100 BÀi thơ hay nhất thế KỶ XX



tải về 0.84 Mb.
trang1/10
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích0.84 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

100 BÀI THƠ HAY NHẤT THẾ KỶ XX


100 BÀI THƠ HAY NHẤT THẾ KỶ XX

(Sưu tầm)
NGUYÊN TIÊU

(Hồ Chí Minh)

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên

Yên ba thâm sứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

(1948)

Dịch nghĩa



Rằm tháng riêng

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Dịch: Xuân Thuỷ)


NGÀY HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN

(Phùng Khắc Bắc)

Những sợi nắng xuyên qua nhà mình

Thành những mũi tên

Thành những viên đạn

Bắn tiếp và anh không gì che chắn

Phải nhận tất cả

Vẫn anh


Hôm qua chưa nhận được một viên đạn

Hôm nay nhận được lỗ thủng

Anh về quê không mang súng

Vũ khí lúc này là hai bàn tay...

Mẹ giục ăn cơm no

Hoà bình trong canh cua, rau mồng tơi, cà

Mùi ổ rơm


NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA

(Nguyễn Bính)

Những cuộc chia lìa khởi từ đây

Cây đàn sum họp đứt tuôn dây

Những lời bèo bọt, thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày


Có lần tôi thấy hai cô bé

Sát má vào nhau khóc sụt sùi

Hai bóng chung lưng thành một bóng

Đường về nhà chị chắc xa xôi


Có lần tôi thấy một người yêu

Tiễn một người yêu một buổi chiều

ở một ga nào xa vắng lắm

Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu


Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau

Kẻ ở sân ga kẻ cuối tàu

Họ giục nhau về ba bốn bận

Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu


Có lần tôi thấy vợ chồng ai

Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài

Chị mở khăn trầu anh thắt lại

Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!


Có lần tôi thấy một bà già

Đưa tiễn con đi một chốn xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga


Có lần tôi thấy một người đi

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

Một mình làm cả cuộc phân ly


Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt

Buồn ở đâu hơn ở chốn này


Tôi đã từng chờ những chuyến xe

Đã từng đưa đón kẻ đi về

Sao nhà ga ấy sân ga ấy

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly


TẠM BIỆT HUẾ

(Thu Bồn)

Bỡi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ

Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu

Những lăng tẩm như hoàng hôn

Chống lại ngày ngày quên lãng

Mặt trời vàng và mắt em nâu
Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Em rất thực nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cổ đô


Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy

Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền

Nón rất Huế mà đời không phải thế

Mặt trời lên từphía nón em nghiêng


Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Một đời anh tìm mãi Huếnơi đâu

Con sông dùng dằng con sông chảy ngược

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu


Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt

Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya

Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hoá đá phía bên kia.

(Huế, 1980)
VÀO CHÙA

(Đồng Đức Bốn)

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.


SƯ ĐOÀN

(Phạm Ngọc Cảnh)

Sẽ có những sư đoàn thép

Bất kỳ nơi đâu

Không khuất phục tù đày chém giết

Nơi đâu


Người sống nợ nần người đã chết

Bất kỳ nơi đâu

Từ một cây "mút nhét"

Một sải xuồng bơi

Một nọc ong châm góp làm sự nghiệp

Gốc tre xanh thắng trận cả ba đời

Ba mươi triệu tấm lòng xông ra tuyến lửa

Vạch lối điều quân

Vai chảy xe thồ

Trồng cây xanh che chở

Mỗi bước quân đi

Đánh trận trường kỳ

Đêm trước nấp trong lùm bắn tỉa

Sớm sau dàn trận chính qui

Đến trận bão hiệp đồng cả nước

Mỗi sư đoàn mang gió lốc bay đi...

Đất giải phóng thênh thang

Sẽ cho ta dàn đội ngũ - sư đoàn

Phía trước gọi ta

Những Điện Biên vòng đai thép tung ra làm chiến dịch

Đòn gánh hậu phương vượt đèo đi phản kích

Hành quân

Hành quân

Trùng điệp những sư đoàn

Đi lên phía Bắc

Tràn về hướng Nam

Những vị tướng lại cầm quân đi đánh giặc

Trải bản đồ

Còn nguyên

Vạch chỉ đỏ thắt quanh hầm giặc Pháp

Bài học chiến tranh nhân dân

Lại tiếp


Trang Ấp Bắc - Plây me

Và chiến công lên ngực áo những binh nhì

Đất nước sẽ cho ta

Những chùm con số đẹp

Làm tên gọi khai sinh sư đoàn thép

Này đây


Doi cát Cửu Long xanh

Sư đoàn Châu Thổ

Giữa bãi sú, rừng tràm

Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ

Sư đoàn Tây Nguyên

Từ hầm chông bẫy đá cung tên

Này đây Cực Nam Phan Rang - Phan Thiết

Này đây Quảng Ngãi - Phú Yên

Trên nguồn xa Ô Lâu - Thạch Hãn

Sẽ tiến về

Sư đoàn Trị Thiên
Lại có một ngày

Mọi cửa ô xanh Sài Gòn hớn hở

Như Hà Nội đã từng

Ba mươi sáu đường hoa tung sóng đỏ

Phất rừng cờ thổi hồng ngọn gió

Đón con em

Đón những sư đoàn

Mang chiến thắng trở về

Rập bước

Ca vang!
CHIẾC XE XÁC QUA PHƯỜNG DẠ LẠC

(Văn Cao)

Ngả tư nghiêng ngiêng đốm lửa

Chập chờn ảo hoá tà ma...

Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa

Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục

Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục

Tình tang... Não nuột khóc tàn sương

Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường

Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể

Ta đi giữa đường dương thế

Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây...

Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy

Xác truỵ lạc rũ bên thềm lá phủ

Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ

Thanh xuân hờ thanh xuân

Bước gần ta chút nữa thêm gần


Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tuỷ

Ai huỷ đời trên tang trống nhỉ?

Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya!

Đảo điên... mê say... Thể phách chia lìa

Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo!

Tiền rơi! Tiền rơi! Chùm sao huyền diệu

Lấy lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!

Vàng mấy lá thừa đãi mây phủ chiếu


Ngả tư nghiêng nghiêng chia nẻo

Dặt dìucung bậc âm dương

Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch

Đầm đìa rả rích phương đông

Mang mang thở dài hồn đốt trích

Lưỡi thép trùng trùng khép cố đô

Cửa ô đau khổ

Bốn ngả âm u

(Nhà ta thuê néo gục tự mùa thu

Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)


Đêm đêm, dài canh tan tác

Bốn vực nhạc động, vẫy người

Giãy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời

Ta về gác chiếu chăn gào tự tử

Trên đường tối đêm khoả thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa diệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi xương chất lên xương

Một nửa kêu than, ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc


Ngả tư nghiêng nghiêng xe xác

Đi vào ngõ khói công yên

Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền

Hương nha phiến chập chờn mộng ảo

Bánh nghiến nhựa đường nghe sào sạc

Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe

Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề

Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực

Mưa, mưa hằng thao thức

Trong phố lội đìu hiu

Mưa, mưa tràn trên vực

Hang tối gục tiêu điều

Mang linh hồn cô liêu

Tiếng xe càng ám ảnh

Tiếng xa dần xa lánh

Khi gà đầu ô kêu.

1945
NÚI ĐÔI

(Vũ Cao)


Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa

Bữa thì anh tới bữa em sang.


Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh sao khéo thế

Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.


Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Ai ngờ từ đó mất tin nhau.


Anh vào bộ đội lên Đông Bắc

Chiến đấu quên mình năm lại năm

Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.


Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi

Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi

Mỗi tin súng nổ vùng đai địch

Sương trắng người đi lại nhớ người.


Đồng đội có nhau thường nhắc nhở

Trung du làng nước vẫn chờ trông

Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông.


Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi

Hành quân qua tắt đường sang huyện

Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh

Giặc giết em rồi, dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành chết thuỷ chung.


Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn Đôi mà anh mất em.


Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm, nhất làng trong

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.


Từ núi qua thôn đường nghẽn lối

Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.


Cha mẹ dìu nhau về tận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.


Anh nghe có tiếng người qua chợ

Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều

Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc

Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.


Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ

Oán thù còn đó anh còn đây

Ở đâu cô gái làng Xuân Dục

Đã chết vì dân giữa đất này?


Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng

Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.


Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.


BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

(Hoàng Cầm)

Em ơi! Buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ


Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay


Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm đồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn


Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu


Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

Mấy trăm năm thấp thoáng

mộng bình yên

Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai

Trong chùa Bút Tháp

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu

Những cụ già phơ phơ tóc trắng

Những em xột xoạt quần nâu

Bây giờ đi đâu? Về đâu?


Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng

Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen

Bãi Tràm chỉ người dăng tơ nghẽn lối

Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa mầu

Những người thợ nhuộm

Đồng Tỉnh, Huê Cầu

Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo

Xì xồ cướp bóc

Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp trên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?

Mẹ ta lòng đói dạ sầu

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống

Ta có đàn con thơ

Ngày tranh nhau một bát cháo ngô

Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn

Lấy mẹt quây tròn

Tưởng làm tổ ấm

Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm

Ú ớ cơn mê

Thon thót giật mình

Bóng giặc dày vò những nét môi xinh


Đã có đất này chép tội

Chúng ta không biết nguôi hờn


Đêm buông xuống dòng sông Đuống

Con là ai? Con ở đâu về?


Hé một cánh liếp

Con vào đây bốn phía tường che

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống

Bộ đội bên sông đã trở về

Con bắt đầu xuất kích

Trại giặc bắt đầu run trong sương

Dao loé giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

Ăn không ngon

Ngủ không yên

Đứng không vững

Chúng mày phát điên

Quay cuồng như xéo trên đống lửa

Mà cánh đồng ta còn chan chứa

Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân

Gió đưa tiếng hát về gần

Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa

Tiếng bà ru cháu buổi trưa

Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu

"À ơi... cha con chết trận từ lâu

Con càng khôn lớn càng sâu mối thù"

Tiếng em cắt cỏ hôm xưa

Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay

"Thân ta hoen ố vì mày

Hờn ta cùng với đất này dài lâu..."


Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau

Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu

Cánh đồng im phăng phắc

Để con đi giết giặc

Lấy máu nó rửa thù này

Lấy súng nó cầm chắc tay

Mỗi đêm một lần mở hội

Trong lòng con chim múa hoa cười

Vì nắng sắp lên rồi

Chân trời đã tỏ

Sông Đuống cuồn cuộn trôi

Để nó cuốn phăng ra bể

Bao nhiêu đồn giặc tơi bời

Bao nhiêu nước mắt

Bao nhiêu mồ hôi

Bao nhiêu bóng tối

Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trảy hội non sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

Việt Bắc, tháng 4, 1948




Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương