2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn



tải về 463.39 Kb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích463.39 Kb.
  1   2   3   4   5   6   7

MỞ ĐẦU

Nghiên cứu về tính đa dạng của hệ thực vật góp phần bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về đa dạng hệ thực vật của Việt Nam, tài nguyên thực vật của Việt Nam nói chung và tài nguyên thực vật Ba Vì của Hà Nội nói riêng. Các nghiên cứu đã được tiến hành từ lâu nhưng diễn biến theo thời gian, số liệu ngày càng được bổ sung nhưng chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể và thống nhất với các công trình trước đó nên số liệu về đa dạng hệ thực vật Ba Vì khác nhau theo các công bố khác nhau.

Trên quan điểm xây dựng một bộ số liệu cập nhật chính xác, thống nhất làm cơ sở cho việc đánh giá, rà soát tính đa dạng hệ thực vật của một VQG Ba Vì, cả về mặt đa dạng loài, đa dạng giá trị sử dụng, dạng sống và tình trạng bảo tồn của các loài thực vật nhằm phục vụ công tác quản lý bảo tồn hệ sinh thái rừng Ba Vì có hiệu quả hơn.

1. Mục tiêu của đề tài

Nhằm đánh giá được tính đa dạng thực vật, sự biến đổi của thực vật theo đai cao, xác định các nguyên nhân gây suy giảm từ đó đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Ba Vì Hà Nội.



2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp dữ liệu chi tiết về tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật ở VQG Ba Vì.

- Đề xuất giải pháp cho quản lý bảo tồn đa dạng thực vật VQG Ba Vì.

- Ý nghĩa về thực tiễn

- Tư liệu luận án góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển bền vững tài nguyên đa dạng thực vật tại Vườn quốc gia Ba Vì.



3. Những điểm mới của luận án

- Lần đầu tiên có sự đánh giá tổng hợp về hiện trạng tài nguyên đa dạng hệ thực vật và thảm thực vật tại VQG Ba Vì.

- Bổ sung được 1.047 loài vào danh lục hệ thực vật bậc cao có mạch tại VQG Ba Vì so với danh lục đã công bố 2005.

Chương 1. TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghiên cứu thực vật trên thế giới.

1.1.1.1 Nghiên cứu thảm thực vật


Ở Châu Âu có Braun - Blanquet (1928), Ở Phần Lan, Caiande A.K. Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Clement. Ở vùng nhiệt đới, Schimper (1918). UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2.000.000.

1.1.1.2 Nghiên cứu hệ thực vật

Thực vật chí Hồng Kông, 1861; thực vật chí Australia, 1866; Thực vật chí vùng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, 1874; Thực vật chí Ấn Độ, gồm 7 tập (1872-1897); Thực vật chí Miến Điện, 1877; Thực vật chí Malaisia, 1892-1925; Thực vật chí Hải Nam, 1972-1977; Thực vật chí Vân Nam, 1977; Đối với các nước Âu, Mỹ Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Kew (Anh quốc), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga)... Đối với các nước khu vực Đông Nam Á đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia...


1.1.2 Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu thảm thực vật


Các công trình như Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Nghi (1956), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958); Loschau (1960) đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh. Schmid M. (1974) đã mô tả các đơn vị thảm thực vật Việt Nam theo các sinh khí hậu khác nhau. Vũ Tự Lập (1976) đã sử dụng độ ưu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác định các quần hợp, ưu hợp, phức hợp. Thái Văn Trừng (1978, 1999) đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Vũ Đình Huề (1984) đã đưa ra phương pháp phân loại rừng để phục vụ các mục đích kinh doanh. Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa ra khung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam trên bản đồ 1:2.000.000.

Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) áp dụng phương pháp của UNESCO đã nghiên cứu và mô tả các kiểu thảm thực vật VQG Cúc Phương. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004), đã xây dựng hệ thống thảm thực vật VQG Pù Mát…

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây còn có một số công trình nghiên cứu cụ thể về thảm thực vật ở các địa phương như: các VQG và các khu BTTN.

1.1.2.2 Nghiên cứu hệ thực vật


Loureiro (1790), Pierre (1879 - 1907) và đến đầu thế kỷ XX Lecomte cùng các tác giả khác đã biên soạn bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương gồm 7 tập (1907 - 1952). Aubréville chủ biên, đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam do 29 tập nhỏ gồm 74 họ thực vật có mạch. Lê Khả Kế công bố bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập. Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam.

Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999 – 2000) có bộ Cây cỏ Việt Nam tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Averyanov (1994) có Orchidaceae. Nguyễn Nghĩa Thìn, (1999) có Euphorbiaceae. Nguyễn Tiến Bân, (2000) có Annonaceae. Vũ Xuân Phương, (2000) có Lamiaceae. Trần Thị Kim Liên, (2002) Myrsinaceae. Nguyễn Khắc Khôi, (2002)Cyperaceae.



Pócs T (1965) đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài. Phan Kế Lộc (1969) đã thống kê và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ. Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài. Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật. Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.775 loài. Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam. Võ Văn Chi, 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam. Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây cỏ có ích ở Việt Nam. Đỗ Tất Lợi, (2003) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.. Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thực vật bậc cao có mạch tại các VQG và các KBTTN Việt Nam.

1.1.2.3 Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật


Gagnepain (1926), (1944) được trình bày trong hai công trình là: Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương Giới thiệu về hệ thực vật Đông. Pócs T. (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam. Thái Văn Trừng (1978) Việt Nam có 3 % số chi và 27,5% số loài đặc hữu. Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây có một số công trình khi nghiên cứu đa dạng hệ thực vật của một khu vực cụ thể ở các VQG và các KBTTN Việt Nam.

1.1.2.4 Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật


Pócs T (1965) đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam. Thái Văn Trừng (1978) còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo…

1.1.2.5 Nghiên cứu giá trị sử dụng của hệ thực vật


Những giá trị sử dụng của thực vật được các tác giả mô tả trong các tài liệu như: Thực vật Nam Bộ (Loureiro, 1793), Thực vật rừng Nam Bộ (Pierre, 1880), Thực vật chí Đông Dương (Lecomte chủ biên, 1907 - 1952), Cây cỏ thường thấy (Lê Khả Kế và cộng sự, 6 tập, 1969-1976), Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000), Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra quy hoạch rừng, 1971-1988), Vietnam Forest Tree (Vũ Văn Dũng và cộng sự, 1996), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, tái bản 2003), 1900 cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý và cộng sự, 1995), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002), ….Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ở các khu hệ thực vật địa phương khác nhau đều căn cứ trên các tài liệu khác nhau để đánh giá giá trị tài nguyên thực vật.

1.1.3 Nghiên cứu thực vật ở Ba Vì


Viện Điều tra Qui hoạch rừng (1981 – 1987) đã xác định hệ thực vật Ba Vì có 812 loài thực vật bậc cao có mạch trong 427 chi và 99 họ. Nguyễn Đức Kháng và các cộng sự (1992-1993) đã điều tra, thu mẫu thực vật từ độ cao 800m trở lên đã điều tra phát hiện và giám định được tên cho 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch. Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đức Kháng (1993) đã tổng hợp và lập danh lục thực vật Ba Vì có 715 loài thuộc 151 họ. Hoàng Hoa Quế (1995) đã xác định hệ thực vật Ba vì từ 800 trở lên có 223 loài thuộc 126 chi, 50 họ của 2 ngành thực vật. Vũ Văn Chuyên (1971) đã lập danh mục ở khu vực VQG Ba Vì có 150 loài cây thuốc. Học viện Quân y (1990) đã thống kê cây thuốc từ độ cao 400m trở lên có 169 loài. Trường Đại học Dược Hà Nội (1992) đã thống kê cây thuốc Ba Vì có có 250 loài. Lê Trần Chấn và cộng sự (1993) đã công bố số lượng cây thuốc của hệ thực vật Ba Vì là 280 loài. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1998, 1999) đã xác định cây thuốc ở Ba Vì có 274 loài, thuộc 214 chi, 83 họ. Trần Văn Ơn (2003) đã điều tra cây dược liệu Ba Vì có 503 loài thuộc 321 chi, 118 họ của 5 ngành thực vật và 8 dạng sống khác nhau. Vũ Văn sơn (2006) đã điều tra cây thuốc Ba Vì có 668 loài thực vật thuộc 441 chi, 158 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Lê Anh Vinh (2011) đã thống kê thực vật núi Viên Nam VQG Ba Vì có 727 loài thực vật thuộc 462 chi trong 171 họ thực vật của 5 nghành thực vật chính.

1.1.3 Nghiên cứu về nguy cơ gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật

1.1.3.1 Trên thế giới


WWF (1990) đã xuất bản cuốn sách tầm quan trọng của ĐDSV. IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới. IUCN và UNEP đưa ra chiến lược bảo tồn ĐDSV toàn cầu. Ngân hàng Thế giới (WB), WWF (1991) xuất bản cuốn bảo tồn ĐDSV thế giới. IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn Cứu lấy trái. IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược ĐDSV và chương trình hành động. WCMC (1992 – 1995) công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về ĐDSV của các nhóm sinh vật khác nhau trên toàn thế giới nhằm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả.

1.1.3.2 Ở Việt Nam


Sau nhiều năm hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam ngày càng được mở rộng và phát triển. Hiện nay Việt Nam đã thành lập được hệ thống rừng đặc dụng bao gồm 144 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích trên 2,2 triệu ha, trong đó có 30 VQG, 69 Khu BTTN và 45 khu rừng bảo vệ cảnh quan.

Chương 2

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý, hành chính


Toạ độ địa lý: 20°55 - 21°07' Vĩ độ Bắc và 105°18' - 105°30' Kinh độ Đông.

Tổng diện tích tự nhiên: 10.814,6 ha.


2.1.2 Địa hình địa mạo


Dãy núi Ba Vì gồm 2 dải dông chính:Dải dông theo hướng đông tây, và dải dông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm hệ thống các đỉnh núi: Đỉnh vua 1296m, đỉnh Tản Viên 1227m, đỉnh Ngọc Hoa 1131m, và Đỉnh Viên Nam 1.031m.

2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng


Theo tài liệu nghiên cứu địa chất, địa mạo khu vực Ba Vì có 7 nhóm đá và 4 loại đất chính, ở phân khu phục hồi sinh thái có 7 loại đất.

2.1.4 Khí hậu


- Nhiệt độ trung bình năm là 23,32oC.

- Lượng mưa trung bình năm: 2033mm

- Độ ẩm không khí trung bình: 83%

- Khả năng bốc thoát hơi: từ 861,9 mm/năm đến 759,5mm/năm,

- Tổng lượng bức xạ mặt trời hàng năm từ 120 - 130 Kcalo/cm2

Các hiện tượng thời tiết đáng lưu ý:

- Gió tây khô và nóng. các tháng 5,6,7

- Sương muối


2.1.5 Thủy văn


Hệ thống suối trong khu vực chủ yếu theo hai hướng chính: Hướng Bắc, Đông Bắc là phụ lưu của sông Hồng và hướng Tây là phụ lưu của sông Đà

2.1.6 Tài nguyên rừng và đất rừng


Tổng diện tích rừng và đất rừng 10.814,6 ha. Trong đó:

- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 1.648,6ha

- Phân khu phục hồi sinh thái: 8.823,5ha

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động


Dân số trong khu vực có 20.569 hộ, 89.981 người. Dân tộc Mường chiếm 77,3%; dân tộc Kinh 20,4%; dân tộc Dao 2,15% và dân tộc thái 0,15%. Tổng số lao động là 51.558 người.

2.2.2 Sản xuất nông nghiệp


Diện tích đất nông nghiệp trong vùng chủ yếu là đất lâm nghiệp, chiếm 44,9%; diện tích đất nông nghiệp chiếm 22,04%. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp, 996 m2/người (bao gồm cả đất cấy lúa và đất trồng màu). Sản xuất lương thực: trung bình 4,55 tấn/ha/năm.

2.2.3 Sản xuất lâm nghiệp


Trong khu vực không có khai thác rừng tự nhiên, diện tích rừng trồng do Vườn quản lý, rừng trồng ở các xã theo chương trình 327, 661 và các dự án khác là rừng phòng hộ do vậy không khai thác.

2.2.4 Công nghiệp chế biến nông lâm sản, dịch vụ


Trên địa bàn có 8 cơ sở sản xuất công nghiệp, quy mô của các cơ sở nhỏ. Có 11 cơ sở du lịch đang hoạt động.

2.2.6 Cơ sở hạ tầng


Giáo dục: Toàn vùng đã có 1.309 giáo viên 14.731 học sinh.

Giao thông: các xã đều có đường liên xã đã được trải nhựa. Hệ thống lưới điện Quốc gia đã đến tất cả các xã.

Chương 3.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương