Đề cương chi tiết môn khóa luận tốt nghiệp



tải về 1.52 Mb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích1.52 Mb.
#1995
  1   2   3   4

Khóa luận tốt nghiệp Khoa Môi Trường

MỤC LỤC


08. TCVN 5992 : 1995 (ISO 5667-2 : 1991): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn kĩ thuật mẫu. 76

09. TCVN 5993 : 1995 (ISO 5667 - 3 : 1985): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn bảo quản và xử lí mẫu. 76



CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU

I.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trường nước và tác động của các yếu tố ô nhiễm lên sức khoẻ cộng đồng đang diễn biến phức tạp khiến rủi ro môi trường ngày càng tăng cao. Ngày nay, rủi ro môi trường được coi là một trong những loại rủi ro đặc biệt quan trọng và nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển, các nước đang đẩy mạnh hiện đại hoá công nghiệp hoá và cả những nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao. Một số quốc gia quan tâm đến rủi ro về sức khoẻ như bệnh ung thư, suy dinh dưỡng, đột biến, béo phì, một số khác thì quan tâm đến việc thiếu các điều kiện sống cơ bản như nhà ở, nước sạch, điều kiện vệ sinh an toàn… Nhưng một vấn đề chung hiện đang dành được mối quan tâm hàng đầu ở nhiều nước lớn là vấn nạn ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là ô nhiễm arsen trong nước ngầm. Việc arsen tồn tại trong nguồn nước ăn uống và sinh hoạt của người dân với nồng độ quá mức cho phép đã tác động đến sức khoẻ của hàng triệu người trên thế giới.

Tại Việt Nam, ô nhiễm arsen đã được phát hiện tại nhiều khu vực như đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, khu vực đồng bằng sông Cửu Long: An Giang, Đồng Tháp… Những hậu quả của việc sử dụng nước ngầm có nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân là rất nghiêm trọng, việc đưa ra những giải pháp đối với vấn đề ô nhiễm này với nước ta cũng không còn mới lạ. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ đề cập đến những ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư khi mà những biểu hiện về nguy hại đã thể hiện rõ rệt qua sự suy giảm về sức khỏe mà chưa dành sự quan tâm thích đáng tới những rủi ro tiềm tàng như nguy cơ gây ung thư với người dân sử dụng nguồn nước ngầm nhiễm arsen với nồng độ tuy thấp nhưng trong thời gian dài (suốt cuộc đời).

Trước sự đe dọa về hiểm họa của tình trạng ô nhiễm arsen cũng như các kim loại nặng trong đất, nước sinh hoạt và ăn uống, việc nghiên cứu hiện trạng, khoanh vùng hàm lượng arsen trong nước ngầm, đánh giá rủi ro tiềm tàng do tình trạng ô nhiễm đó gây ra đến sức khỏe người dân và đề xuất giải pháp phòng ngừa ảnh hưởng của nó là điều hết sức cần thiết.

Nhiều nghiên cứu về arsen được thực hiện trước đây đã cho thấy Lâm Đồng là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên có nồng độ arsen cao đáng báo động nhưng chưa có báo cáo chính thức như một số thành phố lớn khác của nước ta.

Trong tỉnh Lâm Đồng, Đơn Dương và Đức Trọng là những huyện có vị trí trọng điểm về phát triển kinh tế xã hội, là cửa ngõ ra vào thành phố Đà Lạt -Trung tâm du lịch và hoạt động dịch vụ văn hoá - thể thao của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế về phát triển kinh tế, trên địa bàn hai huyện vẫn còn nhiều hộ dân dùng nước giếng tự khai thác không qua xử lí và nhiều diện tích thuộc vùng sâu vùng xa chưa được tiếp cận với nước sạch. Chính vì vậy, nguy cơ những ảnh hưởng có hại từ nguồn nước ngầm đến người dân sử dụng nước ngầm làm nguồn nước sinh hoạt tại hai huyện là khá cao.

Trên cơ sở đó, đề tài lựa chọn vấn đề “Khảo sát hiện trạng ô nhiễm arsen trong nước ngầm và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng tại hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng thuộc tỉnh Lâm Đồng” để thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nồng độ arsen ở một số huyện thuộc Lâm đồng và đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, từ đó đưa ra những khuyến cáo và biện pháp phòng tránh giảm thiểu những tác động có hại cho người dân trong hai huyện nói riêng và trong tỉnh Lâm Đồng nói chung.

I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


  • Đối tượng nghiên cứu: arsen trong nước ngầm và dân cư sử dụng nguồn nước ngầm này vào mục đích sinh hoạt tại hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng

  • Phạm vi nghiên cứu: hai huyện Đức Trọng và huyện Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng

 I.3. Mục tiêu của đề tài

- Quan trắc nồng độ arsen trong môi trường nước ngầm tại hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng thuộc tỉnh Lâm Đồng.

- Tính toán liều lượng tiếp nhận vào cơ thể đối với cộng đồng dân cư sử dụng nguồn nước ngầm bị ô nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt.

- Đánh giá rủi ro đến sức khỏe khi con người phơi nhiễm với arsen trong nước ngầm.



I.4. Nội dung nghiên cứu

- Thu thập khảo sát các số liệu về diện tích, dân số, số giếng nước, phân bố dân cư và phân bố nước ngầm của huyện.

- Lên kế hoạch quan trắc: chia ô lưới, chọn địa điểm thu mẫu, tần suất lấy mẫu, phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu.

- Tính toán liều lượng tiếp nhận và đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, đề xuất biện pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro.



I.5. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp định vị, số hóa bản đồ.

- Phương pháp tổng hợp tài liệu.

- Phương pháp khảo sát thực địa.

- Phương pháp lấy mẫu.

- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.

- Phương pháp thống kê toán học.

- Phương pháp đánh giá rủi ro.



I.6. Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài tiến hành đánh giá hàm lượng arsen trên địa bàn khảo sát, từ đó thu thập được các số liệu về những vị trí ô nhiễm arsen, xây dựng bản đồ nồng độ arsen trên địa bàn hai huyện.

- Từ những kết quả khảo sát, đề tài xác định được những vị trí có nồng độ arsen cao và đưa ra cảnh báo cho người dân tại những khu vực này có những biện pháp phòng tránh giảm thiểu tác hại của ô nhiễm arsen trong nước ngầm.

- Đề tài tiến hành đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, từ đó thể hiện được nguy cơ mắc các loại bệnh của người dân vùng nghiên cứu, góp phần xây dựng hệ thống số liệu giúp các nhà quản lí môi trường xây dựng chương trình quản lí giảm thiểu rủi ro tới sức khỏe người dân.



CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

II.1. Tổng quan về arsen

II.1.1. Một số tính chất của arsen (As)

As chiếm 1.10-4 % tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, chúng tồn tại chủ yếu ở dạng khoáng vật sunfua: Sunfide Orpiment vàng – As2S3 và Realgar đỏ - As4S4;…

Trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học, Arsenic nằm ở phân nhóm Va với một số các đặc trưng:

Bảng II.1 Tính chất hóa học của nguyên tử arsen


Ký hiệu hoá học

As

Z

33

Cấu hình e

[Ar]3d104s24p3

Rn/tử (AO)

1,48

Rion E3- (AO)

1,92

Rion E5+ (AO)

0,47

Eion hòa I (kcal/ntg)

226

Eion hòa II (kcal/ntg)

466

Eion hòa III (kcal/ntg)

653

Độ âm điện

2,0

Khối lượng riêng (g/cm3)

5,727

TOnc(OC)

817

TOs (OC)

614

As tồn tại ở hai dạng kim loại và không kim loại:

Ở dạng không kim loại As là chất rắn màu vàng (còn gọi là As vàng) được tạo nên khi làm ngưng tụ hơi, có mạng lưới lập phương (giống Photpho trắng), kiến trúc mạng lưới bao gồm các phân tử As4 liên kết với nhau bằng lực Vanderwaals. Phân tử As4 có cấu tạo hình tứ diện đều với các nguyên tử As nằm ở đỉnh. Do có mạng lưới phân tử nên As vàng kém bền ở nhiệt độ thường dưới tác dụng của ánh sáng dễ chuyển sang dạng kim loại (dạng bền hơn).

Dạng kim loại có màu bạc trắng, hơi xám (gọi là As xám). As xám có cấu trúc dạng Polime, có mạng lưới nguyên tử giống Photpho đen, có khả năng dẫn nhiệt, dẫn điện nhưng giòn có thể nghiền thành bột dễ dàng.

As tồn tại ở các mức oxi hóa -3, +3, +5 với các hợp chất As(III) (Asenhidrua, Các Asenua kim loại,Asen(III) oxit – As2O3, Acid Asenous, Asensunfua: As4S6. Asentrihalogenua: AsX3) và hợp chất As(V) (Asen oxit : As2O;Acid Asenic ;Asen Sunfua : As2S5 ; Asen Pentahalogenua : Chỉ có AsF5).



II.1.2. Dạng tồn tại của arsen trong môi trường

II.1.2.1. Sự xuất hiện của arsen và hợp chất arsen trong môi trường

Những nghiên cứu về sự hình thành của As trong môi trường và trong các mẫu sinh học đang là những chủ đề được quan tâm đến nhiều nhất hiện nay. As xuất hiện trong tự nhiên một cách phổ biến trong các khoáng vật, bên cạnh đó, sự sử dụng As một cách rộng rãi trong các hoá chất nhuộm màu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ là những nguồn chính cho sự có mặt của arsenic trong môi trường.

Trên thực tế, trước đây As được ứng dụng trong một số lĩnh vực như sau:


  • Trong y học: thạch tín được sử dụng trong thuốc bắc với tác dụng trị suyễn hoặc dùng để chữa các bệnh ngoài da …

  • Trong nông nghiệp: As có trong thành phần của một số loại thuốc bảo vệ thực vật. Khoảng 70% thuốc bảo vệ thực vật trong thành phần có chứa As nằm ở các dạng :

(1) Monosodium methane arsenate (MSMA) – HAsO3CH3Na;

(2) Disodium methane arsenate (DSMA) – Na2AsO3CH3;

(3) Dimethylarsinic acid (cacodylic acid) – (CH3)2 AsO2H;

(4) Arsenic acid – H3AsO4.



  • Trong công nghiệp: As và hợp chất của As cũng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chẳng hạn như: bảo quản gỗ, sản xuất gương kính, hợp kim và các thiết bị điện tử, làm chất xúc tác hoặc chất phụ gia…

II.1.2.2. Dạng tồn tại của arsen trong môi trường

Các dạng tồn tại của As trong môi trường là vấn đề đáng quan tâm bởi vì có sự khác nhau về mức độ độc giữa chúng. Trong môi trường As tồn tại chủ yếu ở các dạng:

Arsenite As(III), arsenate As(V), arsenious acids (H3 AsO3 , H2AsO3 , HAsO32–) arsenic acids (H3AsO4, H2AsO4, HAsO42–), dimethylarsinate (DMA), monomethylarsonate(MMA), arsenobetaine(AB) và arsenocholine (AC).

Những dạng hợp chất này minh hoạ cho sự đa dạng của các trạng thái oxy hoá của As và kết quả là đưa đến sự phức tạp về hoá tính của nó trong môi trường.

Trong pha nước với môi trường thoáng khí acid, Arsenic chiếm ưu thế ở pH cực kỳ thấp (pH<2), trong khoảng pH từ 2 – 11 chúng được thay thế bởi H2AsO4 và HAsO42–.



Hình II.1. Sự phụ thuộc của dạng tồn tại hợp chất arsen vào pH

Arsenious acid xuất hiện trong điều kiện pH thấp và có sự khử nhẹ tuy nhiên khi pH gia tăng nó sẽ được thay thế bởi H2AsO3 và khi pH vượt quá 12 sẽ làm xuất hiện HAsO32– . Với môi trường pH thấp và có mặt sunfua có thể tạo thành HAsS2.

Các hợp chất Asine, dẫn xuất asine và arsenic xuất hiện ở điều kiện khử cao. Bởi vì nó tạo thành dạng anion trong dung dịch nên As không kết hợp với các anion đơn giản như Cl-; SO43- như các cation kim loại. Đúng hơn là các hợp chất anion As cư xử như các gốc tự do trong nước. As (III) phản ứng với nhóm sulphur và sulphydryl như cystine, organic dithiols, proteins, enzymes nhưng không phản ứng với amine.

Tuy nhiên As(V) lại phản ứng với nhóm nitrogen khử như amine nhưng lại không phản ứng với nhóm sulphydryl.

Hàm lượng As trong nước ngầm phụ thuộc rất nhiều vào tính chất và trạng thái môi trường địa hóa. Dạng As tồn tại chủ yếu trong nước ngầm là H3AsO4-1 (trong môi trường pH acid đến gần trung tính), HAsO4-2 (trong môi trường kiềm).

Hình II.2. Sự phụ thuộc dạng tồn tại của arsen vào môi trường địa hóa

Hợp chất H3AsO3 được hình thành chủ yếu trong môi trường oxy hóa-khử yếu. Các hợp chất của As với Na có tính hòa tan rất cao, còn những muối của As với Ca, Mg và các hợp chất As hữu cơ trong môi trường pH gần trung tính và nghèo Ca thì độ hòa tan kém hơn các hợp chất arsen hữu cơ, đặc biệt là arsen-acid fulvic. Các hợp chất của As+5 được hình thành theo phương thức này. As trong nước ngầm thường tập trung cao trong kiểu nước bicarbonat như bicarbonat Cl, Na, B, Si. Nước ngầm trong những vùng trầm tích núi lửa, một số khu vực quặng hóa nguồn gốc nhiệt dịch, mỏ dầu-khí, mỏ than, …thường giàu As. Thế oxy hóa khử, độ pH của môi trường và lượng kaloit giàu Fe3+ …, là những yếu tố quan trọng tác động đến quá trình oxy hóa - khử các hợp chất As trong tự nhiên. Những yếu tố này có ý nghĩa làm tăng hay giảm sự độc hại của các hợp chất As trong môi trường sống.



II.1.3. Độc học của arsen

II.1.3.1. Sự chuyển hóa sinh học của arsen

Trong cơ thể nhiều loài sinh vật có khả năng tích luỹ sinh học đối với arsenic và có thể xúc tác cho quá trình oxi hoá từ arsenite thành arsenat đồng thời cũng thúc đẩy sự tạo thành methyl arsines thông quá các quá trình sinh học. Sản phẩm methyl hoá arsenic được tạo thành bởi các vi khuẩn methogenic trong điều kiện hiếu khí.

Các hợp chất arsenic bị methyl hoá bởi vi khuẩn và nấm tạo thành dimethyl và trimethylarsine bởi một cơ chế liên quan tới sự thay thế của các nguyên tử oxygen bởi các nhóm methyl. Sự methyl hoá được xem như là một cơ chế giải độc đối với các vi sinh vật và đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá As từ trầm tích vào nước và không khí.

McBride và Wolfe cho rằng arsenat có thể bị chuyển hoá thành dimethylarsine bởi Methanobacterium dưới điều kiện hiếu khí. Methylarsonic được tạo thành từ sự methyl hoá arsenite có thể chuyển hoá qua các sản phẩm trung gian và cuối cùng bị khử thành dimethylarsine.



Trong điều kiện acid loài nấm Cadida humicola có thể chuyển hoá Arsenate thành Trimethylarsine. Một phần ít hơn của Trimethylarsine cũng được tạo thành bởi loài nấm này từ Arsenite, methylarsonate và dimethylarsinate. Những loài nấm có khả năng tạo ra sản phẩm trimethylarsine từ các hoá chất bảo vệ thực vật monomethylarsonate và dimethylarsinate bao gồm: Candida humicola, Gliocaninum roseum và một giống của Penicillium.

Sự methyl hoá của As đóng vai trò quan trọng bởi vì kết quả của quá trình là tạo ra các sản phẩm cực độc:



Hình II.3. Sự chuyển hóa trimethylarsine thành các sản phẩm cực độc

II.1.3.2. Độc học của arsen

Về mặt sinh học, As là một chất độc có thể gây một số bệnh trong đó có ung thư da và phổi. Mặt khác As có vai trò trong trao đổi nuclein, tổng hợp protit và hemoglobin. As ảnh hưởng đến thực vật như một chất cản trao đổi chất, làm giảm mạnh năng suất, đặc biệt trong môi trường thiếu photpho. Trong môi trường sinh thái, các dạng hợp chất As hóa trị (3) có độc tính cao hơn dạng hóa trị (5). Môi trường khử là điều kiện thuận lợi để cho nhiều hợp chất As hóa trị 5 chuyển sang As hóa trị 3. Trong các hợp chất của As trong môi trường thì arsenite đáng được quan tâm tới nhiều nhất bởi vì tính độc của nó cao hơn gấp 10 lần so với arsenate và hơn gấp 70 lần so với các dạng methyl hoá của nó, trong khi đó DMA, MMA ít độc hơn còn AB và AC lại gần như không độc.

Sự nhiễm độc As còn gọi là Arsenicosis xuất hiện như một tai họa môi trường đối với sức khỏe con người trên thế giới. Theo các nghiên cứu những người sống trên khu vực có hàm lượng As trong nước giếng khoan cao hơn 0,05 mg/l cho thấy tới 20% dân cư bị xạm da, dầy biểu bì và có hiện tượng ung thư da. Hiện chưa có phương pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc As.

Thông thường Arsen đi vào cơ thể con người trong một ngày đêm thông qua chuỗi thức ăn khoảng 1mg và được hấp thụ vào cơ thể qua đường dạ dày nhưng cũng dễ bị thải ra. Hàm lượng As trong cơ thể người khoảng 0.08-0.2 ppm, tổng lượng As có trong người bình thường khoảng 1,4 mg. As tập trung trong gan, thận, hồng cầu, homoglobin và đặc biệt tập trung trong não, xương, da, phổi, tóc. Hiện nay người ta có thể dựa vào hàm lượng As trong cơ thể con người để tìm hiểu hoàn cảnh và môi trường sống, như hàm lượng As trong tóc nhóm dân cư khu vực nông thôn trung bình là 0,4-1,7 ppm, khu vực thành phố công nghiệp 0,4-2,1 ppm, còn khu vực ô nhiễm nặng 0,6-4,9 ppm.

Sự xâm nhập, phân bố và lưu trữ của Arsenic cũng như các hợp chất của nó trong cơ thể người có thể hình dung theo sơ đồ sau:



Hình II.4. Sự xâm nhập của arsen và những hợp chất của nó trong cơ thể

Sự nhiễm độc As có thể phân loại thành các dạng nhiễm độc cấp tính và nhiễm độc mãn tính với các biểu hiện:



  • Ngộ độc As cấp tính : khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch đập yếu, bí tiểu và có thể tử vong .

  • Nhiễm độc As mãn tính: xuất hiện các đốm sẫm màu trên thân thể hay ở đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hóa da (thường xuất hiện ở tay, chân, phần cơ thể bị cọ sát nhiều hoặc tiếp xúc với ánh sáng nhiều), có thể gây đến hoại tử, rụng dần từng đốt ngón chân... cuối cùng sẽ có thể dẫn đến ung thư, đột biến gen và tử vong.

  • Sự nhiễm độc As mãn tính được phân làm bốn giai đoạn chính:

Giai đoạn tiền lâm sàng: chưa có biểu hiện tổn thương thực thể nhưng As có thể phát hiện được tại các mẫu nước tiểu và mẫu mô cơ thể.

Giai đoạn lâm sàng: sự ảnh hưởng suất hiện trên da, hay gặp nhất là cơ thể có bầm tím tay chân, trong trường hợp nặng có hiện tượng hóa sừng tại da ban tay, lòng bàn chân. Theo Tổ chức y tế thế giới – WHO thì giai đoạn này xuất hiện sau 5 đến 10 năm uống nước nhiễm thạch tín quá tiêu chuẩn.

Giai đoạn biến chứng: khi các triệu trứng lâm sàng càng trở nên trầm trọng hơn, gan thận và lách sưng to, cơ thể bị viêm giác mạc, viêm phế quản và đái tháo đường.

Giai đoạn cuối: Sự xuất hiện của bệnh ung thư (da, phổi...)

As(III) thể hiện độc tính của nó bằng sự tấn công vào nhóm –SH làm ức chế hoạt động của enzyme Dihydrolipoic acid protein là enzyme trong chu trình acid citric.

Mặt khác do có tính chất hóa học tương tự như photpho mà As cũng có thể gây tương tác xấu trong các quá trình sinh hóa có sự tham gia của photpho. Chẳng hạn trong sự tạo thành ATP (ademosine triphoglyphate) khi có mặt của As sẽ gây trở ngại trong quá trình tạo 1,3 – Diphosphoglycerate cho ra sản phẩm 1 – arseno – 3 – phosphoglycerate gây hiệu ứng xấu cho cơ thể:





II.1.4. Một số phương pháp xác định arsen

Những tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật nói chung và kỹ thuật phân tích nói riêng đã cho phép thu được những kết quả phân tích ngày càng chính xác từ một hệ thống đa dạng các phương pháp phân tích. Tùy vào nhu cầu phân tích, đối tượng cần phân tích cũng như điều kiện về trang thiết bị phòng thí nghiệm mà có thể lựa chọn được phương pháp phân tích thích hợp. Tương tự như vậy, để tiến hành phân tích định lượng As, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và một số các phương pháp định lượng As được biết như phương pháp hấp phụ nguyên tử, phương pháp phổ hấp thụ phân tử, phương pháp điện hoá, phương pháp kích hoạt nơtron – NAA, phương pháp sắc ký…



II.1.4.1. Phương pháp khối lượng

Xác định As dựa trên việc kết tủa As2S3 bằng dithioaxetamit trong môi trường axit HCl, hoặc H2SO4 hoặc HClO4 0,1N. Dung dịch chứa kết tủa được đun trên bếp cách thuỷ, lọc lấy kết tủa sấy khô ở 2000C đến khối lượng không đổi, rửa lại bằng nước cất và làm khô ở nhiệt độ 1700C. Cân kết tủa và tính hàm lượng As tương ứng. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng với mẫu có hàm lượng As lớn và phải thực hiện qua nhiều công đoạn.



II.1.4.2. Phương pháp phân tích thể tích

Xác định As dựa trên phản ứng oxi hoá khử: AsO32- + I2 + H2O -> AsO43- + 2I- + 2H+

Phản ứng phụ thuộc vào nồng độ H+, vì vậy để phản ứng xảy ra theo chiều thuận, phải thực hiện trong điều kiện dư NaHCO3 (dung dịch có pH = 8). Chất chỉ thị là hồ tinh bột. Phương pháp này cho phép xác định được hàm lượng As từ 0,1% đến vài chục phần trăm.

II.1.4.3. Phương pháp phân tích trắc quang

As trong dung dịch phân tích được khử về asin bằng natri hydroborat ở môi trường pH=6, khí asin được dẫn đi trong dòng N2 qua bình thuỷ tinh đựng chì axetat, sau đó được dẫn vào bình chứa thuốc thử bạc dietyldithiocacbamat, ở đó As sẽ tạo phức màu đỏ với bạc dietyl dithio cacbamat có bước sóng hấp thụ quang là 520nm. Trong phương pháp này sunfua các nguyên tố kim loại: crom, coban, đồng, thuỷ ngân,… có ảnh hưởng đến việc xác định As, song có thể loại trừ ảnh hưởng bằng cách dùng axetat chì để giữ lại khí sunfua. Ngoài ra, khi hàm lượng antimony lớn hơn 5mg/L cũng ảnh hưởng đến việc xác định As do hợp chất SbH3 cũng tạo ra trong quá trình tạo asin và cũng tạo phức màu đỏ bước sóng hấp thụ quang 510nm với bạc dithiocacbamat, vì vậy phương pháp này chỉ cho phép xác định As trong mẫu có hàm lượng antimony nhỏ. Độ nhạy và độ chính xác của phương pháp này tương đối cao, cho phép xác định cỡ 1mg/mL.



II.1.4.4. Phương pháp điện hoá-cực phổ Vol-ampe

Cường độ dòng phụ thuộc thế điện phân trong dung dịch và thế điện cực. Người ta tiến hành điện phân và đo cường độ dòng với một dãy dung dịch chuẩn biết trước nồng độ. Dựa vào đồ thị xác định được nồng độ chất phân tích khi biết cường độ dòng. Giá trị nửa thế sóng cho biết thành phần định tính, chiều cao sóng cho biết thành phần định lượng của chất phân tích. Phương pháp này có giới hạn phát hiện cỡ ng/mL.



II.1.4.5. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử ICP-AES

Khi nguyên tử ở trạng thái hơi, nhờ một nguồn năng lượng thích hợp như nhiệt, điện... để kích thích đám hơi nguyên tử tự do đó phát xạ, sau đó thu phân li toàn bộ phổ phát xạ để đánh giá thành phần mẫu phân tích. Có thể dùng phổ phát xạ để phân tích định tính, định lượng. Đây là phương pháp hiện đại cho độ nhạy và độ chính xác rất cao, nó tuỳ thuộc vào các loại thiết bị khác nhau, cho phép xác định lượng vết nguyên tố mà không cần làm giàu và một ưu điểm đặc trưng của phương pháp đó là cho phép phân tích hàng loạt các nguyên tố. Phương pháp này, năng lượng nhiệt của nguồn kích thích được quyết định bởi dòng điện cảm ứng trong cuộn tự cảm, năng lượng cao tần của máy phát HF. Vì vậy nhiệt độ ở plasma rất ổn định dẫn đến phép đo có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với nguồn hồ quang điện hay tia lửa điện. Kĩ thuật này có thể xác định As đến 0,02ng/mL.




tải về 1.52 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương