100 BÀi thơ hay nhất thế KỶ XX



tải về 0.84 Mb.
trang5/10
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích0.84 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

40.


KHI CON TU HÚ

(Tố Hữu)


Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt ngào

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp ray vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào trên không...


Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết uất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Huế, tháng 7. 1939
LÊN CẤM SƠN

(Thôi Hữu)

Tôi lên vùng Cấm Sơn

Đi tìm thăm bộ đội

Đây bốn bề núi, núi

Heo hút vắng tăm người

Đèo cao rồi lũng hẹp

Dăm túp lều chơi vơi

Bộ đội đóng ở đó

Cách xa hẳn cuộc đời

Ngày ngày ngóng đợi tin xuôi ngược

Chỉ thấy mây xanh bát ngát trời

Họ đã từng dự trận

Từ Tiên Yên, Đầm Hà

Về An Châu, Biển Động

Thấm thoắt hai năm qua


Cuộc đời gió bụi pha xương máu

Đói rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh

Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thấm lệ nhoà

Tặng những anh tôi từng rỏ máu

Đem thân xơ xác giữ sơn hà


Quây quần bên nến trám

Chúng tôi ngồi hàn huyên

Bao giờ vinh nhục

Bao nhiêu phút ưu phiền

Của đời người chiến sĩ

Đêm thâu kể triền miên:

"Có khi gạo hết tiền vơi

Ổi xanh hái xuống đành xơi no lòng

Có đêm gió bấc lạnh lùng

Áo quần rách nát lá dùng che thân

Khó khăn đau ốm muôn phần

Lấy đâu đủ thuốc mặc dần bệnh nguôi

Có phen chạy giặc tơi bời

Rừng sâu đói rét, không người hỏi han".


Đến nay họ về đây

Giữ vững miền núi Cấm

Thổ phỉ quét xong rồi

Đồn Tây xa chục dặm

Kiến thiết lại bản xóm

Bị giặc đốt tan tành

Trên nền tro đen kịt

Vàng hoe màu mái gianh

Họ đi tìm dân chúng

Lẩn trốn trong rừng xanh

Về làm ăn cày cấy

Tiếp tục đời yên lành


Tiếng hát lừng vang trong gió núi

Ngày vàng ngân giọng trẻ ê a

Ở đây bản vắng rừng u tối

Bộ đội mang gieo ánh chói loà

Ở đây đường ngập bùn phân cũ

Xẻng cuốc khua vang điệu dựng nhà

Ở đây những mặt buồn như đất

Bộ đội cười lên tươi như hoa.


Họ vẫn gầy, vẫn ốm

Mắt vẫn lõm, da vàng

Áo chăn chưa đủ ấm

Ăn uống vẫn tồi tàn

Nhưng vẫn vui vẫn nhộn

Pháo cười luôn nổ ran


Lòng tôi bừng thức tình trai mạnh

Muốn viết bài thơ nhộn tiếng cười

Tặng những anh tôi trong lửa đạn

Qua nghìn gian khổ vẫn vui tươi.


LỜI NÓI DỐI NHÂN ÁI

(Trang Thế Hy)

Gió nói với chiếc lá úa:

“Trong vòng luân hồi bất tận của kiếp lá

màu vàng của mi trong khoảnh khắc nầy

là nét đẹp vĩnh hằng của nhan sắc mùa thu tàn phai nhanh”

“Đừng buồn!

Cái đẹp nào cũng phù du

vì chỉ có cái phù du mới đẹp”

Lá biết gió nói dối nhưng lá vẫn vui vẻ bay vèo theo gió


“CHÀNG thấy NÀNG đẹp rồi chàng mới yêu,

Anh thì ngược lại,

anh yêu em trước rồi sau đó mới biết rằng em đẹp”

Lời nói dối ngược ngạo luật phản xạ của anh chồng

làm ửng hồng đôi má cô vợ trẻ]
Cô gái nói với ông già:

“Bố đẹp lão quá, hồi còn trai chắc bố có số đào hoa”

Ong già – héo queo như một cây kiểng còi –

uống lời nói dối cực kỳ khó tin của cô gái

như uống giọt nước thần có dược chất hồi xuân
Tiếc thay, những lời nói dối ta phải nghe hằng ngày

lại là những lời nói dối không nhân ái!

Bến Tre - 1990
GÁNH NƯỚC ĐÊM

(Á Nam Trần Tuấn Khải)

Em bước chân ra

Con đường xa tít

Con sông mù mịt

Bên vai kĩu kịt

Nặng gánh em trở ra về

Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya...

Vì chưng nước cạn nặng nề em dám kêu ai!

Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá giời

Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong!

Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng

Nước non gánh nặng

Cái đức ông chồng hay hỡi có hay?

Em trở vai này...
TỲ BÀ

(Bích Khê)

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi


Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê


Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Cây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi


Tôi qua tìm nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang


Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi


Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu


Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông


GỬI BÁC TRẦN NHUẬN MINH

(Trần Đăng Khoa)

Bỏ làng ra thành phố

Hai anh em thợ cày

Thân cũng như hoa cỏ

Hồn gửi vào gió mây


Người bảo bác theo Đỗ

Em phải học Lý thôi

Bác đã bay dưới đất

Em đành đi trên giời


Bác âm thầm chìm nổi

Cùng kiếp người lang thang

Em lông nhông bầu bạn

Với kiến đen chó vàng


Bao nhiêu là giun dế

Đã khiêng vác em lên

Tên tuổi em xủng xoảng

Những mõ ran trống rền


Bác làm bông lau ngàn

Thả hồn vào hoang vắng

Khi buồn thì hát ca

Lúc vui thì im lặng


Em quẩy bầu trăng gió

Bác gánh bao nỗi người

Sóng đôi mà đơn độc

Đi mang mang trong đời


Nhưng giờ em đã chán

Những vinh quang hão huyền

Chỉ muốn làm mây trắng

Bay cho chiều bình yên


Trả niềm vui cho cỏ

Trả nỗi buồn cho cây

Lại áo tơi nón lá

Ta về với luống cày


Đất trời thì chật hẹp

Làng quê thì mênh mông

Thung thăng em với bác

Ta cưỡi thơ ra đồng...


THU ĐIẾU

(Nguyễn Khuyến)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.


BẾN MI LĂNG

(Yến Lan)

Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách

Rượu hết rồi, ông lái chẳng buồn câu

Trăng thì đầy, dâng vàng trên mặt sách

Ông lái buồn để gió lén mơn râu.


Ông không muốn run người rao tiếng địch

Chờ mãi hồn vượt cả ý trăng sao

Vì đìu hiu, đìu hiu trời tĩnh mịch

Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao!


Trôi quanh thuyền những lá vàng lạnh

Tìm mặt trời nhưng chỉ giải trăng... trăng

Từng áo chiều bọc hồng đua làng tránh

Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng


Nhưng đêm kia có một chàng kỵ mã

Nhưng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly

Chàng gọi đò, gọi đònhư hối hả

Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.


Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách

Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách

Gọi đò, thôi, run rẩy cả nguồn tranh.


Bến My Lăng còn lạnh, Bến My Lăng

Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.


THÁP CHÀM

(Văn Lê)


Ngút ngàn ở giữa rừng xanh

Hiện lên ngọn tháp một mình cô đơn

Người xưa đã chọn mặt tường

Để lưu giữ lấy tâm hồn thiêng liêng


Nắng chiều ngọn tháp đổ nghiêng

Thời gian ăn rỗng cả viên gạch hồng

Vậy mà trong thớ đất nung

Vẫn còn in đậm chân dung con người


Còn đây vũ nữ lả lơi

Trăm năm vẫn múa không người lại xem

Thần tình yêu nép bên thềm

Mũi tên số phận chưa tìm đích bay


Còn đây một mẩu cánh tay

Một bàn chân gãy, một cây gươm cùn

Một con ngựa mất yên cương

Một cây cung cháy, lửa cồn xung quanh


Những gì thuộc của chiến tranh

Chẳng còn giữ được nguyên lành, lạ không!

Bao năm gió táp mưa rừng

Vẫn không xóa được chân dung con người


Để chiều nay trước mắt tôi

Một người múa với một người đứng xem

Vô tư như một ngọn đèn

Tháp Chàm lặng lẽ sáng lên giữa rừng.


ÔNG ĐỒ

(Vũ Đình Liên)

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua


Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc nợo khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay


Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thấm

Mực đọng trong nghiên sầu...


Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay.


Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương