ĐỀ SỐ 14 I. PhầN ĐỌc hiểU (3,0 điểm)



tải về 68.5 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu11.12.2017
Kích68.5 Kb.
#4539

ĐỀ SỐ 14

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

I
Con cò bay lả bay la 

Theo câu quan họ bay ra chiến trường 

Nghe ai hát giữa núi non 

Mà hương đồng cứ rập rờn trong mây 

II
Nghìn năm trên dải đất này 


Cũ sao được cánh cò bay la đà 

Cũ sao được sắc mây xa 

Cũ sao được khúc dân ca quê mình! 

III 
Cò bay bằng cánh trắng tinh 


Lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi 

Mây trôi bằng gió của trời 

Là ta, ta hát những lời của ta!

(Khúc dân ca - Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973)



Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của cụm từ “lời của ta” trong câu thơ “Là ta, ta hát những lời của ta”?

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ:

Nghìn năm trên dải đất này 

Cũ sao được cánh cò bay la đà 

Cũ sao được sắc mây xa 

Cũ sao được khúc dân ca quê mình

Câu 4. Nhận xét về tình cảm của tác giả đối với “khúc dân ca quê mình” được thể hiện trong bài thơ. (Trình bày khoảng 7 – 10 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 4 đến câu 8:

Mượn cách so sánh của một nhà triết học nước Anh, ta có thể nói rằng người viết tiểu thuyết làm việc khác với con nhện, hoặc con kiến, mà giống với con ong. Con nhện chỉ lấy nước dãi của nó mà chăng các mạng nhện để bắt ruồi. Đó là kiểu người viết văn chỉ “rút mình” ra mà viết, và lấy tâm hồn mình, cảm xúc của mình làm cao hơn hết. Con kiến, trái lại, đi tha mồi, gặp mồi thế nào thì tha nguyên về tổ như thế. Đó là kiểu người viết văn chỉ biết “ghi chép” nguyên xi những điều mình nghe thấy, trông thấy trong thực tế. Còn con ong thì rất kiên nhẫn và vất vả đi kiếm từng hạt phấn nhụy hoa và đem về biến nhụy hoa ấy thành một chất mới, trong và ngọt: là mật ong. Đó là cách làm việc của các nhà văn lớn, họ lăn lộn, học hỏi, tìm kiếm rất nhiều để hiểu biết thực tế đời sống thật sâu sắc, và khi viết họ đem những điều họ đã suy xét, những tình cảm và những lí tưởng của họ, nhào nặn vào thực tế ấy.

(Nguyễn Đình Thi, Tiểu luận – bút kí, NXB VH 2001, tr.115)



Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Dùng hình ảnh con ong, con nhện, con kiến, tác giả chia người viết văn thành những kiểu nào?

Câu 3. Dựa vào văn bản, anh chị hãy cho biết nhà văn lớn cần có những phẩm chất gì?

Câu 4. Suy nghĩ của anh /chị về quá trình lao động và sáng tạo của nhà văn. (Trình bày khoảng 7 – 10 dòng)

II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (3.0 điểm)

Phải chăng: Những điều tốt đẹp nhất trên đời đều không mất tiền mua?

Anh/ Chị hãy bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề trên trong bài văn (khoảng 600 chữ).

Câu 2 (4.0 điểm)

Sức hấp dẫn của thể kí xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái tôi tác giả.

(Theo Bài tập ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2015, tr.104)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ đó, anh/chị hãy bình luận về sức hấp dẫn của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích sau:

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.

(Trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường,

Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.198)

----------Hết----------
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 14 – BỘ ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA 2016 – 2017


Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I




ĐỌC HIỂU







1

Thể thơ tự do

0.25

2

Cụm từ “lời của ta” ở đây chỉ khúc dân ca/ những câu hát dân ca

0.25

3

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ là phép điệp (điệp từ/ điệp cấu trúc)

- Hiệu quả:

+ Khẳng định những câu hát dân ca không bao giờ lạc hậu, xưa cũ.

+ Thể hiện niềm tin vào sức sống bền bỉ mãnh liệt của dân ca nói riêng và những giá trị văn hóa truyền thống nói chung.

+ Tạo cho lời thơ âm điệu tha thiết.

(HS chỉ ra đúng biện pháp tu từ, cho 0.25đ; phần nêu hiệu quả đáp ứng được 2/3 yêu cầu, cho 0.25đ)



0.5

4

HS cần thấy được sự yêu quý tự hào của tác giả đối với “khúc dân ca quê mình”. Đó cũng là biểu hiện của tình cảm gắn bó với nguồn cội, với quê hương, đất nước.

(HS đáp ứng được ½ yêu cầu, cho 0.25đ; đáp ứng được cả 2 yêu cầu cho 0.5đ. HS có thể trả lời các ý ngoài đáp án, nếu đáp ứng tốt yêu cầu câu hỏi, vẫn cho điểm tối đa)



0.5

5

Nghị luận/Phương thức nghị luận

0.25

6

Dùng hình ảnh con nhện, con kiến, con ong; tác giả chia người viết văn thành 3 kiểu:

- Người viết văn chỉ “rút mình” ra mà viết, lấy tâm hồn mình cảm xúc mình làm cao hơn hết.

- Người viết văn chỉ biết “ghi chép” nguyên xi những điều mình nghe thấy, trông thấy trong thực tiễn.

- Những nhà văn lớn biết đem tư tưởng, tình cảm của mình nhào nặn với những hiểu biết sâu sắc về thực tiễn.

(HS có thể trích dẫn nguyên văn hoặc diễn đạt lại bằng ngôn ngữ của mình, nếu đúng vẫn cho điểm)


0.25

7

- Phẩm chất của nhà văn lớn:

- Có vốn sống, vốn hiểu biết sâu rộng.

- Có tình cảm  và tư tưởng lớn.

- Có quá trình lao động nghệ thuật công phu để kết hợp hiểu biết thực tiễn khách quan với tình cảm tư tưởng chủ quan trong quá trình sáng tạo.

(HS đáp ứng được 2/3 yêu cầu, cho 0.25đ; đáp ứng được cả 3 yêu cầu, cho 0.5đ)


0.5

8

HS thể hiện suy nghĩ phù hợp/thuyết phục về quá trình lao động và sáng tạo của nhà văn (có thể xuất phát từ quá trình tạo mật của loài ong trong văn bản để thấy đó là quá trình lao động nặng nhọc, công phu đòi hỏi người viết phải có tài năng, tâm huyết…)

(HS bày tỏ suy nghĩ phù hợp đúng hướng, cho 0.25đ; trình bày sâu sắc thuyết phục, cho 0.5đ)




II




LÀM VĂN







1

Viết bài văn bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề: Phải chăng những điều tốt đẹp nhất trên đời đều không mất tiền mua?




a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

0.25







b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Những điều tốt đẹp nhất trên đời thường không mất tiền mua.

0.5

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận;  kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.




* Giải thích

- Điều tốt đẹp: điều làm nên giá trị, ý nghĩa sự sống của con người.

- Không mất tiền mua: không liên quan đến tiền bạc, vật chất.

-> Nội dung nghị luận: Những điều làm nên giá trị, ý nghĩa của đời sống con người thường không được làm nên từ tiền bạc, vật chất.

* Bàn luận

HS có quyền bày tỏ quan điểm cá nhân va triển khai bàn luận theo những cách khác nhau nhưng phải hợp lí thuyết phục, không trái với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật; có thể tập trung vào một số nội dung sau:

- Những điều tốt đẹp trong cuộc đời: phẩm giá, nhân cách, tình yêu, hạnh phúc…không mất tiền mua bởi đó là những giá trị cao quý, vĩnh cửu của đời sống mà con người phải tự mình tạo dựng, vun đắp trong cuộc đời.

- Những điều tốt đẹp nhất trên đời không thể mua được bằng tiền bởi nó chỉ dành cho những người xứng đáng; tiền bạc không phải là thước đo cho mọi giá trị.

-Tiền bạc không mua được những điều tốt đẹp nhất nhưng đồng tiền chân chính được sử dụng phù hợp, đúng mục đích có thể đem lại nhiều điều tốt đẹp cho bản thân và người khác; không nên dùng tiền bạc để định giá mọi giá trị nhưng cần biết trân quý và dùng tiền bạc mình có để tạo ra những giá trị mới cho đời sống bản thân và cộng đồng.

* Bài học: Rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp



0.25


1.25

0.25

d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

0.25

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

0.25




2

Giải thích ý kiến: Sức hấp dẫn của thể kí xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái tôi tác giả và bình luận về sức hấp dẫn của bút kí HPNT trong một đoạn trích của tác phẩm “Ai đã dặt tên cho dòng sông?”




a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/ đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.

0.25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: đặc trưng của thể kí và sức hấp dẫn của bút kí HPNT qua một đoạn trích.

0.5

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận;  kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.




* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhận định.

* Giải thích:

- Nhận định đã nêu bật đặc trưng cơ bản của thể kí: phản ánh hiện thực thông qua quan sát, nghiên cứu và trải nghiệm của người viết; sử dụng tưởng tượng,  để tái hiện sự thật một cách sinh động chứ không hư cấu, vì vậy nhân vật chính là cái tôi của nhà văn, sức hấp dẫn của tác phẩm kí được tạo nên từ cách tiếp cận và cách thể hiện riêng của tác giả.

* Bàn luận: Sức hấp dẫn của bút kí HPNT trong đoạn trích chính là sức hấp dẫn của cái tôi tác giả.

- Cái tôi uyên bác: vốn hiểu biết sâu sắc và sự nghiên cứu tìm hiểu công phu của người viết thể hiện trong những thông tin mới mẻ thú vị về đặc điểm địa lí của sông Hương ở khúc thượng nguồn (lưu tốc nhanh, mạnh; dòng chảy khi mãnh liệt, dữ dội khi dịu dàng, hiền hòa)

- Cái tôi tài hoa: sự tinh tế, lãng mạn và phóng khoáng của tác giả thể hiện trong những so sánh, liên tưởng bất ngờ, độc đáo (sông Hương được so sánh với bản trường ca của rừng già, cô gái Di – gan, người mẹ phù sa của một vùng văn hóa, xứ sở…)

- Cái tôi gắn bó sâu nặng với Huế, với đất nước quê hương: tình cảm tha thiết của HPNT thể hiện ở cái nhìn mê đắm với sông Hương, thể hiện trong lối văn hướng nội thấm đẫm cảm xúc, suy tưởng (sông Hương không được cảm nhận như một tạo vật thiên nhiên mà là một sinh thể mang vẻ đẹp quyến rũ vừa cá tính vừa nữ tính…).

(Nếu HS không định hướng được yêu cầu của đề, chỉ phân tích cảm nhận đoạn trích đơn thuần, không lí giải yếu tố làm nên sức hấp dẫn dựa trên đặc trưng của thể kí, cho không quá 0.5đ)

* Đánh giá:

- Sự tài hoa uyên bác và mê đắm của cái tôi tác giả đã tạo cho bút kí HPNT vẻ đẹp riêng: giàu chất trí tuệ và chất thơ. Đoạn trích đã thể hiện những nét đặc  sắc trong  phong cách kí của HPNT.



- Ý kiến là một định hướng giúp người đọc tiếp cận tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại.

0.25

0.5

1.5


0.25


d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

0.5

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0.25

ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm




Lưu ý chung

  1. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm..

  2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

  3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

  4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng hoặc phần thân bài ở hai câu làm văn chỉ viết một đoạn văn.

   5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.


tải về 68.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương