ĐỀ CƯƠng chi tiết môn hoc lịch sử nhà NƯỚc và pháp luậT


Quá trình hình thành nhà nước tư sản



tải về 331.57 Kb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích331.57 Kb.
1   2   3   4   5

Quá trình hình thành nhà nước tư sản

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình nhà nhà nước tư sản


  • Điều kiện kinh tế: cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, phương thức sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời. Quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, những phát kiến khoa học lỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vự: nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời.

  • Điều kiện chính trị: mâu thuẫn giai cấp trong xã hội đã gay gắt chín muồi, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản- đại diện chp phương thức sản xuất tiên tiến với quý tộc phong kiến.

  • Điều kiện tư tưởng: phong trào văn hoá phục hưng, cải cách tôn giáo và sự xuất hiện của các học thuyết dân chủ tư sản trở thành hệ tư tưởng chung.

Những tiền đề này chin muồi sẽ xuất hiện hang loạt các cuộc cách mạng tư sản.
    1. Diễn biến và kết quả các cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới


  • Nước Anh

Hình thức chính thể của Anh sau cách mạng tư sản là quân chủ hạn chế (quân chủ đại nghị)

  • Hoa Kỳ

Sau cách mạng tư sản, hình thức chính thể của Hoa Kỳ là cộng hoà tổng thống

  • Nước Pháp

Sau cách mạng tư sản, hình thức chính thể của Pháp là cộng hoà đại nghị
  1. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản

- Chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh.

- Chủ nghĩa tư bản thời kỳ lũng đoạn nhà nước (thời kỳ độc quyền)

- Chủ nghĩa tư bản thời kỳ hiện đại

  1. Các đặc trưng cơ bản của nhà nước tư sản

3.1 Đặc trưng của nhà nước thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh


  • Nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế mà để cho nền kinh tế tự do vận động theo quy luật thị trường

  • Hình thức chính thể phổ biến nhất của các quốc gia sau cách mạng tư sản là quân chủ lập hiến.

  • Đây là thời kỳ “hoàng kim” của Nghị viện tư sản

3.2 Đặc trưng của nhà nước trong thời kỳ CNTB lũng đoạn, hiện đại


  • Nhà nước tư bản độc quyền trực tiếp giữ các chức vụ quan trọng của bộ máy nhà nước.

  • Nhà nước tư sản thực hiện chức năng quản lý kinh tế

  • Chức năng đối ngoại của nhà nước tư sản độc quyền cũng khác thời kỳ trước về đối tượng và phương pháp.
  1. Pháp luật tư sản

    1. Phân loại hệ thống pháp luật tư sản


Căn cứ vào cách thức hình thành, cơ cấu của hệ thống pháp luật, pháp luật tư sản được chia thành hai hệ thống chính: hệ thống pháp luật Anh -Mỹ (án lệ) và hệ thống pháp luật lục địa (luật thực định).




Hệ thống pháp luật lục địa

Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ

Nguồn

Các bộ luật mới được xây dựng

Tiền lệ pháp và bộ luật, nhưng các bộ luật này không được xây dựng mới mà tư sản hoá những bộ luật phong kiến

Nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ tài sản

Dựa trên những nguyên tắc của pháp luật La Mã

Không theo các nguyên tắc của pháp luật La Mã

Cơ cấu của hệ thống pháp luật

Chia pháp luật thành công pháp và tư pháp.

Không phân chia pháp luật thành công pháp và tư pháp
    1. Một số ngành luật cơ bản của pháp luật tư sản


  • Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh

Luật hiến pháp: Ban đầu, Hiến pháp chỉ có 3 nhóm chế định cơ bản quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Luật dân sự: thừa nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân và có nội dung chủ yếu là bảo vệ quyền tư hữu, điều chỉnh các văn bản hợp đồng, hôn nhân, thừa kế…Thời kỳ này đã xuất hiện chế định pháp nhân và công ty cổ phần tư sản.

Luật hình sự: so với pháp luật phong kiến, luật hình tư sản có những tiến bộ lớn: chống lại sự độc đoán xét xử của vua chúa; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; không quy định về tội chống tôn giáo… Nhưng về bản chất, luật hình tư sản là cơ sở pháp lý để đàn áp nhân dân lao động và các thế lực chống đối khác. Từ thế kỷ XIX, hình thức án treo bắt đầu được áp dụng ở một số nước.

Luật tố tụng: quyền tư pháp được tách ra khỏi quyền hành pháp. Tố tụng được tách thành tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Một số nguyên tắc tiến bộ đã được hình thành trong thời kỳ này như: nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, nguyên tắc suy đoán vô tội, bị can có quyền được bào chữa, trách nhiệm buộc tội thuộc về Ủy viên công tố, bản án được quyết định bởi đa số Hội đồng xét xử, không ai có quyền kháng cáo đối với việc trắng án



  • Thời kỳ tư bản lũng đoạn nhà nước và thời kỳ hiện đại.

Luật hiến pháp: Hiến pháp ghi nhận mối tương quan lực lượng xã hội giữa giai cấp tư sản và nhân dân lao động. Trước sự đấu tranh của nhân dân lao động, giai cấp tư sản buộc phải nhượng bộ thông qua việc ghi nhận vào hiến pháp một số điều khoản có nội dung dân chủ hơn thời kỳ trước.

Luật dân sự tư sản: Có những chế định mới và quan trọng, như: quy định về quyền sở hữu tư bản nhà nước, điều chỉnh quan hệ quan hệ sở hữu tư bản nhà nước với mục đích vừa mang lại lợi ích cho nhà nước, vừa mang lại lợi nhuận tối đa cho tư bản độc quyền; quy định về các đạo luật chống Tơ-rớt, do phong trào đấu tranh của quần chúng nên đa số các nước tư sản ban hành những đạo luật chống Tơ-rớt (luật chống độc quyền); quy định về luật lao động…

Luật Hình sự: các nhà nước tư sản ban hành nhiều đạo luật đặc biệt về tội chính trị.

Luật tố tụng: Trong một thời gian dài (đặc biệt trong thời kỳ phát xít), chế định dự thẩm, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền của bị cáo trước tòa – những chế định mang tính dân chủ tư sản bị hạn chế hoặc bãi bỏ. Sau chiến tranh thế giới lần II, những chế định này dần dần được phục hồi.



    1. Nhận xét chung về pháp luật tư sản

4.3.1 Pháp luật tư sản thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh

  • Kỹ thuật lập pháp với việc phân chia thành các ngành luật các chế định và các khái niệm pháp lý, pháp điển hóa… đã có sự tiến bộ nhảy vọt.

  • Pháp luật đã đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển, trở thành một phương tiện quan trọng nhất của nhà nước tư sản để quản lý xã hội.

  • Hệ thống pháp luật tư sản vẫn chưa đầy đủ và hoàn thiện. Pháp luật tư sản thể hiện bản chất của nó là công cụ để bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp tư sản.

4.3.2 Pháp luật tư sản thời kỳ CNTB lũng đoạn, hiện đại

  • Pháp luật trong giai đoạn này góp phần vào việc điều tiết kinh tế TBCN xuất phát từ chức năng quản lý kinh tế của nhà nước tư bản.

  • Các chế định mang tính dân chủ tư sản từng bước được hoàn thiện, phát triển. Pháp luật tư sản đang ngày càng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế văn hóa xã hội, vừa giải quyết các vấn đề mang tính quốc tế như môi trường, tội phạm quốc tế, thất nghiệp…

  • Phần Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ 1:

NHÀ NƯỚC VIỆT NÀM TỪ NGUỒN GỐC CHO ĐẾN THẾ KỶ THỨ X

  1. Sự hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam

    1. Các yếu tố dẫn đến sự hình thành nhà nước đầu tiên Việt Nam

      1. Yếu tố kinh tế

Khi bước vào giai đoạn đồ đồng, kinh tế bắt đầu phát triển. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi: nhiều sông, nhiều đồng bằng, khí hậu nhiệt đới gió mùa... đã làm cho kinh tế nông nghiệp vươn lên đóng vai trò chủ đạo.

  • Các ngành kinh tế khác tiếp tục phát triển như:

  • Săn bắt, hái lượm vẫn tiếp tục được duy trì, vẫn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tìm kiếm nguồn thức ăn cho con người.

  • Trồng trọt và chăn nuôi cũng ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của các ngành nghề khác góp phần làm tăng thêm năng suất lao động cho xã hội.

  • Thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến mạnh mẽ.

  • Hoạt động trao đổi, mua bán các sản phẩm làm ra ngày càng gia tăng thúc đẩy sự phát triển của thương nghiệp.

Kinh tế có nhiều bước chuyển biến sâu sắc, sản phẩm lao động làm ra ngày càng nhiều, nhu cầu tư hữu bắt đầu xuất hiện, từ đó làm thay đổi bộ mặt của xã hội.

      1. Yếu tố xã hội

    • Về hôn nhân – gia đình: Sự xuất hiện của các gia đình nhỏ làm cho quan hệ huyết thống trở nên lỏng lẻo, là cơ sở để làm thay đổi tổ chức của xã hội, phá vỡ tính khép kín vốn thuộc đặc trưng cơ bản của công xã thị tộc.

    • Về tổ chức xã hội: Công xã nông thôn thay thế cho công xã thị tộc. Sự tan rã của công xã thị tộc như là một quy luật tất yếu khi mà những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nó không còn.

    • Về sự phân hóa xã hội

Xã hội phân chia thành 3 tầng lớp khác nhau: tầng lớp quý tộc, tầng lớp nông dân tự do, tầng lớp nô tì.

Thời đại Hùng Vương mâu thuẫn diễn ra chậm chạp, xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, cho đến cuối thời đại Hùng Vương mâu thuẫn vẫn chưa đến mức gay gắt không thể điều hòa được.



      1. Yếu tố trị thủy và chống ngoại xâm

Với đặc thù kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, nhu cầu trị thủy - thủy lợi trở thành vô cùng cấp thiết, cần phải được tiến hành thường xuyên.

Chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc diễn ra ngày càng mạnh mẽ do nhu cầu thôn tính lẫn nhau. Ngoài ra, sự đe dọa xâm lược từ bên ngoài của quốc gia khác cũng rất lớn. Do đó, đòi hỏi sự tập trung sức mạnh và sự đoàn kết của con người.

Hai yếu tố trên đòi hỏi một tổ chức quản lý mới đồ sộ hơn xuất hiện. Lúc ban đầu tổ chức này chỉ mang tính chất xã hội, xuất phát từ lợi ích của cả cộng đồng, nhưng dần dần với thời gian nó trở thành công cụ của những người được giao phó chức năng quản lý, trở thành bộ máy mang tính quyền lực, được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế và nhà nước ra đời.


    1. Quá trình hình thành nhà nước

      1. Nhà nước trong trạng thái đang hình thành – nhà nướ Văn Lang

Vào giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương, các Liên minh bộ lạc bắt đầu hình thành trước yêu cầu xã hội cần có một tổ chức mới rộng lớn hơn để giải quyết các vấn đề chung của xã hội.

Khi kinh tế ngày càng phát triển lớn mạnh, tổ chức quản lý xã hội vì nhu cầu chung ngày càng nắm nhiều quyền lực, chuyển thành quyền lực nhà nước.

Vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN, đã có mầm móng phôi thai của Nhà nước – Nhà nước trong trạng thái đang hình thành. Tổ chức đó đứng đầu là vua Hùng Vương, dưới vua là Lạc hầu và cả nước được chia thành 15 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là Lạc tướng, dưới Bộ là các Công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ chính.


      1. Nhà nước Âu Lạc

Sự hình thành nhà nước Âu Lạc gắn liền với vai trò của Thục Phán trong việc tổ chức chống chiến tranh xâm lược của nhà Tần Trung Quốc. Thục Phán lên làm vua, xây dựng kinh đô ở Cổ Loa và xưng là An Dương Vương.

Tổ chức bộ máy nhà nước Âu Lạc cũng khá đơn giản: Đứng đầu nhà nước là vua Thục Phán, dưới vua có Lạc Hầu, cả nước chia làm 15 bộ do Lạc tướng đứng đầu; dưới bộ là các Công xã nông thôn do Bồ chính và Hội đồng công xã lãnh đạo.

  1. Nhà nước Việt Nam thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

    1. Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ

      1. Giai đoạn từ năm 179 TCN đến năm 39

Về cơ bản, các triều đại đều thực hiện cách thức quản lý và chính sách cai trị khá giống nhau đó là: tổ chức chính quyền còn khá đơn giản, lỏng lẻo, cho thấy chính sách cai trị dùng “Người Việt trị người Việt” đã được áp dụng ở giai đoạn này.

Vì đây là giai đoạn mà chính quyền đô hộ mới xác lập sự ảnh hưởng trên phần thổ nước ta, vì vậy sự phản kháng của dân chúng ra rất quyết liệt. Do đó, thực hiện chính sách mềm dẻo, tranh thủ và lôi kéo sự ủng hộ của quý tộc người Việt, nhằm hạn chế sự chống đối của chính quyền và cư dân bản địa là chính sách hợp lý của Trung Quốc ở giai đoạn đầu.



      1. Giai đoạn từ sau năm 43

Sau khi dập tan cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Đông Hán tiếp tục trở lại cai trị nước ta. Về cơ bản tổ chức chính quyền đô hộ từ sau năm 43 có các đặc trưng sau:

Tổ chức bộ máy đã củng cố thiết chế một cách chặt chẽ hơn, quan lại người Hán đã cai trị trực tiếp đến cấp huyện (cấp gần dân nhất). Vì sau thất bại trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng, các triều đại Trung Quốc nhận thức được rằng nếu cai trị một cách lỏng lẻo, không can thiệp sâu và mạnh vào quốc gia bị đô hộ, có thể dẫn đến việc mất khả năng cai trị, mất chính quyền đô hộ.

Ngoài ra, chính quyền đô hộ đã can thiệp ngày càng chặt chẽ hơn, bằng cách sử dụng chính sách: “chia nhỏ để trị” – chia lãnh thổ nước ta ra làm nhiều đơn vị hành chính lãnh thổ trong một cấp. Chính việc chia nhỏ này đã tăng cường khả năng quản lý, kiểm sát của chính quyền đô hộ đối với cư dân bản địa, đồng thời mở rộng phạm vi ảnh hưởng cũng như tăng cường sự lệ thuộc của dân ta vào chính quốc.


    1. Tổ chức chính quyền độc lập tự chủ

CHUYÊN ĐỀ 2:

TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN (X - XIX)

    1. Tổ chức bộ máy nhà nước thời Ngô – Đinh – Tiền Lê (939 – 1009)

    1. Nhà Ngô (939 – 965)

Đứng đầu tổ chức bộ máy nhà nước là Vua, dưới Vua là đội ngũ quan lại. Tuy nhiên, tổ chức cụ thể như thế nào thì không rõ, chỉ biết rằng vào thời kỳ này về mặt tổ chức bộ máy nhà nước đã “đặt trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục”.

Ở Địa phương, vẫn giữ nguyên cách thức tổ chức các cấp chính quyền theo mô hình của họ Khúc trước đó, tức là chia cả nước ra làm 5 cấp: Lộ - Phủ - Châu – Giáp – Xã.



    1. Nhà Đinh (968 – 980)

Năm 968 sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế đặt tên nước Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình.

Hoàng đế: là người đứng đầu bộ máy nhà nước.

Các quan lại trong triều: gồm có một số chức quan sau đây:

Định quốc công: là quan đầu triều, có vai trò như Tể tướng.

Đô hộ phủ sĩ Sư: đây là chức quan giữ việc hình án ở kinh đô, tức chức danh đứng đầu việc tư pháp trong cả nước.

Thập đạo tướng quân: chức quan giữ vai trò là tổng chỉ huy quân đội cả nước bao gồm 10 đạo.

Đô uý: trông coi việc quân sự;

Chi hậu nội nhân: là chức quan phụ trách coi việc tuần phòng ở cung cấm.

Tăng thống: là quan đứng đầu các tăng đạo - đứng đầu Phật giáo trong cả nước.

Tăng lục: là quan phụ trách Phật giáo cùng với Tăng thống;

Sùng chân uy nghi: là quan phụ trách về Đạo giáo.


    1. Nhà Tiền Lê (980 – 1009)

Vào thời kỳ này, đứng đầu nhà nước vẫn là vua, tuy nhiên triều đình trung ương xuất hiện nhiều chức quan mới:

Tổng quản tri quân dân sự: là viên quan đầu triều

Thái sư: là quan đại thần, có chức năng cố vấn cao cấp cho nhà vua

Thái úy: Là quan võ thuộc một trong số các đại thần của triều đình.2

Nha nội đô chỉ huy sứ: cũng là một quan võ.

  1. Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý – Trần – Hồ (1010 -1407)

    1. Nhà Lý (1010 – 1225)

Vua: là người đứng đầu, nắm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước

Các quan đại thần gồm: Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo); Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo); Thái uý; Thiếu uý.

Các cơ quan chuyên môn: có chức năng giúp vua quản lý công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn khác nhau, chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhà vua, gồm:



Hàn lâm viện (Chức năng: Soạn thảo chiếu, biểu cho nhà vua);

Quốc tử giám (Chức năng: đào tạo Nho sĩ và trông coi Văn miếu) ;

Khu mật sứ: (Chức năng: bàn bạc việc triều chính thuộc lĩnh vực dân sự với vua);

Một số chức quan khác như: Quan văn: Tả hữu tham tri, Tả hữu Gián nghị đại phu, Viên ngoại lang… Quan võ: Đô thống, Nguyên soái, Đại tướng, Thống tướng, Thượng tướng…; Chức quan về tôn giáo: Quốc sư, Tăng thống, Tăng lục, Tăng chính…

Ở địa phương: cả nước chia thành 24 lộ và trại. Dưới lộ - trại là phủ - châu; hương – xã – sách.

    1. Nhà Trần - Hồ (1225 – 1407)

Thời nhà Trần, tổ chức bộ máy nhà nước theo hình thức chính thể quân chủ trung ương tập quyền tiếp tục được củng cố, tính chất quý tộc – thân vương ngày càng được tăng cường. Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương vào thời nhà Trần – Hồ như sau:

Vua: “Chính thể lưỡng đầu” tồn tại một cách phổ biến dưới các triều vua nhà Trần và cả nhà Hồ.

Các quan đại thần: Ngoài những chức quan đã có từ thời nhà Lý, các quan đại thần thời nhà Trần còn có thêm một số chức quan mới như Tả, Hữu tướng quốc, Tam Tư (Tư đồ, Tư mã, Tư không).

Các cơ quan chuyên môn, bao gồm:



Ngự sử đài: là cơ quan có chức năng giúp vua kiểm tra hoạt động của đội ngũ quan lại, gồm có 3 viện nhỏ: Đài viện, Sát viện và Điện viện.

Bình Bạc ty: là cơ quan xét xử việc kiện tụng ở kinh thành, được thành lập năm 1230.

Thẩm hình viện: là cơ quan có chức năng định tội.

Tôn chính phủ: có chức năng coi giữ việc sổ họ hàng tôn thất – soạn thảo gia phả cho nhà vua, đứng đầu là quan Đại tôn chính, do người trong tôn thất phụ trách.

Tư thiên giám: phụ trách việc làm lịch, xem thiên văn, dự báo thời tiết, suy việc lành dữ.

Tam ty viện: Phụng Tuyên, Thanh Túc, Hiến Chính, chức năng của các viện cụ thể như thế nào thì không rõ.

Khu mật viện: được đổi từ Khu mật sứ thời nhà Lý, có chức năng tham dự, bàn bạc việc triều chính. Đứng đầu có Đại sứ, giúp việc có Phó sứ.

Quốc học viện: có chức năng chuyên đào tạo sĩ tử và quan lại.

Quốc sử viện: có chức năng biên chép sử cho triều đình. Đứng đầu là Quốc sử viện giám tu.

Thái y viện: là cơ quan có chức năng chăm sóc sức khoẻ cho nhà vua, hoàng tộc và triều đình.

Ở chính quyền địa phương có hai giai đoạn phát triển là Giai đoạn từ năm 1226 đến năm 1396Giai đoạn từ 1397 đến 1400.



  1. Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Sơ (1428 – 1527)

    1. Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn đầu Lê sơ

Ở trung ương bộ máy nhà nước được tổ chức như sau:

Vua: Tất cả quyền hành tối cao của bộ máy nhà nước đều tập trung vào vua.

Các quan đại thần, gồm Tả, Hữu Tướng quốc, Tam thái, Tam thiếu, Tam tư, Thái uý, Thiếu uý.

Các cơ quan có chức năng cố vấn cho Vua trong việc chính sự.

Các bộ: Bộ là cơ quan chuyên môn quan trọng giúp Nhà Vua trong việc quản lý đất nước. Thời kỳ đầu có 3 bộ, đến thời Lê Nghi Dân lập đủ 6 bộ.

Các cơ quan có chức năng văn phòng.

Các cơ quan có chức năng tư pháp, giám sát.

Các cơ quan chuyên môn khác.

Ở địa phương, chính quyền chia thành các cấp: đạo; lộ - trấn - phủ; châu; huyện; xã.

    1. Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn từ Lê Thánh Tông trở về sau

      1. Chính quyền trung ương

Vua: nắm toàn bộ quyền lực với tính tập quyền ngày càng cao.

Các quan đại thần: thực hiện chính sách bãi bỏ một số chức quan đại thần có quyền lực lớn trước đó, đồng thời không cho quan đại thần kiêm nhiêm để hạn chế sự lạm dụng quyền lực.

Các cơ quan có chức năng văn phòng cho nhà vua: gồm Hàn lâm viện (Sùng văn quán, Chiêu văn Quán, Tú Lâm cục); Đông các viện; Trung thư giám; Bí thư giám; Hoàng môn tỉnh. Các cơ quan này giúp việc đắc lực cho vua trong việc soạn thảo, ban hành, quản lý văn bản của vua.

Lục bộ: gồm 6 bộ được tổ chức quy củ với đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; với cơ cấu tổ chức rõ ràng.

Bộ Lại: Văn tuyển thanh lại ty; Thuộc công thanh lại ty

Bộ Hộ: Bản tịch thanh lại ty; Đô chi thanh lại ty

Bộ Binh: Vũ khố thanh lại ty; Quân vụ thanh lại ty

Bộ Lễ: Nghi chế thanh lại ty; Từ chế Thanh lại ty

Bộ Hình: khâm hình, Thận hình, Minh hình, Tường hình, Chính hình

Bộ Công: Doanh thiện thanh lại ty, Công trình thanh lại ty.

Lục tự gồm: Hồng lô tự: Tự khanh, Tự thiếu khanh; Thượng bảo tự; Thái thường tự; Quang lộc tự; Thái bộc tự; Đại lý tự.

Các cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát gồm 2 hệ thống cơ quan:

Ngự sử đài giúp vua giám sát chung toàn bộ quan lại trong cả nước.

Lục Khoa gồm (Lại khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Hộ khoa, Công khoa): giúp vua giám sát, kiểm tra Lục Bộ, mỗi Khoa giám sát một Bộ tương ứng.

Các cơ quan chuyên môn khác.

Các cơ quan có chức năng về phát triển nông nghiệp.


      1. Chính quyền địa phương

Được vua chú trọng cải cách nhằm giúp chính quyền địa phương quản lý hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo sự tập trung quyền lực vào trung ương. Trong đó, hai cấp là cấp đạo (cấp cao nhất) và cấp xã (cấp gần dân nhất) được vua Lê Thánh Tông đặt ra nhiều chính sách cải cách.

  1. Tổ chức bộ máy nhà nước thời nội chiến

Đây là thời kỳ quốc gia Việt Nam rơi vào tình trạng “nội chiến” triền miên, với sự tồn tại các các tập đoàn phong kiến.

  • Bắc triều - Nhà Mạc (1527 – 1592)

  • Nam triều vua Lê- chúa Nguyễn (1533 – 1789)

  • Chính quyền Đàng ngoài vua Lê - chúa Trịnh (1545 – 1786)

  • Chính quyền Đàng trong - chúa Nguyễn (1558– 1777) – Từ Quảng Bình cho đến Bình Định

  • Triều đại Tây Sơn (1778 – 1802)

  1. Tổ chức bộ máy nhà nước thời Nguyễn (1802 – 1884)

    1. Chính quyền trung ương

Hoàng đế: Đế quyền nhà Nguyễn có tính tuyệt đối, chế độ nhà Nguyễn phát triển đến

Hội đồng đình thần: Giai đoạn đầu là cơ quan tư vấn tối cao của triều đình có nhiệm vụ đưa ra các quyết nghị nhưng về sau chỉ còn chức năng thảo luận và đưa ra những kiến nghị về các vấn đề chính trị, hành chính, tư pháp.

Quan đại thần gồm: Tứ trụ đại thần; Cửu khanh; Phụ chính đại thần

Nội các: là trung tâm thông tin, nắm bắt toàn bộ tình hình hành chính của quốc gia báo cáo lên vua.

Cơ mật viện: phụ trách các việc quan trọng về quân, dân sự.

Lục bộ: Lục Bộ là cơ quan giúp vua quản lý hành chính trong phạm vi toàn quốc. Lục Bộ thành lập năm 1802, từng bước củng cố và ngày càng hoàn thiện.

Bộ Lại: Phụ trách việc tuyển bổ, thuyên chuyển quan văn, phong tước, phong tặng, giữ phép khảo sát niên khóa; thăng thưởng phẩm trật và quan hàm.

Bộ Hộ: Cân bằng giá trong việc phát ra, thu vào để điều hòa nguồn của cải nhà nước, phụ trách kho tàng, đinh điền, thuế khóa, tiền tệ, hàng hóa.

Bộ Lễ: Phụ trách lễ nghi, triều hội, giáo dục, khoa cử, ngoại giao.

Bộ Binh: phụ trách việc bổ nhiệm, tuyển dụng các chức võ quan; tuyển mộ binh lính, điều quân, lập đồn; tra xét công, tội; lập sổ quân bạ.

Bộ Hình: phụ trách tư pháp, xét xử tội nặng (tử tội), phúc thẩm các nghi án, xếp đặt lao ngục, chế độ tù phạm.

Bộ Công: coi giữ thợ thuyền, xây dựng thành trì, lăng tẩm, đồn lũy cầu đường, đóng tàu thuyền, sửa chữa cung điện, kho tàng.

Các cơ quan chuyên môn:



Cơ quan phục vụ hoàng tộc: Nội phủ vụ; Thái bộc tự; Tôn nhân phủ; Thái thường tự; Quang lộc tự; Thái y viện; Xứ thị vệ; Ty cẩn tín.

Các cơ quan văn hóa giáo dục: Quốc tử giám; Hàn lâm viện; Khâm thiên giám; Quốc sử quán; Viện tập hiền Thượng bảo tự; Hồng lô tự.

Cơ quan giao thông, thông tin liên lạc: Bưu chính ty; Thông chính sứ ty

Cơ quan kho tàng, quân nhu, vận tải:Thương trường; Mộc thương; Vũ khố; Kho thuốc nổ và diêm tiêu; Ty tào chính.

Cơ quan giám sát và cơ quan tư pháp

Cơ quan giám sát gồm (1) Đô sát viện: Là cơ quan giám sát toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ trung ương đến địa phương. Năm 1832 triều Nguyễn đặt Đô sát viện; Đô sát viện được tổ chức một cách quy mô và hệ thống từ trung ương xuống địa phương; (2) Lục Khoa: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công: Đứng đầu mỗi Khoa, nhà Nguyễn đặt một quan - Cấp sự trung; (3) Chế độ kinh lược sứ: Là chế độ thanh tra đặc biệt do Vua thành lập để thanh tra đối với các tỉnh, phủ, huyện. Đối tượng bị thanh tra chủ yếu là chính quyền địa phương. Thông thường, những trường hợp có chiến tranh, mất mùa, thiên tai địch họa, hoặc quan chức địa phương bị người dân kêu ca oán thán, mất lòng tin của nhân dân…

Cơ quan tư pháp: Dưới Vua quyền tư pháp từ năm 1802 - 1819 được quy định như sau: (1) Bộ Hình: Là cơ quan chuyên trách về hình án đặt tại Kinh đô, do Thượng thư đứng đầu, có nhiệm vụ “duyệt lại những tội nặng, án ngờ, xét kĩ những tù giam ngục cấm, cùng là coi việc hình danh pháp luật”; (2) Công đồng: Là cơ quan phúc thẩm tối cao dưới quyền của Hoàng đế. Tất cả những bản án do các Nha môn địa phương tuyên xử mà đương sự không tuân phục, đều có quyền khiếu nại lên Công đồng.

    1. Tổ chức chính quyền địa phương

      1. Tổ chức chính quyền địa phương từ năm 1802 đến 1830 gồm các cấp:

  • Cấp thành: gồm 2 Thành là Bắc thành được thành lập năm 1802 và Gia Định thành được thành lập năm 1808.

  • Cấp trấn- dinh

  • Cấp Phủ- huyện (châu)

  • Cấp tổng- xã

Chính quyền địa phương giai đoạn này thực hiện chính sách tản quyền với trung ương.

Chính quyền thể hiện rõ tính hành chính – quân sự.

Đây là mô hình tạm thời để khắc phục hậu quả sau chiến tranh.


      1. Tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn 1831- 1884 gồm các cấp:

  • Cấp tỉnh.

  • Cấp phủ - huyện – châu.

  • Cấp tổng – xã.

Chính quyền giai đoạn này có nhiều thay đổi so với giai đoạn đầu.

Cấp thành – quyền lực lớn bị bãi bỏ.

Các cấp hành chính được tổ chức gọn nhẹ, thống nhất trong phạm vi toàn quốc.


Каталог: hcmulaw -> images -> stories -> dhluat -> k-luathanhchinh


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương