ĐỀ CƯƠng chi tiếT



tải về 0.94 Mb.
trang1/106
Chuyển đổi dữ liệu02.01.2022
Kích0.94 Mb.
#5619
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   106

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PHỔ BIẾN,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRUNG ƯƠNG


ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số: 08 /2013

CHỦ ĐỀ

PHÁP LUẬT ĐIỆN LỰC

HÀ NỘI - NĂM 2013

Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I. SỰ PHÁT MINH RA ĐIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA ĐIỆN NĂNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

1. Sự phát minh ra điện

Có thể nói, điện là quá trình phát hiện và triển khai của nhiều thế hệ. Con người đã biết đến hiện tượng điện và từ rất sớm. Đã nghiên cứu về điện từ hàng nghìn năm, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa chính xác thế nào là điện. Theo vật lý học thì điện là dòng chuyển động của các electron hay các phân tích điện khác. Từ điện trong tiếng Anh “electricity” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “electron” – nghĩa là hổ phách.

Từ năm 600 trước Công nguyên, những người Hy Lạp cổ đã biết rằng nếu cọ xát hổ phách thì nó có thể hút được những mẩu giấy. Cột mốc có ý nghĩa quan trọng đấu tiên là William Gilbert (1544 – 1603), nhà vật lí người Anh - ông được xem là cha đẻ của kỹ thuật điện, điện và từ tính, ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “dòng điện”. Năm 1600, trong công trình "Luận về nam châm, các vật từ và về nam châm không lồ là Trái Đất" của ông đã tổng kết những hiểu biết của con người về điện từ, từ trước cho đến lúc bấy giờ

Cho đến năm 1672, ông Otto Fon Gerryk khi để tay bên cạnh quả cầu bằng lưu huỳnh đang quay đã nhận được sự tích điện lớn hơn. Vào năm 1729, ông Stefan Grey đã tìm ra rằng có một số chất, trong đó có kim loại, có thể dẫn điện (ngày nay ta gọi là những chất dẫn điện) và ông cũng phát hiện ra những chất khác như thủy tinh, lưu huỳnh, hổ phách và sáp không dẫn điện (ngày nay ta gọi là những chất cách điện).

Vào năm 1733 một người Pháp có tên là Duy Phey tìm ra vật tích điện dương và vật tích điện âm, mặc dù ông cho rằng đó là hai loại điện khác nhau. Bedzamin Franklin là người đầu tiên thử giải thích thế nào là dòng điện. Theo ông tất cả các chất trong tự nhiên đều có chứa "chất lỏng điện". Khi hai chất va chạm vào nhau thì một số "chất lỏng" của chất này sẽ bị lấy sang chất khác.

Năm 1785, Charles Augustin de Coulomb (1736 – 1806), nhà vật lí Pháp đã đưa ra ba nghiên cứu về điện năng và từ trường. Trong các nghiên cứu này, ông diễn giải cách "làm thế nào để tạo ra và sử dụng một chiếc cân xoắn dựa trên đặc tính của sợi dây kim loại có lực xoắn đàn hồi tỉ lệ với góc quay"; "cách áp dụng quy luật về điện năng và từ trường thuận - nghịch (hút và đẩy)”; "điện năng hao hụt theo thời gian vì ảnh hưỡng của không khí ẩm hay vì tính chất ít dẫn điện". Tiếp tục với các thí nghiệm nghiên cứu, cuối cùng ông đã phát biểu định luật tương tác giữa các điện tích điểm. Định luật phát biểu rằng: “Lực tương tác giữa hai điện tích điểm có phương nằm trên một đường thẳng nối hai tích điểm, có chiều là chiều của lực hút nếu hai điện tích điểm cùng dấu và đẩy nếu hai điện tích điểm trái dấu, có độ lớn tỉ lệ thuận với tích các điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng”. Cống hiến này của Coulomb1 đã đặt nền tảng quan trọng cho việc phát triển nghiên cứu về điện và từ tính. Coulomb cũng nghiên cứu về từ trường, cách chế tạo kim nam châm, cách khử từ, và đã khám phá ra sự phân bố điện tích ở mặt ngoài vật dẫn, biết hiệu ứng màn tĩnh điện, đề ra khái niệm momen từ, đồng thời xây dựng lý thuyết về hiện tượng phân cực điện môi.

Cũng trong thập niên này, năm 1786, nhà giải phẫu học người Ý - Luigi Galvani (1737 - 1798), làm thí nghiệm cho điện phóng qua đùi ếch bằng cách treo chiếc đùi ếch bằng một sợi dây đồng, chiếc đùi ếch bị co bóp đặc biệt mỗi khi đầu kia sợi dây đồng chạm vào thanh sắt của ban công. Thí nghiệm này như một sự phát hiện ra sự tồn tại của dòng điện và những tác dụng sinh lí của dòng điện. Về sau Luigi Galvani là người phát hiện ra rằng các tế bào thần kinh và tế bào bắp thịt cũng sản sinh ra điện.

Alessandro Volta (1745 – 1827), nhà vật lí người Ý. Ông bắt đầu nghiên cứu đến hiện tượng tĩnh điện từ năm 1765 và phát hành cuốn sách “Về sự hấp dẫn của điện” vào năm 1769, trong đó giải thích một số hiện tượng tĩnh điện. Volta tiếp tục nghiên cứu về các hiện tượng điện sinh lý và thử lại thí nghiệm của Galvani, nhưng theo ông, cơ thể con ếch chỉ là một chất dẫn điện, điện sinh ra trong kim loại đã kích thích các dây thần kinh và làm hoạt động các cơ của con ếch. Để chứng minh sự lầm lẫn của Galvani, Volta đã tạo ra điện bằng các vòng đồng và kẽm xen kẽ nhau và phân cách nhau bằng các lớp vải tẩm dung dịch acid, ông dùng một sợi dây gắn vào vòng kẽm ở trên cùng và một dây gắn vào vòng đồng ở dưới cùng, khi chạm hai đầu dây vào nhau thì một tia lửa điện văng ra. Đây là phát minh quan trọng nhất của ông vào năm 1800 và sản phẩm này được coi là cục Pin2 đầu tiên của loài người, cục pin đó đó có khả năng sinh ra dòng điện liên tục và ổn định. Phát minh này đã mang đến cho loài người nguồn năng lượng thường xuyên và kéo theo nó tất cả những phát minh quan trọng nhất trong lĩnh vực này3.

Năm 1820, Hans Christian Oersted (1777 - 1851), nhà Vật lí người Đan Mạch phát hiện ra mối quan hệ giữa dòng điện và từ trường, và mối quan hệ này được gọi là điện từ. Phát hiện này đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu điện từ.

Cũng trong thời gian này, năm 1820 - 1822, Andre - Marie Ampère (1775 – 1836), nhà vật lí người Pháp đã dựa vào phát minh về điện từ của Oersted, ông đã nghiên cứu tìm ra tác dụng của từ trường lên dòng điện và sự tương tác giữa hai dòng điện, gọi là lực điện từ và phát biểu thành định luật (Định luật này được mang tên ông – Định luật Ampere)4.

Năm 1827, Georg Simon Ohm (1789 – 1854), nhà vật lí người Đức dựa trên những thí nghiệm của mình đã nêu ra mối quan hệ giữa cường độ dòng điện, hiệu điện thế và điện trở. Kết quả nghiên cứu này của ông được gọi là định luật mang chính tên ông – Định luật Ohm5. Định luật này của ông đã mở ra những cách phân tích đúng đắn về mạch điện.

Năm 1831, Michael Faraday (1791 - 1867) nhà hóa học và nhà vật lí người Anh, đã phát minh ra hiện tượng cảm ứng điện từ, dòng điện trong chất điện phân. Thành quả nghiên cứu lớn nhất của Faraday là ông đã dùng nam châm để chế tạo một dòng điện liên tục: nếu di chuyển thanh nam châm qua cuộn dây thì sẽ có một dòng điện chạy trong cuộn dây, dòng điện cũng sẽ xuất hiện nếu cuộn dây di chuyển qua thanh nam châm đứng yên. Thí nghiệm của ông cho thấy rằng sự thay đổi từ trường tạo ra dòng điện và đây là nguồn gốc để chế tạo máy phát điện ngày nay.

Năm 1879, Thomas Alva Edison (1847 – 1931), nhà vật lý người Mỹ đã phát minh ra bóng đèn sợi đốt6, có thể nói phát minh này đã làm thay đổi cả thế giới. Ông cũng là người đầu tiên (năm 1880) xây dựng Trạm phát điện7 và mạng lưới điện để cung cấp điện thắp sáng đến từng gia đình, từng công ty. Tuy nhiên, dòng điện mà Edison cung cấp mới chỉ là dòng điện một chiều 110 V (volt).

Năm 1884 Sir Charles Parsons (1854-1931), kỹ sư người Anh và Gustaf de Laval (1845-1913) kỹ sư người Thụy Sĩ đã phát minh ra turbine (tuabin). Charles Parsons đã phát minh ra tuabin phản lực và Gustaf de Laval phát minh ra tuabin xung lực (tuabin dòng phun tự do). Các tuabin hơi hiện đại thường sử dụng cả hai kiểu tuabin phản lực và xung lực. Nhờ phát minh này mà ngày nay 80% sản lượng điện trên thế giới được sản xuất và sử dụng bằng nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau.





tải về 0.94 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   106




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương