­­ SỞ giao dịch chứng khoán hà NỘi cấP ĐĂng ký niêm yết chứng khoán chỉ CÓ nghĩa là việC niêm yết chứng khoáN ĐÃ thực hiện theo đÚng các quy đỊnh của pháp luật liên quan mà không hàM Ý ĐẢm bảo giá trị chứng khoáN



tải về 1.08 Mb.
trang8/10
Chuyển đổi dữ liệu22.12.2018
Kích1.08 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

  1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Bảng 9: Kết quả hoạt động SXKD của Công ty năm 2008-2009 và 6 tháng năm 2010

Đvt: triệu đồng

STT

Chỉ tiêu

Năm 2008

Năm 2009

+/- so với năm 2008 (%)

6 tháng năm 2010

1

Tổng tài sản

1.158.059

1.378.776

19,06

1.455.437

2

Doanh thu thuần

576

11.206

1845,49

8.799

3

Doanh thu hoạt động tài chính

39.298

87.529

122.73

222.635

4

Lợi nhuận từ hoạt động SXKD

12.009

3.222

-73,17

188.534

5

Lợi nhuận khác

12

20.188

168.133

2

6

Lợi nhuận kế toán trước thuế

12.020

23.411

94,77

188.536

7

Lợi nhuận sau thuế của PVFC Land(*)

8.655

19.314

123,15

69.581

8

Lợi nhuận phải trả cho PVFC

-

-




71.821

9

Tỷ lệ cổ tức (%)

-

5

5

-

Nguồn: Báo cáo tài chính kiểm toán của PVFC land năm 2009 và 6T/2010

(*):Lợi nhuận sau thuế của Công ty thể hiện trên BCTC 6 tháng năm 2010 là 141.401.768.720 đồng, trong đó lợi nhuận sau thuế thuộc về CTCP Bất động sản Tài chính Dầu khí Việt Nam (PVFC Land) là 69.580.507.311 đồng, phần lợi nhuận phải trả cho Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) là 71.821.261.409 đồng do phân chia lợi nhuận 50/50 giữa 2 bên khi bán dự án Nam An Khánh.



  • Lợi nhuận hoạt động SXKD năm 2009 giảm so với năm 2008 do: Năm 2009, doanh thu hoạt động tài chính tăng 122% so với năm 2008 đồng thời chi phí tài chính năm 2009 rất lớn là 74,2 tỷ chiếm 85% doanh thu tài chính năm 2009, bằng 550% chi phí tài chính năm 2008. Do đó lợi nhuận từ hoạt động SXKD năm 2009 giảm 73% so với năm 2008

  • Bản chất thu nhập khác năm 2009: Bao gồm 18.504.545.455 đồng là giá trị thương quyền PVFC Land nhận được từ các đối tác cho dự án 160 Trần Quang Khải. Phần còn lại hơn 1 tỷ là phí thu được từ bán hồ sơ cho các Nhà thầu , phí thu làm thủ tục chuyển nhượng dự án 43 Mạc Đĩnh Chi và một số nguồn thu nhập khác,…

  • Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2010 của Công ty tăng đột biến là khoản thu từ việc chuyển nhượng Dự án Nam An Khánh. Cụ thể như sau:

    PVFC Land và Công ty CP đầu tư Sông Đà Việt Đức hai bên hợp tác đầu tư cùng góp vốn để được sử dụng chung lô đất, cùng đầu tư xây dựng Dự án Khu đô thị Nam An Khánh. Ngày 25/6/2010 Công ty đã ký Hợp đồng số 23/HĐCNVG – PVFC Land-IMICO chuyển nhượng phần vốn góp vào Công ty CP Sông Đà Việt Đức cho Công ty CP đầu tư xây lắp Dầu khí IMICO (IMICO) với giá trị thu được là 207.075.420.000 đồng.

    Liên quan đến nguồn vốn để đầu tư dự án Công đã nhận uỷ thác đầu tư của Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) (hợp đồng số 075/09/PVFC-PVFC Land ngày 21/9/2009). Theo đó, PVFC chuyển vốn cho PVFC Land để đầu tư vào dự án Nam An Khánh không chia sẻ rủi ro; PVFC được hưởng lợi tức cố định và 50% lợi nhuận của dự án mang lại (sau khi đã trừ toàn bộ chi phí, thuế phí liên quan).

    Theo biên bản thanh lý hợp đồng uỷ thác đầu tư số 075/09/PVFC-PVFC Land ngày 25/6/2010, việc phân chia lợi nhuận giữa PVFC Land và PVFC như sau:



  • Số tiền thu được khi bán cho IMICO là 207.075.420.000 đồng

  • Phí UTĐT PVFC Land phải trả cho PVFC là: 15.358.590.244 đồng

  • Chi phí thẩm định: 193.466.000 đồng

  • Thuế TNDN phát sinh từ thu nhập bán dự án: 47.880.840.939 đồng

Phân chia lợi nhuận sau thuế cho PVFC và PVFC Land: (207.075.420.000-15.358.590.244-193.466.000-47.880.840.939)/2= 71.821.261.409 đồng



    Một số nhân tố khó khăn, thuận lợi ảnh hưởng đến SXKD năm 2009 của Công ty:

    • Khó khăn: Năm 2009 là năm chịu nhiều ảnh hưởng để lại của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 với nhiều biến động khó lường của thị trường bất động sản. Thêm vào đó, một loạt các bộ luật mới, chính sách mới của Nhà nước liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản có hiệu lực trong năm 2009.

    • Thuận lợi: PVFCLand được thành lập trong quá trình hình thành và phát triển mô hình Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam(PVFC) – một định chế tài chính lớn thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nên PVFCLand rất thuận lợi trong việc tìm kiếm và triển khai các dự án bất động sản….

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được chi tiết tại Bảng 10 dưới đây.


Bảng 10: Một số chỉ số tài chính của Công ty năm 2008 - 2009

TT

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2008

Năm 2009

1

Chỉ tiêu về khả năng thanh toán













Hệ số thanh toán ngắn hạn

(lần)

1,72

1,11




Hệ số thanh toán nhanh

(lần)

1,70

1,09

2

Chỉ tiêu về cơ cấu vốn













Nợ/Tổng tài sản

(%)

0,56

0,62




Nợ /Vốn chủ sở hữu

(%)

1,26

1,60

3

Chỉ tiêu về năng lực hoạt động













Doanh thu /Tổng tài sản

(%)

7,16

3,44




Vòng quay hàng tồn kho

(lần)

-

1,21

4

Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi













Tỷ suất LN sau thuế/Doanh thu

(%)

21,71

19,56




Tỷ suất LN sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân

(%)

1,70

3,72




Tỷ suất LN sau thuế/Tổng tài sản bình quân

(%)

1,04

1,52




Tỷ suất LN thuần từ hoạt động KD/ Doanh thu

(%)

30,12

3,26

Ghi chú:Doanh thu = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ + Doanh thu hoạt động tài chính




  1. Vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành

    1. Vị thế của công ty trong ngành

Công ty là doanh nghiệp mới nhưng đã nhanh chóng vươn lên trở thành doanh nghiệp có uy tín trong ngành kinh doanh bất động sản nói chung và lĩnh vực đầu tư kinh doanh các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị nói riêng. Về tất cả các mặt như: Thương hiệu, Quy mô, Công nghệ, Thị trường, Chiến lược phát triển, Trình độ tay nghề và Kinh nghiệm của người lao động… Công ty khẳng định sánh ngang hàng với các đơn vị mạnh khác trong cùng ngành. Bên cạnh đó, Công ty có điều kiện áp dụng chuẩn ngay những quy trình quản trị công ty, quy trình quản lý chất lượng tiến bộ và những kỹ thuật hiện đại nhất. Vì vậy, các bộ phận trong Công ty hoạt động rất nhịp nhàng, ăn khớp với tốc độ cao, đáp ứng nhanh chóng công tác đầu tư, kinh doanh.

Công ty mang thương hiệu Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và được sự hậu thuẫn chắc chắn từ phía Tổng Công ty và Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam, đồng thời được sự hậu thuẫn của Công ty cổ phần Đầu tư Song Kim và Công ty cổ phần Địa ốc Phú Long là các cổ đông sáng lập của Công ty. Đây đều là các Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản có tiếng trong ngành xây dựng Việt Nam. Sự ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi của các cổ đông sáng lập tạo nên một lợi thế lớn trong hoạt động kinh doanh của Công ty.

Thế mạnh thực sự của Công ty chính là tổ chức bộ máy quản trị, điều hành gọn nhẹ, không phân quyền qua nhiều cấp trung gian dẫn đến quá trình ra quyết định và triển khai thực hiện rất linh hoạt, nhanh nhạy, tận dụng được thời cơ trong đầu tư và kinh doanh. Về mặt nhân lực, đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của Công ty là những người có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực quản trị dự án, hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản. Đồng thời cán bộ, công nhân viên gián tiếp của Công ty hầu hết được đào tạo và đã tốt nghiệp từ các trường Đại học, cao đẳng chuyên ngành kỹ thuật, kinh tế, có năng lực chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tiễn chính là sức mạnh giúp Công ty phát triển và khẳng định vị thế của mình trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh và thử thách.


    1. Triển vọng phát triển của ngành

Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và gia tăng thu nhập của người dân, nhu cầu sống trong một môi trường an toàn, hiện đại với các tiện ích cao cấp phát triển ngày càng nhanh. Tại các thành phố năng động, các trung tâm kinh tế xã hội đã thu hút một lượng lớn người lao động cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, nhu cầu về nhà ở được dự báo là rất lớn.

Theo Dự báo tăng trưởng dân số và Chiến lược đô thị hoá tới năm 2010 dân số cả nước là 93 triệu người. Dự kiến dân số đô thị sẽ tăng khoảng 1,14 triệu người/năm, đưa tổng dân số đô thị cả nước lên 30,4 triệu người chiếm 33% số dân cả nước. Đất xây dựng đô thị sẽ là 243.200 ha, chiếm 0,74% diện tích đất tự nhiên cả nước, bình quân 80m2/người. Tới năm 2020 dân số cả nước là 103 triệu người, trong đó dân số đô thị là 46 triệu người, chiếm tỷ lệ 45% số dân cả nước, bình quân tăng 1,56 triệu người/năm. Đất xây dựng đô thị sẽ là 460.000 ha, chiếm 1,40% diện tích đất tự nhiên cả nước, bình quân 100m2/người2.

Theo Chiến lược đô thị hóa của Nhà nước, nhu cầu xây dựng nhà ở đến năm 2010 phải đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân 10-12 m2/người và đến năm 2020 là 18-20m2/người theo các chương trình phát triển nhà nhằm cung cấp các loại nhà ở phù hợp với các đối tượng xã hội có nhu cầu và mức thu nhập khác nhau. Xây dựng các công trình phục vụ công cộng, bảo đảm dành từ 3-5m2 đất/người, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân ở từng đô thị, dành 5% quỹ đất đô thị cho xây dựng công trình phục vụ công cộng 3. Theo xu hướng trên, nhu cầu về nhà ở của Thủ đô Hà Nội trong những năm tới còn rất lớn, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và ổn định của Công ty.

Với sự gia tăng tốc độ đô thị hoá như dự báo, bên cạnh sự tăng trưởng căn hộ và nhà ở cao cấp, những năm tới được dự báo về sự bùng nổ thị trường nhà ở dành cho người có thu nhập trung bình.

Nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, các công ty nước ngoài xâm nhập vào thị trường Việt Nam cùng với số lượng lớn đội ngũ chuyên gia nước ngoài. Do vậy, nhu cầu ổn định chỗ ở cho đối tượng này được dự báo với xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian tới.



Lĩnh vực kinh doanh bất động sản, ngành xây dựng và đầu tư vào khu công nghiệp

Năm 2009, sản lượng xây dựng toàn ngành ước đạt khoảng trên 100 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2008. Thị trường bất động sản ấm lên, vật liệu xây dựng cơ bản ổn định với mức lãi suất hấp dẫn do được hỗ trợ từ các gói kích thích kinh tế của Chính phủ. Sự hồi phục của ngành xây dựng năm 2009 phần lớn dựa trên những yếu tố có tính ổn định nên sẽ tiếp tục tạo đà cho sự tăng trưởng trong 1-3 năm tới. Thị trường bất động sản được dự báo cũng sẽ sôi động trong năm 2010, đặc biệt trong mảng nhà ở và văn phòng cho thuê. Hà Nội tiếp tục triển khai 240 dự án, đồ án bị trì hoãn năm ngoái. Theo CBRE, nguồn cung văn phòng hạng A và B tăng khoảng 30% tại khu vực Hà Nội. Tại khu vực TP Hồ Chí Minh, số lượng căn hộ được đem chào bán trong thời gian từ quý II năm 2009 đến hết quý II năm 2010 ước bằng 1,5 lần so với 9 tháng của năm 2008. Ngoài những công trình đang thi công, một loạt các dự án BOT xây cầu, cảng và đường mới được Chính phủ thông qua trong năm 2009 dự kiến sẽ được bổ sung thực hiện trong năm 2010 4.

Trên thực tế, giá bất động sản nhà ở đã cao hơn 20-30% so với năm 2008. Theo thống kê, tốc độ tăng dư nợ cho vay bất động sản của hệ thống ngân hàng năm 2009 tăng khá đều đặn. Tỷ trọng dư nợ cho vay bất động sản của các ngân hàng TMCP Hà Nội và TP HCM chiếm khoảng 14 - 20 % trên tổng dư nợ. Đây là một tín hiệu rất rõ ràng cho sự hồi phục của lĩnh vực kinh doanh bất động sản trong năm 2009 5 và triển vọng phát triển trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước năm 2009 chưa thực hiện và Thủ tướng đã phê duyệt chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2020 với khoản đầu tư lên đến 175 nghìn tỷ đồng nhằm nâng cấp đô thị được triển khai từ loại IV trở lên trên toàn quốc, tập trung cải tạo nâng cấp các khu dân cư thu nhập thấp và các khu đô thị chưa đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, nhà ở và khu vực dự báo đến năm 2020 có mật độ xây dựng cao 6.



Cùng với sự chuyển dịch nền kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập nền kinh tế thế giới, chiến lược phát triển hệ thống các Khu công nghiệp Việt Nam được hoạch định trong sự phát triển tổng thể của nền kinh tế. Bên cạnh sự cải cách về hệ thống hành chính, việc cải thiện môi trường đầu tư, Chính phủ cùng các cơ quan chủ quản đã có những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ngành. Cụ thể tại quyết định số 1107/QĐ-Ttg ngày 21/08/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu của Chính phủ là hình thành hệ thống các Khu công nghiệp chủ đạo, có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các khu công nghiệp có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển kinh tế địa phương, đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp lên mức 39 – 40% vào năm 2010. Ngoài ra, tổng diện tích các khu công nghiệp phấn đấu đạt 45.000 – 50.000 ha vào năm 2010, 65.000 – 70.000 ha vào năm 2015 và 80.000 ha tới năm 2020. Chiến lược này được chi tiết và cụ thể hoá cho các cấp tỉnh, địa phương căn cứ theo nguồn lực, khả năng, cơ cấu kinh tế trong vùng và các điều kiện khác. Vì vậy, có thể khẳng định rằng khả năng phát triển của ngành xây dựng và đầu tư vào khu công nghiệp là rất triển vọng.Phát triển công nghiệp bưu chính, viễn thông, tin học.


    1. Đánh giá về sự phù hợp định hướng phát triển của Công ty với định hướng chung của ngành, chính sách của Nhà nước

    Theo các báo cáo của Phòng Tư vấn Phân tích đầu tư của SSI, nguyên nhân tăng giá bất động sản trong thời gian gần đây là do:

  • Các yếu tố kinh tế vĩ mô: lãi suất cơ bản duy trì ở mức thấp 7% đã giúp tháo gỡ khó khăn cho các chủ đầu tư, giảm áp lực phải bán ở giá thấp. Các gói kích cầu nhằm vào lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, nâng cấp cơ sở hạ tầng đã tạo nên giá trị mới cho đất tại các khu vực có dự án.

  • Thị trường chứng khoán tăng điểm mạnh mẽ kể từ đáy thiết lập trong tháng 2/2009 đến đỉnh cao nhất trong tháng 6 vừa qua, với VN-Index tăng 100%. Một số đối tượng nhà đầu tư đã thu lợi nhuận lớn trong thời gian này và chuyển sang đầu tư vào thị trường bất động sản.

  • Yếu tố mua đi bán lại ngắn hạn: nhiều chủ dự án hiện nay thực hiện bán một phần nhỏ dự án cho 1 số đối tượng thứ cấp, sau đó nhờ đối tượng thứ cấp này đẩy mạnh các chiêu thức để tăng giá chào bán cho người dân để có thể chào nốt phần còn lại cho những người có nhu cầu thực sự với giá cao hơn. Số lượng giao dịch không lớn khiến việc đẩy giá bất động sản rất dễ dàng.

  • Với những lo ngại sớm về lạm phát, có thể nhiều người đã và sẽ chọn bất động sản làm kênh cất giữ tài sản và kinh doanh. Họ có thể lựa chọn mua bất động sản với mục đích vừa là phương tiện cất trữ tài sản, vừa kinh doanh cho thuê

    Bên cạnh đó các dự án của Công ty đều nằm ở các vị trí đẹp tại các Thành phố lớn như Dự án Khu chung cư cao cấp và dịch vụ hỗ hợp Nam An Khánh (Hà Nội), Dự án Tổ hợp nhà ở kết hợp dịch vụ siêu thị và văn phòng làm việc Dolphin Plaza (Hà Nội), Dự án Trụ sở làm việc của PVFC (Hải Phòng) hay Dự án Khách sạn Lam Kinh (Thanh Hóa) và một số dự án khác. Với vị thế và triển vọng phát triển của thị trường bất động sản, chúng tôi nhận thấy rằng định hướng phát triển chung của Công ty là phù hợp. 



  1. Chính sách đối với người lao động

Số lượng người lao động tại thời điểm 21/06/2010 là 143 người, chi tiết như sau:

Bảng 11: Cơ cấu lao động của Công ty

Phân theo phân công lao động

Số người

Tỷ lệ

Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc

7

4,9%

Lao động quản lý

27

19%

Lao động trực tiếp

109

76,1%

Tổng

143

100%

Phân theo trình độ







Trình độ trên đại học

09

6,3%

Trình độ đại học

105

73,4%

Cao đẳng, trung cấp

10

7%

Lao động phổ thông và Công nhân kỹ thuật

19

13,3%

Tổng

143

100%

(Nguồn: Công ty cổ phần Bất động sản dầu khí Việt Nam)



    1. Môi trường làm việc:

    PVFC Land luôn đánh giá rất cao yếu tố con người là nhân tố hàng đầu trong sự thành công của công ty. Với ý thức tập thể vững mạnh được là do có những con người vận hành giỏi vì vậy nguồn nhân lực là yếu tố sống còn cho sự thành công của Công ty. Toàn bộ nhân viên công ty được đóng bảo hiểm và tham gia vào tổ chức công đoàn của công ty.

    Công ty có trụ sở lớn khang trang đặt tại Số 9 – CT5 – KĐT Mỹ Đình – Từ Liêm – Hà Nội. Không gian văn phòng thoáng đãng, rộng rãi tạo điều kiện thoải mái cho CBCNV làm việc. Đồng thời với việc xây dựng môi trường làm việc năng động cùng cơ chế lương thưởng phúc lợi và thăng tiến nghề nghiệp minh bạch, tạo dựng văn hóa PVFC Land được chú trọng đặc biệt. Đạo đức nghề nghiệp và sự sáng tạo cá nhân luôn được khuyến khích phát triển.





    1. Tuyển dụng

    Từ khi thành lập năm 2007, PVFC Land chỉ có 9 nhân viên. Đến nay, nhân sự của Công ty đã lên đến 143 người, tăng hơn 15 lần. Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 80%, đội ngũ nhân sự của công ty hàng năm liên tục được bổ sung chủ yếu từ các trường đại học trong và ngoài nước thuộc các chuyên ngành như: Kiến trúc, xây dựng, tài chính, kế toán, quản trị kinh doanh. Nguồn nhân lực của PVFC Land được đánh giá là được đào tạo căn bản, có tính chuyên nghiệp cao và nhiều kinh nghiệm.

    Chính sách đào tạo và phát triển nhân viên là công tác được ưu tiên hàng đầu của PVFC Land. Công tác đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ được thực hiện một cách liên tục và thông suốt, có hệ thống. Mục tiêu của công ty là xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên thành thạo về nghiệp vụ, chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh, chuyên nghiệp trong phong cách làm việc và nhiệt tình phục vụ khách hàng. Các nhân viên trong hệ thống PVFC Land được khuyến khích đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ phù hợp với chức năng công việc nhằm thực hiện tốt công việc hiện tại và chuẩn bị cho những công việc có tính trách nhiệm cao hơn.





    1. Chế độ lương thưởng

  • Chế độ khen thưởng

    Chế độ khen thưởng cho nhân viên của PVFC Land gắn liền với kết quả hoạt động kinh doanh và chất lượng dịch vụ của mỗi nhân viên thực hiện cho khách hàng. Công ty từng bước thực hiện cải cách lương thưởng, đồng thời tiếp tục đổi mới hệ thống lương và thưởng theo nguyên tắc đánh gía kết quả hoàn thành công việc.

    Mỗi năm nhân viên được hưởng tối thiểu 13 tháng lương; Ngoài ra nhân viên còn được hưởng thêm lương năng suất và hệ số hoàn thành công việc; Thưởng cho các đơn vị, cá nhân điển hình tiên tiến trong năm, thưởng sáng kiến; Thưởng trong các dịp lễ, tết và các ngày kỷ niệm thành lập ngành dầu khí, ngày thành lập công ty..



  • Chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội

    Tất cả nhân viên chính thức của PVFC Land đều được hưởng các trợ cấp và đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với Luật lao động. Thực hiện đầy đủ chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động. Người lao động được hưởng: Chế độ hưu trí; Chế độ ốm đau; Chế độ thai sản; Chế độ tử tuất; Chế độ TNLĐ & bệnh nghề nghiệp. Tham gia BHTN người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc.



    1. Sinh hoạt đoàn thể và các chính sách khác

    Tại PVFC Land, các tổ chức như công đoàn, đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật. PVFC Land thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt đoàn thể nhằm tạo không khí vui tươi, thân thiện cho nhân viên.

    Hàng năm, Công ty thực hiện chế độ nghỉ mát, các hoạt động vui chơi giải trí trong các dịp lễ, tết, hoạt động tập thể ngoài trời, may đồng phục cho nhân viên. Ngoài ra Công ty còn có chính sách đãi ngộ nhân viên được quyền mua căn hộ chung cư do công ty làm chủ đầu tư với giá ưu đãi, tổ chức khám bệnh định kỳ cho CBCNV.

    Công đoàn tổ chức sinh nhật hàng tháng cho CBCNV, thăm hỏi nhân viên ốm đau, nhà có hoàn cảnh khó khăn. Tạo điều kiện để tất cả nhân viên Công ty có được môi trường làm việc tốt nhất.

    Công ty đặc biệt chú trọng các hoạt động cứu trợ xã hội, từ thiện thông qua đó xây dựng tinh thần hỗ trợ, đùm bọc trong tập thể nhân viên công ty với nhau và với xã hội.





  1. Chính sách cổ tức

    Cổ tức được trích từ lợi nhuận của Công ty, cổ tức được chi trả cho cổ đông khi Công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; và ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, Công ty vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn phải trả. Cổ tức được chia cho các cổ đông theo phần vốn góp. Tỷ lệ cổ tức sẽ được Đại hội đồng cổ đông quyết định dựa trên cơ sở đề xuất của HĐQT, với căn cứ là kết quả hoạt động kinh doanh của năm hoạt động và phương án hoạt động kinh doanh của các năm tới.

    Theo nghị quyết của Đại hội cổ đông ngày 10/04/2010, Công ty quyết định chia cổ tức năm 2009 là 5%, tương đương với 25.000.000.000 đồng và đặt ra kế hoạch cổ tức cho năm 2010 ở mức 12,25%. Trong hai năm trước 2008 và 2009, công ty không chia cổ tức cho cổ đông.





  1. Tình hình tài chính

    1. Thông tin về ý kiến kiểm toán trong báo cáo tài chính 2008 và 2009

  • Báo cáo tài chính năm 2008:

      Trong năm 2008 Công ty phát sinh khoản uỷ thác quản lý vốn tại Công ty CP Đầu tư và Tư vấn Tài chính Dầu khí (PVFC Invest) với giá trị gốc là 280tỷ đồng, quyền lợi Công ty được hưởng là lợi tức cố định. Tại thời điểm kết thúc năm tài chính 31/12/2008, tổng số dư gốc uỷ thác và lợi tức cố định được ghi nhận trên báo cáo tài chính là 306,1 tỷ đồng (trong đó, gốc 280 tỷ đồng và lợi tức 26,1 tỷ đồng). Tháng 2 năm 2009 Công ty thực hiện kiểm toán báo cáo Tài chính năm 2008, kiểm toán viên có đưa ra ý kiến về việc trích lập dự phòng cho khoản đầu tư trên do phía kiểm toán đánh giá khả năng thu hồi khoản đầu tư này của Công ty là rất khó. Tuy nhiên, tại thời điểm này khoản gốc và lợi tức cố định trên chưa đến hạn thanh toán do đó Công ty không có đủ cơ sở, điều kiện để trích lập dự phòng giảm giá đối với khoản uỷ thác uỷ thác quản lý vốn này.

      Ngày 01 tháng 2 năm 2010 khoản gốc uỷ thác và lợi tức cố định (306,1tỷ đồng) đã được thu hồi toàn bộ, chấm dứt mọi quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến khoản uỷ thác quản lý vốn tại Công ty CP đầu tư và Tư vấn tài chính Dầu khí.



  • Báo cáo tài chính năm 2009:

    +) Không hợp nhất công ty con

      Báo cáo tài chính năm 2009 của Công ty có thể hiện khoản đầu tư vào công ty con nhưng Công ty

      không lập báo cáo tài chính hợp nhất, lý do của việc không hợp nhất là: PVFC Land có một khoản đầu tư vào CTCP Bất động sản tài chính Dầu khí Hà Quang (Land HaQuang) với số vốn góp 120 tỷ đồng tương đương 60% vốn điều lệ của Land HaQuang và được xác định là khoản đầu tư vào Công ty con.

      Tuy nhiên, ngày 01/2/2010 Land HaQuang đã sáp nhập cùng Công ty CP Du lịch Hà Quang và đổi tên thành Công ty CP Bất động sản Hà Quang với số vốn điều lệ 360 tỷ đồng. Tại thời điểm sáp nhập, PVFC Land đã rút bớt phần vốn đã góp xuống còn 60 tỷ đồng nhưng cam kết góp là 70 tỷ đồng tương đương 19.44% vốn điều lệ của Công ty CP Bất động sản Hà Quang.

      Như vậy, căn cứ theo Chuẩn mức kế toán Việt nam số 25 - Báo cáo tài chính hợp nhất về kế toán khoản đầu tư vào Công ty con “Một công ty con được loại trừ ra khỏi việc hợp nhất báo cáo tài chính khi quyền kiểm soát của Công ty mẹ chỉ là tạm thời vì công ty con này chỉ được mua và nắm giữ cho mục đích bán lại trong tương lai gần (dưới 12 tháng)”. Do đó, Công ty chúng tôi không lập báo cáo tài chính hợp nhất năm 2009 vì Công ty đã không còn quyền kiểm soát đối với Công ty Hà Quang kể từ ngày 02/02/2010.

      +)Về ghi nhận giá trị thương quyền

      Công ty ghi nhận tăng “Thu nhập khác” với số tiền 18.504.545.455 đồng, là giá trị thương quyền phát sinh từ hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Công ty với các đối tác khác liên quan tới Dự án “Xây dựng tòa nhà Văn phòng - Dịch vụ tại 160 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội”

      Cơ sở của lưu ý nêu trên xuất phát từ Điều 7.4.3.4 của Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Công ty với các đối tác có quy định “Trong trường hợp dự án phải dừng lại hoặc các bên không thể thực hiện được dự án, .. thì Công ty sẽ phải hoàn trả cho các bên đối tác toàn bộ số tiền đã thanh toán hoặc đã góp vốn cho Công ty (bao gồm giá trị thương quyền và vốn góp), …”.

      Tuy nhiên, ngày 25 tháng 6 năm 2010 các bên đã đồng ý ký kết Phụ lục số 01 của Hợp đồng hợp tác kinh doanh và sửa lại Điều 7.4.3.4 là “…. thì Bên A (Công ty) phải hoàn trả cho các bên số tiền bao gồm: Tiền vốn góp không bao gồm giá trị thương quyền mà các bên B, C, D đã góp cho Bên A, ..”. Theo đó, cho dù kết quả dự án thế nào thì khoản thu nhập phát sinh từ việc chuyển nhượng thương quyền nói trên cũng không phải hoàn trả cho bên đối tác, do đó, tính chắc chắn của khoản thu nhập không còn phụ thuộc vào sự phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền cũng như sự thành công của dự án.

      ,


    1. Đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn

Các chỉ tiêu cơ bản bao gồm các mục như các khoản đầu tư ngắn và dài hạn, tỷ lệ khấu hao của tài sản cố định, mức lương bình quân của cán bộ công nhân viên, các khoản nộp theo luật định, tỉ lệ trích lập các quỹ và tình hình công nợ hiện nay.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương