ĐỀ CƯƠng chi tiết môn hoc lịch sử nhà NƯỚc và pháp luậT



tải về 331.57 Kb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích331.57 Kb.
1   2   3   4   5
    Навигация по данной странице:
  • Phương Tây

Phương Đông


Ai Cập

Lịch sử phát triển của nhà nước Ai Cập được các sử gia chia thành 4 thời kỳ: Tảo vương quốc; Cổ vương quốc (thiên niên kỷ III – II TCN) đây là thời kỳ hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ Ai Cập; Trung vương quốc (thế kỷ XX đến thế kỷ XVI TCN) đây là thời kỳ vững mạnh nhất của nhà nước Ai Cập; Tân vương quốc. Năm 225 TCN, Ai Cập bị Ba Tư xâm lược. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập chấm dứt.

Lưỡng Hà

Xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ thứ III TCN, với sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ của người Xume như: Ua, Êriđu, Lagash… Khoảng đầu thế kỷ XXIII TCN, miền nam Lưỡng Hà thống nhất với sự cai trị của người Xêmit, đặt tên nước là Accat. Vào thế kỷ XXI – XX TCN, người Xume giành lại được quyền thống trị và thành lập một quốc gia thống nhất là vương quốc Ua. Cuối của thế kỷ XX TCN, Lưỡng Hà bị phân hoá thành những quốc gia nhỏ. Đầu thế kỷ XIX TCN, người Amôrit thống trị ở Lưỡng Hà và thành lập vương quốc Babilon, đây là thời kỳ cực thịnh nhất của Lưỡng Hà, đặc biệt dưới triều đại của vua Hammurapi. Sau khi Babilon bị diệt vong, Lưỡng Hà bị các tộc người bên ngoài thống trị. Giữa thế kỷ thứ VII TCN, nhà nước Babilon được khôi phục dưới tên gọi vương quốc Tân Babilon và tồn tại trong gần 1 thế kỷ. Năm 538 TCN, Lưỡng Hà bị Ba Tư thôn tính.

Ấn Độ

Khoảng đầu thiên niên kỷ III đến giữa thiên niên kỷ thứ II TCN, nền văn minh Harappa và Môhenjô-Đarô xuất hiện ở lưu vực sông Ấn. Lúc này, dân cư là người Đravida đang sống trong quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy để chuyển sang xã hội có nhà nước. Nửa sau thiên niên kỷ thứ II TCN, cùng với sự lan rộng của sa mạc Thar là sự thiên di ồ ạt của người Arya (tộc người nói ngôn ngữ Ấn Âu) đã làm cho nền văn minh sống Ấn bị suy tàn và dần chuyển sang nền văn minh sông Hằng. Người Aryan thành lập nhiều tiểu quốc ở đồng bằng sông Hằng. Đến khoảng thế kỷ thứ VI TCN, vương quốc Magađa triển hùng mạnh và thống nhất miền bắc Ấn Độ. Cuối thế kỷ thứ IV TCN, Chanđa Grupta lãnh đạo nhân dân ở đồng bằng sông Ấn thực hiện cuộc chiến chống lại quân xâm lược của Alechxăngdrơ (thủ lĩnh người Maxêđônia) và lật đổ sự thống trị của vương quốc Magađa, thành lập vương tiều Môria, một vương triều hưng thịnh nhất ở Ấn Độ.



Từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ III, Ấn Độ rơi vào tình trạng phân quyền cát cứ. Đến thế kỷ IV, vương triều Guptaxuất hiện và đánh dấu sự kết thúc của chế độ chiếm hữu nô lệ, chuyển sang chế độ phong kiến ở Ấn Độ.

Trung Quốc

Đầu thiên niên kỷ thứ III TCN, Trung Quốc bước vào giai đoạn dân chủ quân sự, là giai đoạn quá độ từ công xã thị tộc sang xã hội có giai cấp. Cuối thiên niên kỷ thứ III TCN, vương triều nhà Hạ được thành lập và mở đầu cho sự xuất hiện của nhà nước Trung Quốc.

Năm 1711 TCN, vương triều nhà Thương lật đổ nhà Hạ. Năm 1066 TCN, vương triều nhà Chu lật đổ nhà Thương. Nhà Chu thực hiện chính sách phân phong đất đai cho con cháu của mình làm chư hầu. Lịch sử nhà Chu được chia thành hai thời kỳ là thời kỳ Tây Chu (1066 – 770 TCN) và thời kỳ Đông Chu (771 – 256 TCN). Thời kỳ Đông Chu lại được chia thành 2 giai đoạn: Xuân Thu (771 – 475 TCN), Chiến Quốc (475 – 256 TCN).


    1. Phương Tây


Hy Lạp

Đầu thiên niên kỷ thứ II TCN, nền văn minh tối cổ Cret – Myxen xuất hiện ở miền nam bán đảo Bankan. Thế kỷ XXI TCN, người Hy Lạp từ phương bắc tấn công và tàn phá nền văn minh tối cổ Cret – Myxen, xã hội quay về thời kỳ mạt kỳ của chế độ công xã nguyên thủy, gọi là thời kỳ Home. Thế kỷ IX – VIII TCN, các quốc gia thành bang được thành lập và tồn tại đến khoản thế kỷ thứ IV TCN, nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ thành bang. Khi người Makedonia tấn công, các thành bang ở Hy Lạp bị thất thủ, toàn bộ các thành bang bị vương quốc Makedonia thống trị, nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ Makedonia. Đến thế kỷ II TCN, toàn bộ đất đai của Hy Lạp đều thuộc quyền cai trị của nhà nước La Mã.

La Mã

Vào thế kỷ XIII TCN, xã hội La Mã đang tồn tại trong giai đoạn công xã nguyên thủy mạt kỳ. Trên đồng bằng Latium là nơi sinh sống của 3 bộ lạc, gọi họ là người Latinh. Mỗi bộ lạc có 10 bào tộc (Curi). Mỗi Curi lại chia thành 10 thị tộc. họ xây dựng tường thành để bảo vệ cuộc sống của mình và đặt tên cho nó là Rôma, chính họ sau này là người La Mã và Thế kỷ VI TCN, với cuộc đấu tranh giữa quý tộc Etruscan và bình dân Plebs cùng với chiến thắng trong cuộc đấu tranh đánh đuổi người giữa người Etruscan của dân tộc La Mã, nhà nước Lã Mã được hình thành và tồn tại dưới chế độ cộng hòa, nên gọi thời kỳ này là thời kỳ cộng hòa. Thời kỳ cộng hòa tồn tại đến thế kỷ I TCN thì chế độ cộng hòa dần bị thay thế bời chế độ quân chủ chuyên chế. Thời kỳ đế chế của La Mã tồn tại đến thế kỷ thứ V mới sụp đổ và bị người Giecmanh cai trị và chuyển sang thời kỳ phong kiến.



  1. Chế độ xã hội

    1. Chế độ xã hội ở phương Đông cổ đại

  • Kết cấu giai cấp

- Giai cấp thống trị: quý tộc chủ nô

- Giai cấp bị trị: nông dân công xã, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ



  • Quan hệ giai cấp

Mâu thuẫn chủ đạo trong xã hội: quý tộc chủ nô và nông dân công xã

    1. Chế độ xã hội ở phương Tây cổ đại

  • Kết cấu giai cấp

- Giai cấp thống trị: quý tộc chủ nô (bao gồm quý tộc thị tộc và quý tộc công thương nghiệp).

- Giai cấp bị trị: bình dân, nông dân lao động và nô lệ.



  • Quan hệ giai cấp

Mâu thuẫn chủ đạo: quý tộc chủ nô và nô lệ.

  1. Tổ chức nhà nước

    1. Tổ chức nhà nước phương Đông cổ đại

Hình thức chính thể của các nhà nước phương Đông cổ đại là quân chủ tuyệt đối và mang tính chất là trung ương tập quyền.

  • Ở trung ương

Vua:

Vua đứng đầu nhà nước với quyền lực tối cao. Vua nắm quyền lực tuyệt đối trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng. Vua có quyền ban hành luật, mệnh lệnh có giá trị thi hành như pháp luật; có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia; có quyền bổ nhiệm, cách chức, trừng phạt bất kỳ ai. Vua cũng đồng thời được thần thánh hoá, được xem là con trời hoặc đại diện của thần linh.

Quan đầu triều: người đứng đầu hệ thống qua lại, có rất nhiều quyền lực.

Hệ thống quan lại giúp việc



  • Ở địa phương

Quản lý tại địa phương thường dựa vào công xã nông thôn.

    1. Tổ chức nhà nước phương Tây cổ đại

      1. Nhà nước Sparta

Hình thức chính thể: cộng hòa quý tộc chủ nô

Tổ chức bộ máy nhà nước Sparta bao gồm:

Hai Vua

Hội đồng trưởng lão



Hội nghị công dân

Hội đồng năm quan giám sát



      1. Nhà nước Athens

Khi mới hình thành, Athens có hình thức chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô. Sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp thúc đẩy sự lớn mạnh của tầng lớp quý tộc công thương nghiệp ở Athens. Quá trình dân chủ hoá ở nhà nước ở Athens đã diễn ra qua các cuộc cải cách điển hình: Cải cách của Solon, Cải cách của Clixten, Cải cách của Ephantes

Hình thức chính thể của Athens sau cải cách: cộng hòa dân chủ chủ nô

Tổ chức bộ máy nhà nước Athens thời kỳ dân chủ đỉnh cao:

Hội nghị công dân

Hội đồng 500 người

Hội đồng 10 tướng lĩnh

Toà bồi thẩm


      1. Nhà nước La Mã

  • Thế kỷ VI TCN- I TCN: hình thức chính thể của La Mã là cộng hòa quý tộc chủ nô

Tổ chức bộ máy nhà nước của La mã bao gồm:

Hội nghị công dân: Đại hội Xenturi và Đại hội bình dân

Viện nguyên lão

Hội đồng quan chấp chính

Hội đồng quan án

Viện quan bảo dân



  • Giai đoạn thế kỷ I TCN- V: hình thức chính thể của La Mã là quân chủ chuyên chế chủ nô (đế chế)

CHUYÊN ĐỀ 2

PHÁP LUẬT CHIẾM HỮU NÔ LỆ

1. Pháp luật phương Đông cổ đại

    1. Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà

Bộ luật Hamurapi do Vua Hammurapi xây dựng và ban hành, gồm có 282 điều, điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội ở nhà nước cổ Babilon.

Bộ luật này chưa có sự phân định rõ các ngành luật, chế định luật nhưng nhà làm luật đã có ý thức sắp xếp các quy định điều chỉnh những quan hệ xã hội cùng loại ở gần nhau.



    1. Bộ luật Manu của Ấn độ cổ đại

Bộ luật Manu là bộ luật thành văn hoàn chỉnh nhất trong tất cả các luật lệ cổ của Ấn độ cổ đại, được xây dựng bởi các giáo sỉ Bà la môn vào khảong thế kỷ II- I TCN.

Bộ luật này có 2685 điều, có các quy định về nhiều vấn đề trong xã hội như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới, pháp luật...



    1. Pháp luật Trung Quốc cổ đại

Pháp luật Trung Quốc cổ đại thời kỳ nhà Hạ và Thương còn rất sơ khai. Đến thời kỳ nhà Chu pháp luật được chú trọng với “ngũ lễ” và “ngũ hình”. Đến thời kỳ Chiến quốc, hàng loạt các bộ luật thành văn ra đời.

Đồng thời, pháp luật Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu- Chiến quốc còn chịu sự ảnh hưởng của các tư tưởng chính trị pháp lý.



    1. Đặc trưng của pháp luật phương Đông cổ đại.

- Về kỹ thuật xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật của các quốc gia phương Đông được xây dựng tương đối đa dạng để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội xuất hiện ngày càng nhiều.

- Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chưa có sự phân định thành các chế định luật, ngành luật

- Pháp luật vẫn mang tính chất “trọng hình, khinh dân”,

- Từ ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật rất cụ thể, mô tả dài dòng, trùng lắp và không mang tính khái quát.



- Pháp luật công khai thừa nhận sự bất bình đẳng.

- Pháp luật phương Đông cổ đại mang tính chất đồng thái phục thù.

- Pháp luật cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan niệm tín ngưỡng tôn giáo, lễ và các hệ tư tưởng chính trị

- Hệ thống hình phạt dã man, thường sử dụng nhục hình.

2. Pháp luật phương Tây cổ đại


    1. Pháp luật Hy Lạp cổ đại: điển hình là pháp luật Athens

    2. Pháp luật La Mã cổ đại

  • Thời kỳ Cộng hòa sơ kỳ (TK VI – III TCN): xuất hiện Bộ luật thành văn đầu tiên là Bộ luật 12 bảng.

Pháp luật thời kỳ này có các đặc trưng:

  • Pháp luật công khai thừa nhận bất bình đẳng: về giai cấp, về đẳng cấp, về giới tính.

  • Pháp luật mang tính trọng hình khinh dân.

  • Pháp luật hình sự còn mang tính chất đồng thái phục thù.

  • Pháp luật ít bị ảnh hưởng bởi tôn giáo.

  • Kỹ thuật lập pháp chưa cao.

  • Thời kỳ Cộng hòa hậu kỳ (TK III TCN – TK V)

Pháp luật thời kỳ này có các đặc trưng:

  • Pháp luật vẫn công khai thừa nhận sự bất bình đẳng: về giai cấp, về đẳng cấp.

  • Pháp luật dân sự, thương mại rất phát triển và mang tính kinh điển và được pháp luật các thời kỳ sau kế thừa. Có rất nhiều khái niệm pháp lý mang tính chuẩn mực và nhiều quy định rất phát triển trong chế định hợp đồng, hôn nhân gia đình, thừa kế.

  • Pháp luật ít bị ảnh hưởng bởi tôn giáo.

  • Kỹ thuật lập pháp cao, có những khái niệm pháp lý mang tính chuẩn mực.

CHUYÊN ĐỀ 3

NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành nhà nước phong kiến

    1. Nhà nước phong kiến phương Đông

Điển hình là nhà nước phong kiến Trung Quốc.

  • Kinh tế: Sự xuất hiện của quan hệ sản xuất phong kiến Trung Quốc.

  • Xã hội: Xuất hiện giai cấp địa chủ và tá điền.

  • Lịch sử: những cải cách của nhà Tần và cuộc chiến thống nhất Trung Quốc.

1.2 Nhà nước phong kiến Tây Âu

        • Quá trình xuất hiện quan hệ sản xuất phong kiến.

        • Cuộc chiến tranh xâm lược của người Giéc manh.

  1. Lịch sử hình thành, phát triển và suy vong

    1. Trung Quốc

    2. Tây Âu

- Giai đoạn sơ kỳ (thế kỷ V – thế kỷ IX) là giai đoạn xuất hiện các vương quốc lớn nhỏ khác nhau của người Giecmanh.

- Giai đoạn trung kỳ (thế kỷ X – thế kỷ XV), kinh tế công thương nghiệp dần xuất hiện và phát triển. Các thành thị xuất hiện, phát triển một cách tự phát và thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để thoát khỏi sự quản lý của các lãnh chúa phong kiến. Các thành thị đấu tranh đã làm xuất hiện thành thị tự tri với hai mức độ: tự trị hoàn toàn và tự trị không hoàn toàn.

- Giai đoạn mạt kỳ (thế kỷ XV – thế kỷ XVII), kinh tế công thương nghiệp phát triển vượt bậc, tầng lớp thị dân lớn mạnh, đã dần trở thành giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản hậu thuẫn cho quyền lực nhà vua thiết lập hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối. Với sự lớn mạnh về kinh tế, thế kỷ XVII, giai cấp tư sản lãnh đạo nông dân thực hiện cách mạng tư sản thành công và thiết lập các nhà nước tư sản, chấm dứt thời kỳ phong kiến ở Tây Âu.

3. Chế độ xã hội

3.1 Trung Quốc


  • Kết cấu giai cấp

Giai cấp thống trị: địa chủ phong kiến

Giai cấp bị trị: nông dân (nông dân tự do, tá điền), thợ thủ công, thương nhân và nô tỳ.



  • Quan hệ giai cấp

Mâu thuẫn chủ đạo: địa chủ phong kiến và nông dân

3.2 Tây Âu

  • Kết cấu giai cấp

Giai cấp thống trị: lãnh chúa phong kiến (bao gồm lãnh chúa thế tập và lãnh chúa tăng lữ). Lãnh chúa thế tập bao gồm: công tước, hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước, kỵ sĩ và tiểu kỵ sĩ. Lãnh chúa tăng lữ bao gồm: đại giáo chủ, giáo chủ và giáo phụ. Thị dân1

Giai cấp bị trị: nông nô và nông dân tự do



  • Quan hệ giai cấp

Mâu thuẫn chủ đạo là giữa lãnh chúa phong kiến và nông nô.

4. Tổ chức bộ máy nhà nước

4.1 Nhà nước phong kiến Trung Quốc

Hình thức chính thể của nhà nước phong kiến Trung Quốc là quân chủ tuyệt đối và mang tính chất là trung ương tập quyền. Trong tất cả các triều đại, Hoàng đế luôn là người đứng đầu nhà nước, toàn bộ quyền lực đều tập trung vào tay nhà vua.

Đứng đầu nhà nước là Vua, dưới Vua là Quan đầu triều (ngoại trừ triều đại nhà Minh) và hệ thống quan lại giúp việc.

4.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở Tây Âu qua các giai đoạn

2.3.1. Thời kỳ sơ kỳ (thế kỷ V – X)

Hình thức chính thể: quân chủ tuyệt đối.

2.3.2. Thời kỳ trung kỳ (thế kỷ XI- XV)

- Chế độ cộng hòa thành thị trong các thành thị tự trị (thế kỷ XI – XIII).

- Nền quân chủ đại diện đẳng cấp (thế kỷ XIII – XV).

2.3.4. Thời kỳ mạt kỳ (thế kỷ XV- XVII)

Hình thức chính thể: quân chủ tuyệt đối.



CHUYÊN ĐỀ 4

PHÁP LUẬT PHONG KIẾN

  1. Pháp luật phong kiến phương Đông

Điển hình là pháp luật phong kiến Trung Quốc

    1. Pháp luật phong kiến Trung Quốc qua các triều đại.

    2. Đặc trưng của pháp luật phong kiến Trung Quốc.

  • Pháp luật mang tính “trọng hình, khinh dân”

  • Trong các triều đại, nhà vua luôn là trung tâm của hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật.

  • Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự kết hợp giữa lễ và hình.

  • Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị, giữa quy phạm pháp luật với quy phạm đạo đức.

2. Pháp luật phong kiến Tây Âu

2.1. Nguồn của pháp luật phong kiến Tây Âu.

2.2. Nội dung của pháp luật phong kiến Tây Âu

      • Những quy định về dân sự

      • Những quy định về hình sự

      • Những quy định về tố tụng

    1. Đặc trưng của pháp luật phong kiến Tây Âu

Pháp luật phong kiến Tây Âu kém phát triển hơn so với pháp luật La Mã thời kỷ cộng hoà hậu kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực dân sự, vì:

  • Tình trạng phân quyền cát cứ và kinh tế tự cung tự cấp đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế hàng hoá.

  • Trong thời gian này, các lãnh chúa phong kiến phải tập trung vào các cuộc chinh phạt lẫn nhau, không có thời gian cho việc xây dựng pháp luật.

  • Tuyệt đại đa số cư dân thời kỳ này bị mù chữ. Nhà nước và giáo hội thực hiện chính sách ngu dân, bắt buộc dân chúng học thuộc lòng kinh thánh và không thực hiện giáo dục toàn diện.

Pháp luật phong kiến Tây Âu là một phương tiện để nhà nước đàn áp, bóc lột quần chúng nhân dân lao động, bảo vệ địa vị, quyền lợi của tập đoàn phong kiến thế tục và tập đoàn phong kiến giáo hội.

CHUYÊN ĐỀ 5

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TƯ SẢN

  1. Каталог: hcmulaw -> images -> stories -> dhluat -> k-luathanhchinh


    Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương