa thứ sinh nóng ẩm - mưa vừa nhiệt đới

Không phổ biến trong khu vực nghiên cứu. Phân bố thành các đám nhỏ vài trăm mét vuông, thường dọc các suối có đất phù sa. Rừng có nguồn gốc thứ sinh; hình thành trên các đất khai thác trắng rừng làm nương rẫy.


Tầng Tre Nứa ít, thường tạo thành đám riêng ở những nơi sáng, cao 5-8m, che phủ tương đối kín. Thành phần loài chủ yếu gồm Tre Ràng (Vầu nhỏ), Tre Sặt, Nứa tép.

4.1.1.4 Trảng cây bụi thứ sinh nóng (ấm) ẩm - mưa nhiệt đới


Trảng cây bụi có nguồn gốc thứ sinh; hình thành trên đất nương rẫy bỏ hoang .

Cây bụi cao 3-6m, có độ che phủ của cây bụi và gỗ đạt 35-60% tùy theo độ dày của tầng đất. Nếu tính cả độ che phủ của tầng cây gỗ ở phía trên, tầng cỏ phía dưới, độ che phủ đạt gần 100%. Tuy nhiên, trên đất có tầng dày, mật độ cây dày hơn và diện tích bóng cây gỗ, bụi phủ lên nhau nhiều hơn.

Tầng cây bụi cao 1,5-2m, tạo độ che phủ 10-35%, mật độ cây 5300 cây/ha (nơi đất mỏng, sỏi sạn) đến 6300-6700 cây/ha. Các loài thường gặp: Dasymaschalon rostatum, Desmos chinensis, Breynia fruticosa, Glochidion velutinum,.

Trảng có một số cây gỗ cao 3-6m, đường kính 6-8cm, tạo độ che phủ 10-25%, với mật độ 321-900 cây/ha. Các loài thường gặp có Lá nến không gai, Bọ nẹt, Cúc đại mộc, Bục trắng, Bùng bục,....…

Các loài cỏ khá nhiều gồm các loài cỏ cao 2-4m như Chít, Chè vè, Lau, Cỏ Lào; các loài cỏ thấp 30-60cm mọc dưới tán cây bụi, gỗ khá đa dạng gồm các loài Dương xỉ, các loài trong hai họ Poaceae (Hòa thảo), Cyperaceae (Cói) và các cây cỏ lá rộng thuộc các họ khác của ngành Hạt kín.

Dây leo khá phổ biến nhưng phổ biến hơn cả là các loài trong các họ Convolvulaceae (Bìm bìm), Schiazeaceae (Bòng bong), Smilacaceae (Khúc khắc) như: Bạc thau, Bìm ba răng, Bìm tổng bao, Thổ phục linh, Kim cang lá mác, … Cây ký sinh, phụ sinh ít gặp.

Cây tái sinh có thể kể đến Thẩu tấu, Côm, Lim xẹt, Trám chim, Trám trắng,…. Các loài cây gỗ này là cây ưa sáng, tái sinh chồi là chính, có sức sống tương đối tốt, chiều cao khoảng 2-3m, đường kính nhỏ với mật độ khoảng vài trăn cây/ ha. Ưu hợp thường gặpThẩu tấu + Hoắc quang + Ba soi + Bồ cu vẽ + Mua bà + Thao kén.

Trên đất mỏng đôi khi sỏi sạn do canh tác trước đây có chu kỳ quá dài có trảng cây bụi thấp 1-2m, che phủ thưa với các loài có hình thái thích ứng với tình trạng khô hạn của đất. các loài thường gặp: Sim, các loài Cáp, các loài Mua, Gai xanh…


4.1.1.5 Trảng cỏ thứ sinh nóng ẩm - mưa nhiệt đới


Có diện tích không lớn, tạo thành các mảng nhỏ khoảng vài chục đến vài trăm mét vuông, phân bố rải rác trong khu vực. Trảng cỏ có nguồn gốc thứ sinh, hình thành trên các đất làm nương bỏ hoang.

Thường gặp các quần xã cỏ cao 1-2m, che phủ kín với ưu thế Cỏ Lào (Eupatorium odoratum) trên đất còn dày; quần xã cỏ cao trung bình 0,5-1,5m, che phủ kín với ưu thế của Cỏ tranh (Imperata cylindrica) mọc lẫn Trinh nữ có gai (Mimosa diplotricha) trên đất còn tương đối dày; quần xã cỏ thấp 10-20cm, trên đất có tầng mặt chặt do người và gia súc giẫm đạp, che phủ kín với ưu thế của Cỏ may (Chrysopogon aciculatus), Cỏ gà (Cynodon dactylon), Cỏ Mần trầu (Eleusine indica) ngoài ra còn thường gặp các loài trong chi Cỏ kê (Panicum) và các cây cỏ 1 năm trong họ Đậu (Fabaceae) mọc lẫn; trảng cỏ cao >2m với ưu thế Lau (Saccharum arundinaceum).

Các loài cỏ khác có Chè vè, Chít, Cỏ lá tre, Cỏ gà …..

Các cây bụi thường gặp có Sim, Bồ cu vẽ, ngoài ra còn thấy có Mua (3 loài), Găng (3 loài), Bọt ếch, Ngót dại, Vú bò và một số loài khác.

Lớp cây tái sinh trong dạng này không đáng kể.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương