Đề: Anh (chị) hãy phân tích đặc điểm xã hội hiện đại và yêu cầu đặt ra đối với giáo dục. Từ đó, phân tích chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới và liên hệ với việc đổi mới Giáo dục bậc Tiểu học hiện nay


Hiện trạng giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới



tải về 132 Kb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu22.09.2022
Kích132 Kb.
#184223
1   2   3   4   5   6
huong
Hiện trạng giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới :
1. Khâu tuyển sinh (mới được đổi mới một số năm gần đây song cơ bản):
- Không xuất phát từ nhu cầu thị trường lao động; các trường hầu như thiếu tín hiệu từ thị trường về cơ cấu ngành nghề xã hội cần, về số lượng lao động cần tuyển, về trình độ, năng lực người lao động cần có, về triển vọng ngành nghề. Tuyển sinh chủ yếu dựa vào chỉ tiêu Bộ cho phép.

  • Hầu hết các trường ít có mối quan hệ với các cơ sở thực tế như công ty, doanh nghiệp nên không nắm được nhu cầu thực tế.

Do đó: Cung và cầu không gặp nhau. Nhiều trường đào tạo trên cơ sở cái gì mình có mà không chú ý thực tế cần gì. Do đó tình trạng sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm như vừa qua là tất yếu.

  • Hoạt động hướng nghiệp yếu, việc quy hoạch và phổ biến quy hoạch về nguồn nhân lực của Nhà nước đối với hệ thống giáo dục đào tạo Đại học, Cao đẳng còn bất cập, thiếu dự báo, thiếu kế hoạch (chỉ dừng lại ở việc đến năm nào thì cần có bao nhiêu người tốt nghiệp Đại học/1 vạn dân). Các trường tuyển sinh trên cơ sở chỉ tiêu Bộ Giáo dục – Đào tạo giao, song chỉ tiêu này cũng không được nghiên cứu kỹ từ nhu cầu thực tế, ví dụ: chỉ tiêu cho ngành kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh năm nào cũng cao, trong khi nhu cầu về các ngành nghiên cứu cơ bản lớn, có trường không tuyển sinh đủ chỉ tiêu vì học sinhchỉ thích học các ngành học dễ (lý thuyết nhiều) mà cơ quan quản lý cũng không có biện pháp đề nghị để thu hút học sinh vào học các ngành nghiên cứu cơ bản dẫn đến hiện nay thiếu nhiều nhân lực ở các ngành này. Tỷ lệ tuyển sinh cụ thể như sau:

Nghiên cứu cơ bản – xã hội nhân văn chỉ có khoảng 5 – 7% học sinh tốt nghiệp PTTH đăng ký dự thi.
Các ngành công nghệ thông tin, kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh có trên 70% số học sinh đăng ký vào học các ngành này.
Tình trạng mất cân đối trong đào tạo nghề nghiệp, trong mở ngành chưa được khắc phục.

  • Do chế độ tuyển dụng cán bộ: Trọng bằng cấp hơn coi trọng khả năng thực tế.

+ Tâm lý “khoa cử” quá nặng nề: Học để thi, thi đỗ đại học để có bằng cấp tiến thân, để được tuyển vào các cơ quan của Nhà nước nên chọn ngành dễ để học, để dễ được bằng tốt nghiệp đại học. Do đó, các trường coi trọng Dạy chữ hơn Dạy người, coi nhẹ các môn giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, dẫn đến đạo đức của một bộ phận không nhỏ trong xã hội xuống cấp là tất yếu.
- Chưa giải quyết đúng đắn vấn đề: Học để làm gì? Để thi hay để thành người toàn diện, biết làm việc (học để biết, để làm,...). Cả xã hội đang coi trọng bằng cấp, học để lấy bằng, bằng càng cao càng tốt. Xu hướng này chi phối toàn bộ mọi hoạt động của ngành giáo dục từ trước tới nay. Có thể thấy còn có khoảng cách giữa đào tạo của các trường đại học và yêu cầu xã hội.
Hiện đã có một số đổi mới trong công tác tuyển sinh, đánh giá chất lượng..., song chưa thể giải quyết được vấn đề vì vẫn thiếu thông tin từ thị trường.

tải về 132 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương