ĐỒ Án tốt nghiệP



tải về 0.9 Mb.
trang9/11
Chuyển đổi dữ liệu22.12.2018
Kích0.9 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

b. Hệ số tải đường xuống.

b1. Tính toán tải dựa vào công suất.

Tải của cell có thể được xác định bởi tổng công suất phát đường xuống, Ptotal. Hệ số tải đường xuống được xác định bằng tỷ số của tổng công suất phát hiện tại chia cho công suất phát lớn nhất của Nút B Pmax:

= (4.8)

Chú ý rằng phương pháp tính toán tải này, Ptotal không đưa ra thông tin chính xác về dung lượng giao diện vô tuyến đường xuống cực đại mà hệ thống có được. Một cell nhỏ với cùng một Ptotal thì có tải giao diện vô tuyến cao hơn ở cell lớn hơn.

b2. Tính toán tải dựa vào thông lượng.

Hệ số tải đường xuống, được xác định dựa vào nguyên lý tương tự như đối với đường lên :



(4.9)

Trong đó: -10log10(1-) bằng mức tăng tạp âm vượt qua tạp âm nhiệt do nhiễu đa truy nhập. Các thông số sử dụng cho việc tính toán hệ số tải đường xuống được chỉ ra trong bảng 4.9

Trên đường xuống, tỷ số nhiễu các cell khác và cell phục vụ, i, phụ thuộc vào vị trí người sử dụng vì thế mà khác nhau đối với mỗi người sử dụng j. Hệ số tải có thể xấp xỉ bằng giá trị trung bình của cell như sau:

(4.10)

Trong mô hình nhiễu đường xuống, ảnh hưởng của chuyển giao mềm có thể được mô hình hoá theo 2 cách:



  1. Tăng số kết nối bởi trong chuyển giao mềm UE liên kết đồng thời với cả 2 Nút B, và giảm Eb/N0 cần thiết trên một liên kết với độ lợi chuyển giao mềm.

  2. Giữ cho số kết nối cố định, nghĩa là bằng số người sử dụng, và sử dụng kết hợp yêu cầu Eb/N0.

Giả sử độ lợi chuyển giao mềm trên 1 liên kết là 3dB, tỷ số Eb/N0 kết hợp giống nhau trong cả hai trường hợp có và không có chuyển giao mềm. Ta không cần quan tâm ảnh hưởng của chuyển giao mềm trong quá trình định cỡ giao diện vô tuyến.

Bảng 4- Các thông số sử dụng trong việc tính toán hệ số tải liên kết đơn.




Định nghĩa

Giá trị khuyến nghị

N

Số người sử dụng trên một cell




vj

Hệ số hoạt động của người sử dụng j tại lớp vật lý

0.58 cho thoại, giả sử 50% hoạt động thoại và tổng phí DPCCH trong suốt DTX

1.0 đối với dữ liệu

Eb/N0

Năng lượng tín hiệu của một bit chia cho mật độ phổ tạp âm được yêu cầu để đáp ứng QoS cho trước(ví dụ như tỷ số lỗi bit). Tạp âm bao gồm cả tạp âm nhiệt và nhiễu.

Phụ thuộc vào dịch vụ, tốc độ bit, kênh phadinh đa đường, độ phân tập anten thu, tốc độ di động…

W

Tốc độ chip WCDMA

3.84 Mcps

Rj

Tốc độ bit của người sử dụng j

Phụ thuộc vào dịch vụ



Tính trực giao của kênh người sử dụng j

Phụ thuộc vào quá trình truyền sóng đa đường.

1: Kênh một đường hoàn toàn trực giao.

0: Không trực giao


ij

Tỷ số công suất các cell khác với công suất cell phục vụ, được thu bởi người sử dụng j

Mỗi người sử dụng có một ij khác phụ thuộc vào vị trí của nó trong cell và vật che khuất log-normal.



Hệ số trực giao trung bình trong cell

Kênh ITU Vehicular A: ~50%

Kênh ITU Pedestrian A: ~90%



i

Tỷ số công suất từ các cell khác và cell phục vụ được thu bởi người sử dụng. Nhiễu cell phục vụ ở đây là băng rộng

Cell macro với các anten đa hướng: 55%, Macro cell với 3 sector: 65%

Chú ý: cell phục vụ là cell phụ vụ tốt nhất. Nếu một người sử dụng đang thực hiện chuyển giao mềm, tất cả các trạm gốc khác trong tập hợp tích cực được tính là cell khác.

Đối với việc định cỡ đường xuống, rất quan trọng để tính toán tổng công suất phát trạm gốc yêu cầu. Việc tính toán này dựa vào công suất phát trung bình đối với người sử dụng, chứ không phải công suất phát cho biên giới cell được chỉ ra trong quỹ liên kết. Lý do là công nghệ băng rộng đem lại độ lợi chính trong việc định cỡ bộ khuếch đại công suất: Trong khi một số người sử dụng tại biên giới cell yêu cầu công suất cao, còn những người sử dụng khác gần trạm gốc cần trạm gốc phát công suất ít hơn tại cùng một thời điểm.

Công suất phát yêu cầu nhỏ nhất cho mỗi người sử dụng được xác định bởi suy hao trung bình giữa bộ phát trạm gốc và bộ thu di động, , và độ nhạy thu máy di động, với sự xuất hiện của nhiễu đa truy nhập (trong cell và giữa các cell). Ảnh hưởng của mức tăng tạp âm do nhiễu được cộng thêm vào công suất nhỏ nhất này và tổng của chúng là công suất phát yêu cầu đối với một người sử dụng tại vị trí có công suất bằng công suất trung bình trong cell. Về mặt toán học công suất phát trạm gốc tổng cộng có thể mô tả bằng phương trình sau:

BS_TxP= (4.11)

Trong đó Nrf là mật độ phổ tạp âm của bộ thu máy di động đầu cuối. Giá trị của Nrf có tính toán như sau :



Nrf =

= -174.0 dBm + N F (giả sử rằng T=290K) (4.12)

Trong đó k là hằng số Boltzman =1.381 J/K, T là nhiệt độ tuyệt đối Kelvin, và NF là dạng nhiễu bộ thu trạm gốc thường có giá trị từ 5-9dB.

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dung lượng và vùng phủ.

Trên cả đường lên và đường xuống, tải giao diện vô tuyến ảnh hưởng đến vùng phủ sóng, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Sự khác nhau giữa đường cong tải đường lên và đường xuống được mô tả như sau. Suy hao đường truyền lớn nhất (vùng phủ) là một hàm số của tải được chỉ ra trong hình vẽ 4-3 đối với cả đường lên và đường xuống. Giả sử một site 3sector, và thông lượng của một site trên một sóng mang. Đường lên được tính toán cho dữ liệu 144kbps, quỹ đường truyền và một số giả định được chỉ ra trong bảng 4-10.

Trên đường xuống, vùng phủ phụ thuộc nhiều vào tải hơn là trên đường lên, thể hiện trên hình 4-10. Lý do là trên đường xuống, công suất phát lớn nhất là 10W nhưng không quan tâm đến số người sử dụng và được chia sẻ giữa các người sử dụng, trong khi trên đường lên mỗi người sử dụng lại có một lại có một bộ khuếch đại công suất của chính nó. Vì thế, thậm chí với tải thấp trên đường xuống, vùng phủ vẫn như là một hàm số giảm của số người sử dụng.

Rõ ràng rằng với một sự giả sử như trên, vùng phủ bị giới hạn bởi đường lên đối với tải dưới 700kbps, trong khi dung lượng bị giới hạn bởi đường xuống. Dung lượng được trình bày ở trên phụ thuộc vào môi trường và được thể hiện thông qua ví dụ. Ta cần chú ý rằng, trong các mạng thế hệ ba lưu lượng giữa đường lên và đường xuống, và tải có thể khác nhau trên đường lên và đường xuống.



Bảng 4- Quỹ đường truyền và một số giả định được mô phỏng.

Công suất phát máy di động

21dBm

Độ nhạy máy thu trạm gốc

-116 dBm

Công suất phát trạm gốc

10W/40dBm

Độ dự trữ nhiễu

2.0 dB

Độ dự trữ phadinh nhanh

2.0 dB

Tăng ích anten trạm gốc

18.0 dBi

Suy hao cơ thể

0.0 dB

Tăng ích anten di động

2.0dBi

Eb/N0

5.5 dB

Tỷ số nhiễu giữa cell khác và cell phục vụ (i)

0.6

Suy hao cáp

4 dB

Dung lượng lớn nhất đường xuống

820 kbps/cell

Dung lượng lớn nhất đường lên

1730 kbps/cell

Suy hao đường truyền lớn nhất

153.0 dB

Trong hình 4-3 , giả sử công suất trạm gốc là 10W, nếu ta sử dụng công suất là 20W, thì vùng phủ và dung lượng đường xuống cũng thay đổi. Sự khác nhau về vùng phủ và dung lượng trong 2 trường hợp được chỉ ra trong hình 4-4



Hình 4- Một ví dụ về mối quan hệ giữa vùng phủ và dung lượng trên đường lên và đường xuống

Nếu ta tăng công suất đường xuống 3dB, có thể tăng suy hao đường truyền lớn nhất cao hơn 3.0dB mà không quan tâm đến tải. Sự cải thiện dung lượng sẽ nhỏ hơn cải thiện vùng phủ do đường cong tải. Nếu ta giữ suy hao truyền sóng đường xuống cố định tại 153dB, đó là suy hao truyền sóng đường lên lớn nhất với độ dự trữ nhiễu là 2dB, thì dung lượng đường xuống có thể tăng lên chỉ 10% (0.4dB) từ 680 kbps lên 750 kbps. Việc tăng công suất phát đường xuống để tang dung lượng đường xuống là không hiệu quả, bởi vì công suất có sẵn không ảnh hưởng đến dung lượng cực đại.





Hình 4- Ảnh hưởng của công suất phát trạm gốc tới dung lượng và vùng phủ trên đường xuống

Giả sử rằng ta có công suất phát đường xuống là 20W, việc chia công suất đường xuống giữa 2 tần số sẽ tăng dung lượng đường xuống từ 750kbps lên tới 2x680Kbps =1360kbps, tức là tăng 80%. Việc chia công suất đường xuống giữa 2 tần số sóng mang là một phương pháp có hiệu quả để tăng dung lượng đường xuống mà không cần đầu tư thêm các bộ khuếch đại công suất. Phương pháp chia công suất yêu cầu việc cấp phát tần số của các trạm điều khiển cho phép sử dụng 2 tấn số sóng mang trong trạm gốc.



4.2.2.2 Hiệu suất phổ.

Hiệu suất phổ của WCDMA có thể được định nghĩa bởi số các cuộc gọi đồng thời với một số tốc độ bit xác định, hoặc nhiều tốc độ bít thích hợp hơn trong các hệ thống thông tin thế hệ 3, bởi thông lượng lớp vật lý tổng cộng được hỗ trợ trong mỗi cell trên một tần số sóng mang 5MHz. Hiệu suất phổ được tính bằng kbps/cell/sóng mang. Hiệu suất phổ là hàm số của môi trường vô tuyến, sự di động của người sử dụng và vị trí, các dịch vụ và chất lượng của dịch vụ, và điều kiện truyền sóng. Sự biến thiên có thể khá lớn (50-100%). Vì thế hầu hết sự mô phỏng hệ thống đều nỗ lực đề xuất một số chỉ thị về hiệu suất phổ trung bình của WCDMA chỉ phản ánh kết quả cho một số điều kiện của cell xác định trước và tuỳ theo người sử dụng.

Để định cỡ cho lưu lượng cố định, dung lượng có thể được tính toán một cách chính xác theo phương trình hệ số tải đã trình bày. Quy luật chuyển đổi chung giữa việc sử dụng một kênh thoại và một kênh dữ liệu có thể dựa trên các hệ số tải riêng rẽ cho mỗi dịch vụ.

4.2.2.3 Dung lượng mềm.

a. Dung lượng Erlang.

Trong phần định cỡ, số kênh trên một cell đã được tính toán. Dựa vào đó, ta có thể tính mật độ lưu lượng lớn nhất có thể được hỗ trợ bởi một xác suất nghẽn cho trước. Mật độ lưu lượng có thể được tính trong bảng Erlang, và được xác định như sau:



(4.12)

Nếu dung lượng bị nghẽn cứng, tức là bị giới hạn bởi tổng số phần cứng, dung lượng Erlang có thể thu được từ mô hình Erlang B.Nếu dung lượng lớn nhất bị giới hạn bởi tổng số nhiễu trên giao diện vô tuyến, thì nó được định nghĩa là dung lượng mềm, bởi vì khi không có giá trị cố định riêng nào cho dung lượng lớn nhất. Đối với một hệ thống bị giới hạn dung lượng mềm, dung lượng Erlang không thể được tính toán từ bảng Erlang B, bởi vì nó sẽ đem lại kết quả không đúng. Tổng số kênh có sẽ chỉ lớn hơn số kênh trung bình trên một cell, bởi vì các cell lân cận chịu một phần nhiễu,và vì thế mà một lưu lượng lớn hơn có thể sử dụng với cùng xác suất nghẽn. Dung lượng mềm có thể được giải thích như sau. Nhiễu gây ra từ các cell lân cận càng ít, thì số kênh trong cell trung tâm càng nhiều, được chỉ ra trong hình 4-5. Với một số ít các kênh trên một cell, tức là đối với người sử dụng dữ liệu tốc độ bit cao, tải trung bình phải khá thấp để đảm bảo xác suất nghẽn thấp. Khi tải trung bình thấp, thường tồn tại một dung lượng phụ trong các cell lân cận. Dung lượng này có thể được cho mượn từ các cell liền kề, vì thế mà việc chia sẻ nhiễu sẽ đem lại dung lượng mềm. Dung lượng mềm quan trọng đối với người sử dụng dữ liệu thời gian thực tốc độ bit cao, ví dụ như đối với các kết nối hình ảnh. Dung lượng mềm cũng có trong GSM nếu dung lượng giao diện vô tuyến được giới hạn bởi tổng số nhiễu thay vì số khe thời gian; giả sử rằng hệ số sử dụng lại tần số của GSM thấp với tải rất nhỏ.





Hình 4- Chia sẻ nhiễu giữa các cell trong WCDMA.

Trong tính toán dung lượng mềm dưới đây giả sử rằng có số thuê bao giống nhau trong tất cả các cell nhưng các kết nối bắt đầu và kết thúc một cách độc lập. Thêm vào đó, khoảng thời gian các cuộc gọi đến tuân theo phân bố Poisson.

Phương pháp này có thể sử dụng trong trong định cỡ khi tính toán dung lượng Erlang. Sẽ có dung lượng mềm bổ sung thêm nếu trong WCDMA nếu số người sử dụng trong các cell lân cận nhỏ hơn.

Sự khác nhau giữa nghẽn cứng và nghẽn mềm được chỉ ra trong một số ví dụ trên liên kết đường lên dưới đây. Dung lượng mềm WCDMA được định nghĩa trong phần này như là phần tăng của dung lượng Erlang khi nghẽn mềm so với mức tăng dung lượng Erlang khi nghẽn cứng trong trường hợp cùng số kênh lớn nhất tính trung bình trên một cell.



Dung lượng mềm đường lên có thể dựa vào tổng nhiễu tại trạm gốc. Lượng nhiễu tổng cộng này bao gồm nhiễu của cell phục vụ và nhiễu từ các cell khác. Vì thế, số kênh tổng cộng có thể thu được bằng cách nhân số kênh trên một cell trong trường hợp tải bằng nhau với 1+i, hệ số này đem lại một dung lượng cell độc lập, khi



Công thức Erlang B cơ bản được áp dụng với số kênh lớn hơn (vốn nhiễu). Dung lượng Erlang có được sau đó được chia đều giữa các cell. Thủ tục tính toán dung lượng mềm được tổng kết như sau:



  1. Tính toán số kênh trên một cell, N, trong trường hợp tải bằng nhau, dựa vào hệ số tải đường lên

  2. Nhân số kênh với 1+i để thu được vốn kênh tổng cộng trong trường hợp nghẽn mềm.

  3. Tính toán lưu lượng đề nghị lớn nhất từ công thức Erlang.

  4. Chia dung lượng Erlang cho 1+i.

b. Các ví dụ về dung lượng mềm đường lên.

Một số ví dụ đưa ra trong bảng 4-11

Dung lượng thu được, trên cả hai kênh dựa vào phương trình tải và Erlang trên một cell, được chỉ ra trong bảng 4-11. Hiệu suất trunking được chỉ ra trong bảng 4-11 được định nghĩa như là dung lượng nghẽn cứng chia cho số kênh. Hiệu suất trunking càng thấp, tải trung bình càng thấp, dung lượng có thể mượn từ các cell lân cận càng nhiều, và dung lượng mềm có được càng lớn.

Bảng 4- Ví dụ trong tính toán dung lượng mềm


Thông số

Giá trị

Tốc độ bit

Thoại: 12.2 kbps

Dữ liệu thời gian thực: 16-144kbps



Hoạt động thoại

Thoại 67%

Dữ liệu 100%



Eb/N0

Thoại: 4dB

Dữ liệu 16-32 kbps: 3dB

Dữ liệu 64Kbps: 2dB

Dữ liệu 144kbps: 1.5dB



I

0.55

Mức tăng tạp âm

3dB (=50% hệ số tải)

Xác suất nghẽn

2%

Bảng 4- Tính toán dung lượng mềm trên đường lên.

Tốc độ bit

(kbps)

Các kênh trên một cell

Dung lượng

nghẽn cứng

Hiệu suất trunking

Dung lượng nghẽn mềm

Dung lượng mềm

12.2

60.5

50.8 Erl

84%

53.5Erl

5%

16

39.0

30.1 Erl

77%

32.3Erl

7%

32

19.7

12.9 Erl

65%

14.4Erl

12%

64

12.5

7.0 Erl

56%

8.2Erl

17%

144

6.4

2.5 Erl

39%

3.2Erl

28%

Chú ý rằng càng có nhiều dung lượng mềm cho các tốc độ bit cao hơn so với tốc độ bit thấp. Mối quan hệ này được chỉ ra trong hình 4-6



Hình 4- Dung lượng mềm là một hàm số của tốc độ bit cho các kết nối thời gian thực.

Chú ý rằng tổng số dung lượng mềm cũng phụ thuộc vào môi trường truyền sóng và vào quá trình quy hoạch mạng ảnh hưởng tới giá trị i. Dung lượng mềm có thể thu được chỉ khi thuật toán quản lý nguồn tài nguyên vô tuyến có thể sử dụng một dung lượng cao hơn trong một cell nếu các cell lân cận có tải thấp hơn. Điều này có thể đạt được nếu thuật toán quản lý nguồn tài nguyên vô tuyến dựa vào nhiễu mà không phải tốc độ bit hay số các kết nối.

Dung lượng mềm tương tự cũng tồn tại trên đường xuống WCDMA đồng thời trong cả GSM nếu áp dụng thuật toán quản lý tài nguyên vô tuyến dựa vào nhiễu.


    1. Quy hoạch vùng phủ và dung lượng chi tiết.

4.3.1 Dự đoán vùng phủ và dung lượng lặp.

Phần này sẽ trình bày việc hoạch định chi tiết vùng phủ và dung lượng. Trong pha hoạch định chi tiết, cần dữ liệu truyền thực tế từ các vùng hoạch định, cùng với mật độ người sử dụng được tính toán và lưu lượng người sử dụng. Các thông tin về các site trạm gốc đang tồn tại cũng cần để tận dụng các sự đầu tư cho các site đã có. Đầu ra của hoạch định chi tiết vùng phủ và dung lượng là vị trí trạm gốc, cấu hình và các thông số.





Hình 4- Quá trình tính toán vùng phủ và dung lượng lặp

Bởi vì trong WCDMA tất cả người sử dụng đang chia sẻ các nguồn tài nguyên nhiễu trong giao diện vô tuyến nên không thể phân tích một cách độc lập. Mỗi người sử dụng đều ảnh hưởng đến các người khác và làm cho công suất phát của chúng thay đổi. Sự thay đổi bản thân chúng lại gây ra sự thay đổi và cứ như vậy. Vì thế, toàn bộ quá trình dự đoán phải được thực hiện một cách lặp đi lặp lại cho đến khi công suất phát ổn định. Tốc độ máy di động, hiện trạng kênh đa đường và các tốc độ bit, các kiểu dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng hơn so với các hệ thống di động 2G. Hơn thế nữa, điều khiển công suất nhanh trên cả đường lên và đường xuống, chuyển giao mềm và mềm hơn, các kênh đường xuống trực giao cũng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kỹ thuật của hệ thống. Sự khác nhau giữa dự đoán vùng phủ trong hệ thống WCDMA và TDMA/FDMA là sự tính toán nhiễu trong WCDMA là chủ yếu trong pha dự đoán. Trong quá trình hoạch định vùng phủ GSM hiện hành, độ nhạy thu trạm gốc thường được coi là hằng số và ngưỡng phủ sóng giống nhau cho mỗi trạm gốc. Trong trường hợp độ nhạy thu của trạm gốc phụ thuộc vào số người sử dụng và tốc độ bit sử dụng trong tất cả các cell, vì thế nó là các chi tiết riêng của dịch vụ và của cell. Cũng chú ý rằng trong các mạng 3G, đường xuống có thể có tải cao hơn trên đường lên. Việc tính toán vùng phủ và dung lượng lặp được thực hiện theo sơ đồ sau hình 4-7.



4.3.2 Công cụ hoạch định.

Trong các hệ thống 2G, việc hoạch định chi tiết tập trung chủ yếu vào hoạch định vùng phủ. Trong các hệ thống 3G, việc hoạch định nhiễu chi tiết và phân tích dung lượng cần thiết hơn tối ưu vùng phủ. Các công cụ cần thiết hỗ trợ các nhà quy hoạch để tối ưu cấu hình trạm gốc, việc chọn lựa anten, các hướng đặt của anten, vị trí các site, để đáp ứng chất lượng của các dịch vụ và các yêu cầu dung lượng, dịch vụ với chi phí nhỏ nhất. Để đạt được kết quả tối ưu, công cụ phải có đầy đủ các kiến thức của thuật toán quản lý tài nguyên vô tuyến để thực hiện vận hành và tạo ra các quyết định, giống như trong mạng thực tế. Xác suất vùng phủ sóng đường lên và đường xuống được xác định cho một dịch vụ đặc biệt bằng kiểm tra tính sẵn sàng của dịch vụ trong mỗi vị trí hoạch định.

Pha hoạch định chi tiết không khác nhiều so với hoạch định mạng 2G. Các site và sector được đặt vào công cụ. Sự khác nhau chính là tầm quan trọng của lớp lưu lượng. Các phương pháp phân tích chi tiết được đề xuất sử dụng các trạm gốc rời rạc trong phân tích của WCDMA. Mật độ trạm gốc trong các cell khác nhau nên dựa vào các thông tin lưu lượng thực tế. Các điểm quan trọng nên được xác định như là một đầu vào để phân tích chính xác.

Công cụ hoạch định ở đây là một bộ mô phỏng tĩnh dựa vào điều kiện trung bình và các thông tin nhanh từ mạng có thể được lấy ra.còn bộ mô phỏng động bao gồm các mô hình di động và mô hình lưu lượng chúng có thể được phát triển và thử nghiệm các thuật toán quản lý nguồn tài nguyên vô tuyến trong môi trượng thực tế, và kết quả của sự mô phỏng này là đầu vào cho công cụ hoạch định mạng. Ví dụ như hiệu suất thực tế của thuật toán chuyển giao với các lỗi đo đạc và trễ có thể được kiểm tra trong công cụ động và kết quả được đưa và công cụ hoạch định mạng. Việc kiểm tra các thuật toán RRM yêu cầu mô hình chính xác của hiệu suât liên kết WCDMA, và vì thế một sự giải quyết về mặt thời gian tương ứng với tần số điều khiển công suất là 1.5kHz được sử dụng trong bộ mô phỏng động.



4.3.2.1 Sự lặp lại trên đường lên và đường xuống.

Mục tiêu của sự lặp lại đường lên là phân bố các công suất phát của trạm di động được mô phỏng để giá trị các mức nhiễu và độ nhạy thu trạm gốc hội tụ. Mức độ nhạy thu trạm gốc được sửa đúng bởi mức nhiễu đường lên được tính toán (mức tăng tạp âm) và vì thế là chi tiết riêng của cell. Ảnh hưởng của tải đường lên đối với độ nhạy thu được tính bởi -10log10(1-). Trong sự lặp lại đường lên các công suất phát của MS được tính toán dựa vào mức độ nhạy thu của máy chủ tốt nhất, dịch vụ, tốc độ và suy hao liên kết. Các công suất phát được so sánh với công suất phát lớn nhất cho phép của các MS, và các MS vượt quá giới hạn này sẽ bị đẩy ra ngoài. Nhiễu có thể được tính toán lại và các giá trị tải mới và các độ nhạy cho mỗi trạm gốc được ấn định. Nếu hệ số tải đường lên cao hơn giới hạn thiết lập, các MS di chuyển ngẫu nhiên từ các cell tải nhiều nhất đến các sóng mang khác (nếu phổ cho phép) hoặc bị đẩy ra.

Mục đích của việc lặp đường xuống là để phân phối một cách chính xác các công suất phát trạm gốc đến mỗi trạm di động cho tới khi tín hiệu thu tại trạm di động đáp ứng tỷ số Eb/N0 mục tiêu.

4.3.2.2 Mô hình hoá các chỉ tiêu mức liên kết.

Trong quá trình định cỡ và hoạch định chi tiết cần phải làm đơn giản hoá sự tiêu tốn liên quan đến các kênh truyền sóng đa đường, bộ phát và bộ thu. Một mô hình truyền thống là sử dụng tỷ số Eb/N0 thu trung bình đảm bảo chất lượng của các dịch vụ yêu cầu, bao gồm ảnh hưởng của hiện trạng trễ công suất. Trong các hệ thống sử dụng điều khiển công suất nhanh, tỷ số Eb/N0 thu trung bình không đủ để đặc trưng cho ảnh hưởng của các kênh vô tuyến đối với các chỉ tiêu của mạng. Sự phân bố công suất phát phải được quan tâm khi mô hình hoá các chỉ tiêu mức liên kết trong khi tính toán ở mức mạng. Một phương pháp hợp lý cho đường lên WCDMA thể hiện rằng do yêu cầu Eb/N0 trung bình thu được, một mức tăng công suất phát trung bình cần thiết để tính toán nhiễu. Hơn nữa, khoảng hở điều khiển công suất phải cần thiết trong tính toán quỹ đường truyền cho phép điều khiển công suất theo được phadinh nhanh tại biên giới cell.

Các đa liên kết được quan tâm trong bộ mô phỏng khi tính toán độ lợi chuyển giao mềm trong công suất thu và phát trung bình và khoảng hở điều khiển công suất. Trong suốt quá trình mô phỏng các công suất phát được tính chính xác bởi hệ số hoạt động thoại, độ lợi chuyển giao mềm và mức tăng công suất trung bình cho mỗi trạm di động.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương