Đề cương chi tiết môn khóa luận tốt nghiệp


II.3. Tổng quan về rủi ro môi trường



tải về 1.52 Mb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích1.52 Mb.
#1995
1   2   3   4

II.3. Tổng quan về rủi ro môi trường

II.3.1. Một số khái niệm cơ bản

  • Rủi ro môi trường (Risk environment)

Rủi ro môi trường là xác suất của một tác động bất lợi lên con người hoặc môi trường do tiếp xúc với mối nguy hại. Rủi ro thường được biểu diễn bằng xác suất xảy ra tác động có hại khi hậu quả của sự thiệt hại tính toán được.

  • Phân tích rủi ro (Risk Analysis)

Phân tích rủi ro là sự sử dụng có hệ thống những thông tin có sẵn để xác định các mối nguy hại và để ước lượng rủi ro đối với cá nhân, quần thể, tài sản, hoặc môi trường.

Phân tích rủi ro bao gồm việc xác định các sự cố không mong muốn, các nguyên nhân và các hậu quả của các sự cố đó.

Thông qua tiến trình đánh giá rủi ro, các kết quả của phân tích rủi ro được sử dụng cho việc ra quyết định hoặc thông qua xếp hạng tương đối của các chiến lược giảm thiểu rủi ro hay thông qua so sánh với các mục tiêu giảm thiểu rủi ro.


Đánh giá rủi ro môi trường là hoạt động nhằm xác định con người hay các yếu tố môi trường bị tác động tổn hại bởi ô nhiễm đất, nước và không khí. Điều đó sẽ cho phép người quản lý quyết định về việc quản lý các rủi ro trong vùng có liên quan.

  • Mô hình đánh giá rủi ro

Mô hình đánh giá rủi ro là quá trình xác định các nguyên nhân gây rủi ro trên cơ sở các tác động đã xảy ra, qua đó xác định các tác nhân nghi ngờ và mối liên hệ giữa chúng với các tác động có hại, thể hiện qua các chuỗi số liệu và bằng chứng liên quan thu thập được.

  • Quản lý rủi ro môi trường

Quản lí rủi ro môi trường là thiết lập và thực hiện chính sách, chọn lọc và thực hiện các hoạt động phản ứng lại rủi ro và giảm bớt rủi ro sao cho chi phí hợp lí nhất.

Quản lý rủi ro cung cấp các thông tin nguy cơ cho các nhà quản lý dự án để phục vụ cho việc ra quyết định, là một quá trình thực thi các quyết định về lựa chọn hay chấp nhận rủi ro.

Quản lý rủi ro môi trường là cách tiếp cận tốt nhất để cân bằng giữa lợi ích kinh tế xã hội và rủi ro môi trường. Vấn đề giảm thiểu tối đa hoặc giảm mức độ có thể tạm chấp nhận các ảnh hưởng bất lợi đối với những vấn đề rủi ro, đối với những người tạo ra rủi ro hoặc chịu trách nhiệm và quản lý rủi ro.

II.3.2. Các loại đánh giá rủi ro


Đánh giá rủi ro sinh thái chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh hưởng của các chất lên tỷ lệ tử vong và khả năng sinh sản. EcoRA đánh giá trên diện rộng, trên rất nhiều sinh vật. Đánh giá rủi ro sinh thái có 3 nhóm:

          - Đánh giá rủi ro sinh thái do hoá chất.

          - Đánh giá rủi ro sinh thái đối với các hóa chất bảo vệ thực vật.

          - Đánh giá rủi ro sinh thái đối với sinh vật biến đổi gen.



Đánh giá rủi ro công nghiệp bao gồm các nội dung:

- Đánh giá rủi ro đối với các địa điểm đặc biệt có sự phát thải không theo quy trình.

- Đánh giá rủi ro đối với các địa điểm đặc biệt có sự phát thải theo quy trình.

- Đánh giá rủi ro trong giao thông.

- Đánh giá rủi ro trong việc lập kế hoạch tài chính.

- Đánh giá rủi ro sản phẩm và đánh giá chu trình sản phẩm.

- Đưa ra các số liệu về giảm thiểu rủi ro.


  • Đánh giá rủi ro chiến lược (Strategic Risk Assessment – SRA)

Đánh giá rủi ro chiến lược là đánh giá rủi ro cho các chính sách và công cụ kinh tế của việc xây dựng phát triển làm nền tảng, đánh giá các bên liên quan cũng như những biến đổi vốn có của môi trường tự nhiên nhằm vào việc tiêu chuẩn hoá rủi ro để so sánh một tiến trình dễ dàng hơn khi rủi ro môi trường có thể xảy ra do nhiều nguồn khác nhau như ô nhiễm bầu khí quyển từ các trạm năng lượng, ngập lụt khu vực đôi bờ, rò rỉ từ các khu vực năng lượng hạt nhân

Đánh giá rủi ro chiến lược nhằm mục tiêu: so sánh tính rủi ro khắc nghiệt từ các nguồn, xác định rõ khu vực có thể giảm thiểu chỉ số rủi ro lớn nhất và xác định các chính sách thân thiện cho một số vấn đề quy định để đạt lợi ích lớn nhất.



  • Đánh giá rủi ro hồi cố

Đánh giá rủi ro hồi cố là đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa các tác động sinh thái quan sát đựơc và các tác nhân có trong môi trường. Đánh giá rủi ro hồi cố đề cập đến những rủi ro và các hoạt động diễn ra trong quá khứ và do đó nó trả lời câu hỏi: “Có những bằng chứng gì chứng tỏ mối nguy hại đã xảy ra với đối tượng?”.

Trong đánh giá hồi cố, điều quan trọng là xác định được các tác động chính và phân tích nguyên nhân của chúng. Cách tiếp cận này cho phép rút ra kết luận và các nguyên nhân của những tác hại quan sát được và thường đòi hỏi phải so sánh các chuỗi số liệu thời gian và không gian. Việc so sánh sẽ giúp xác định xem rủi ro sinh ra từ nguồn cụ thể nào.



  • Đánh giá rủi ro sức khoẻ (Health risk assessment - HRA)

Đánh giá rủi ro sức khoẻ là tiến trình sử dụng các thông tin thực tế để xác định sự phơi nhiễm của cá thể hay quần thể đối với vật liệu nguy hại hay hoàn cảnh nguy hại. HRA quan tâm đến những cá nhân, cùng với tình trạng bệnh tật và số người tử vong. Đánh giá rủi ro sức khoẻ có 3 nhóm chính:

  • Rủi ro do các nguồn vật lý (được quan tâm nhiều nhất là những rủi ro về bức xạ từ các nhà máy hạt nhân hoặc các trung tâm nghiên cứu hạt nhân).

  • Rủi ro do các hoá chất (những độc chất có trong môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo).

  • Rủi ro sinh học (đánh giá rủi ro đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, hoặc đánh giá rủi ro đối với những sinh vật biến đổi gen).

(Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, 2008)

CHƯƠNG III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được thể hiện trong sơ đồ:





Sơ đồ III.1. Sơ đồ phương pháp nghiên cứu

Cụ thể các bước tiến hành như sau:



III.1. Xây dựng mạng lưới quan trắc

III.1.1. Khảo sát các cơ sở dữ liệu

Để xây dựng mạng lưới quan trắc, cần phân tích các dữ liệu về số giếng, phân bố nước ngầm và phân bố dân cư của vùng nghiên cứu:



Sơ đồ III.2. Dữ liệu xây dựng mạng lưới quan trắc

Theo kết quả điều tra đánh giá trữ lượng nước ngầm, Sở Khoa Học Công Nghệ Lâm Đồng xây dựng bản đồ nước ngầm vùng trọng điểm dân cư, kinh tế trên từng huyện:

Căn cứ vào bản đồ nước ngầm và nghiên cứu kết quả xây dựng bản đồ nước ngầm tỷ lệ 1:25000 cho hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương, nhận thấy vùng trọng điểm nước ngầm của Đơn Dương tập trung ở các xã Tutra, Kađô, Đạròn, Thạnh Mỹ, Quảng lập (nhưng chỉ tập trung ở một phần của các xã hướng về tâm điểm là phía thị trấn Thạnh Mỹ. Vùng trọng điểm nước ngầm của Đức Trọng tập trung ở các xã Ninh Gia, Ninh Loan, Phú Hội, Tân Thành, Hiệp Thạnh, Bình Thạnh, Liên Nghĩa (có thể hiện trên bản đồ nước ngầm). Vậy ưu tiên lấy nhiều mẫu ở những vùng lưu lượng nước ngầm lớn.

Căn cứ bản đồ hành chính, phân bố mật độ dân cư các thôn, xã trong 2 huyện và phân bố giếng khoan trong huyện, qua khảo sát thực tế, nhận thấy khoảng 90% số hộ dân có giếng, có những hộ có hai giếng, cả giếng khoan và giếng đào (số còn lại dùng nước từ mạch lộ chảy tự nhiên trên núi hoặc dùng nước suối), trong số hộ có giếng, khoảng 60% có giếng khoan, số còn lại dùng giếng đào. Vậy lấy mẫu đều theo phân bố giếng, tuy nhiên ưu tiên những vùng đông dân cư và ưu tiên giếng khoan hơn giếng đào.

Căn cứ phân bố dân cư các xã trong hai huyện, nhận thấy dân cư hai huyện tập trung nhiều ở những thị trấn, khu vực có trữ lượng nước ngầm lớn và trung bình, những khu vực địa hình đồi núi thì thưa dân và dân cư chủ yếu dùng nguồn nước từ mạch lộ tự nhiên để sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt. Vậy cần dựa vào mật độ dân số và trữ lượng nước ngầm trong huyện để xây dựng mạng lưới quan trắc, ưu tiên lấy mẫu ở những vùng có mật độ dân số lớn.

III.1.2. Chia ô lưới lấy mẫu

III.1.2.1. Xác định số mẫu mỗi xã

Sau khi nghiên cứu các dữ liệu như ở phần III.1, đề tài xác định tổng số mẫu cần lấy, kết quả thu được ở bảng III.1 như sau:



Bảng III.1. Phân phối số lượng mẫu thu thập ở huyện Đơn Dương

Tên Xã

Số

Dân

Diện tích (km2)

Mật độ dân số

(người/km2)

Xếp thứ tự mật độ dân số

Trữ lượng nước

Số lượng mẫu

TT. Dran

16024

135.40

118.35

9

Trung Bình

6

Lạc Xuân

12154

102.40

118.69

8

Nhỏ

4

Pró

5519

87.90

62.79

10

Nhỏ

4

TuTra

12251

74.00

165.55

6

Lớn

6

KaĐơn

8308

37.10

223.94

5

Trung Bình

2

Kađô

11035

88.20

125.11

7

Lớn

7

Đạròn

7814

32.40

241.17

4

Lớn

3

Thạnh mỹ

11125

21.60

515.05

1

Lớn

4

Lạc Lâm

9081

21.60

420.42

3

Nhỏ

2

Quảng Lập

4729

9.70

487.53

2

Lớn

2

Tổng cộng

98040

610.30

160.64







40


Bảng III.2. Phân phối số lượng mẫu thu thập ở huyện Đức Trọng

Tên xã

Số dân

Diện tích
(km2)


Mật độ dân số
(người/km2)


Xếp thứ tự mật độ dân số

Trữ Lượng nước

Số lượng mẫu

Tà Năng

5304

150.0

35.36

15

Ít

3

Đạ Quyn

4109

110.0

37.35

14

Ít

3

Tà Hine

3715

43.3

85.80

13

Trung bình

2

Ninh Gia

12936

143.7

90.02

12

Lớn

6

Ninh Loan

4794

32.5

147.51

11

Lớn

2

Phú Hội

18202

107.0

170.11

10

Lớn

6

Đà Loan

10239

54.9

186.50

9

Ít

3

N'Thon Hạ

6765

35.3

191.64

8

Trung bình

2

Hiệp An

10368

54.0

192.00

7

Trung bình

4

Tân Thành

5763

22.7

253.88

6

Lớn

2

Liên Hiệp

12239

35.8

341.87

5

Trung bình

3

Hiệp Thạnh

15402

36.9

417.40

4

Lớn

3

Tân Hội

10828

23.6

458.81

3

Trung bình

2

Bình Thạnh

7240

15.4

470.13

2

Lớn

2

Liên Nghĩa

50048

37.4

1338.18

1

Lớn

3

Tổng cộng

177952

902.5

1.97176731







45

III.1.2.2. Xác định vị trí lấy mẫu trên ô lưới

Từ số lượng mẫu của mỗi xã, dựa trên diện tích mỗi vùng, tiến hành chia ô lưới lấy mẫu trung bình khoảng 4km x 4km với Đức Trọng và 3km x 3km với Đơn Dương, thu được bản đồ chia ô lưới và các vị trí lấy mẫu như sau:





Hình III.1. Bản đồ chia ô lưới 3km và các điểm lấy mẫu huyện Đơn Dương



Hình III.2. Bản đồ chia ô lưới 4km và các điểm lấy mẫu huyện Đức Trọng

III.2. Lấy mẫu

Sau khi xây dựng mạng lưới quan trắc, chia ô lưới lấy mẫu và xác định số mẫu cho mỗi xã (tập trung vào khu vực nước ngầm trọng điểm), đề tài tiến hành các bước lấy mẫu với tiến trình cụ thể như sau:



III.2.1. Kế hoạch lấy mẫu

Kế hoạch lấy mẫu được lập trước khi thực hiện quá trình lấy mẫu, dựa trên số lượng mẫu (thể tích, khối lượng mẫu, thời gian lấy mẫu tối đa) có thể lấy trong ngày và dựa trên quãng đường di chuyển giữa các vị trí lấy mẫu. Sau đó, trong quá trình lấy mẫu thì điều chỉnh số lượng và địa bàn lấy mẫu sao cho hợp lí với quá trình lấy mẫu trên thực tế. Cụ thể, kế hoạch lấy mẫu đã thực hiện theo tiến trình như sau:



Bảng III.3. Kế hoạch lấy mẫu

Thời gian

Địa điểm lấy

Số mẫu lấy

Huyện

26/03/2011

Bình Thạnh, N’Thol Hạ,

Liên Hiệp, Hiệp Thạnh



10

Đức

Trọng


27/03/2011

Đạ Quyn, Tà Năng, Đà Loan

Tà Hine, Ninh Loan



13

28/03/2011

Ninh Gia, Phú Hội, Hiệp An

14

07/04/2011

Liên Nghĩa, Tân Thành

Tân Hội, Hiệp An



8

05/04/2011

Dran, Lạc Xuân, Ka Đô, Lạc Lâm

18

Đơn

Dương


06/04/2011

Đạ Ròn, Tutra, Ka Đơn, Quảng Lập

Pró, Thạnh Mỹ, Đạ Ròn.



22

III.2.2. Dụng cụ lấy mẫu

Công việc chuẩn bị dụng cụ (hóa chất, pipet, bình xốp chứa đá, túi bóng đen đựng mẫu) và chuẩn bị chai lọ đựng mẫu phải được chuẩn bị cẩn thận trước khi lấy mẫu để không ảnh hưởng đến chất lượng mẫu. Các chai nhựa (vỏ chai nước suối) dùng để chứa hóa chất và mẫu phải được rửa sạch bằng nước máy, tráng bằng nước cất, sau đó tráng bằng HCl(10%) và phải tráng bằng mẫu nước sẽ lấy ngay trước khi chứa mẫu.



III.2.3. Xác định vị trí lấy mẫu

Dùng thiết bị GPS định vị những vị trí đã xác định trước trên bản đồ sao cho tọa độ điểm lấy mẫu gần với tọa độ điểm đã xác định nhất (S  2.102). Đi trên tuyến đường lấy mẫu sao cho các vị trí lấy mẫu cách nhau khoảng 3-5km (theo ô lưới 3km và 4km).



III.2.4. Lấy mẫu (Theo TCVN 6000: 1995 –Tiêu chuẩn lấy mẫu nước ngầm)

  • Tháo hết các ống dẫn và vật liệu nhựa, cao su khỏi ống dẫn sao cho khoảng cách từ mạch nước ngầm đến vị trí miệng ống lấy nước là ngắn nhất.

  • Dùng khăn giấy lau sạch miệng ống lấy nước.

  • Vặn ống chảy mạnh trong 1 phút. Sau đó để bơm chảy nhỏ thêm 10 phút

  • Quan sát các yếu tố màu nước, tốc độ chảy và đo các thông số đo nhanh ngoài thực địa, đến khi thấy các yếu tố màu nước, pH, độ đục, tốc độ chảy và nhiệt độ đều diễn biến khá đều đặn thì bắt đầu hứng 3 chai lấy mẫu lần lượt vào dòng chảy từ ống bơm sao cho thời gian chảy đầy 3 chai là như nhau,

  • Trộn 3 chai mẫu đơn vào nhau và lấy 1 thể tích mẫu tổ hợp xác định (có ghi trong nhật kí và biên bản lấy mẫu).

- Không lấy đầy chai, để khoảng trống để lắc mẫu trước khi phân tích.

Lưu ý:

      1. Ưu tiên giếng khoan hơn giếng đào

      2. Ưu tiên giếng sâu hơn giếng nông

      3. Bấm GPS định vị vị trí lấy mẫu

      4. Chụp hình khi lấy mẫu

      5. Ghi chép thời tiết và những điểm bất thường khác khi lấy mẫu

III.2.5. Xử lí, bảo quản mẫu

Sau khi chứa mẫu vào chai, nhỏ từ từ HClđđ sao cho HCl chiếm 1% về thể tích trong dung dịch mẫu nước thu. Đựng mẫu trong túi bóng đen và đặt trong bình đá, nhanh chóng chuyển về phân tích. Vì điều kiện lấy khoảng 10-15 mẫu trong ngày nên mẫu được bảo quản lâu nhất trong điều kiện túi bóng đen và bình đá là 8 tiếng (9h sáng đến 18h chiều).



III.2.6. Ghi nhật kí lấy mẫu

Tìm hiểu lưu lượng bơm, công suất, thời gian giếng đã sử dụng, thời gian và lưu lượng nước chủ hộ sử dụng trong ngày, mục đích sử dụng, đường kính ống bơm giếng khoan, đường kính miệng giếng đào, độ sâu của giếng. (Phụ lục 5, 6)



III.2.7. Lập biên bản lấy mẫu

Biên bản lấy mẫu gồm tên mẫu, thời gian lấy mẫu, tên chủ hộ, địa chỉ, số điện thoại, có chữ kí xác nhận của chủ hộ và một cơ quan chức năng -Phòng Tài nguyên Môi trường huyện) xác nhận lấy mẫu đúng thời gian, địa điểm và quy cách đề ra như trên (Phụ lục 11)



III.3. Phân tích hàm lượng arsen

  • Toàn bộ số mẫu (85 mẫu -40 mẫu ở Đơn Dương và 45 mẫu ở Đức Trọng) được Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân tại Đà Lạt –Lâm Đồng phân tích nồng độ arsen bằng phương pháp AAS theo TCVN 6626: 2000, (xác định arsen bằng phương pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử kĩ thuật hydrua hóa).


tải về 1.52 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương