Việt nam vũ Xuân Nguyệt Hồng Đặng Thị Thu Hoài undp viet Nam, 2015



tải về 1.98 Mb.
trang6/9
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2019
Kích1.98 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Tổ chức thực hiện


Các bộ ngành, địa phương, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức phi chính phủ, và cá đối tượng liên quan khác đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn thực hiện kế hoạch/chính sách phát triển quốc gia để bảo đảm đạt mục tiêu đề ra. Khi kế hoạch/chính sách đã được phê duyệt ở cấp trung ương thì nhiệm vụ thực thi của các bộ ngành, địa phương cũng được xác định rõ tương ứng. Tùy tính chất của từng kế hoạch/chính sách mà đôi khi nhiệm vụ cụ thể phân cho các bộ ngành địa phương lại được ghi trong kế hoạch hành động với thời hạn cần hoàn thành hay việc này chỉ được đề cập chung chung như các bộ ngành địa phương dựa theo chức năng nhiệm vụ của mình thực hiện kế hoạch/chính sách đã được duyệt.

Nhằm thực thi kế hoạch/chính sách, các bộ ngành liên quan nhiều khi sẽ phải ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện một số nội dung của kế hoạch/chính sách mà họ được phân công đảm nhiệm, hoặc giao cho cơ quan cấp dưới soạn thảo hướng dẫn. Với các bộ ngành, văn bản hướng dẫn thực thi thường dưới dạng Thông tư còn với địa phương thì đó sẽ là quyết định của Chủ tịch UBND hay Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Những hoạt động thực thi kế hoạch/chính sách của các tổ chức nhà nước, chính quyền địa phương, khu vực tư nhân và cộng đồng sẽ đều phải tuân thủ những hướng dẫn này. Quá trình này thường mất một khoảng thời gian nhất định và do đó khiến cho hiệu lực thực thi của kế hoạch/chính sách thường bị chậm lại.

Tùy theo tính chất của văn bản kế hoạch/chính sách mà các tổ chức tư nhân có thể tham gia thực thi kế hoạch/chính sách như thông qua việc cung cấp dịch vụ. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) đóng vai trò theo dõi quá trình thực thi kế hoạch/chính sách; xã hội dân sự có vai trò thúc đẩy chính phủ thực hiện những cam kết chính sách và phát hiện những vướng mắc, hạn chế của chính sách trong quá trình thực thi. Tuy nhiên, nhìn chung thì các tổ chức phi chính phủ dường như chưa có đủ năng lực, nguồn lực và thậm chí chưa đủ thẩm quyền để đóng vai trò này hiệu quả.

Với vấn đề lồng ghép phát triển bền vững trong quá trình thực thi kế hoạch/chính sách, các bộ ngành và chính quyền địa phương có hai công cụ để thực hiện lồng ghép: thông qua Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh hay thông qua lồng ghép trực tiếp hay kiểm tra việc lồng ghép yếu tố bền vững về xã hội và môi trường trong quá trình lập và thông qua kế hoạch/chính sách59. Theo Thông tư số 02/2013/TT-BKHDT do Bộ trưởng KHĐT thông qua, các bộ ngành và chính quyền địa phương được phép thành lập ra các Ban chỉ đạo phát triển bền vững của mình để chủ trì xây dựng kế hoạch hành động của bộ ngành và địa phương mình nhằm thực hiện Định hướng chiến lược phát triển bền vững. Ban chỉ đạo này cũng có nhiệm vụ lồng ghép vấn đề bền vững vào quá trình xây dựng chính sách, qui hoạch, xây dựng các chỉ số giám sát đánh giá phát triển bền vững trong phạm vi bộ ngành và địa phương mình. Tuy nhiên, năng lực của địa phương trong việc lồng ghép vấn đề bền vững vào kế hoạch và qui hoạch của họ còn rất hạn chế, trong khi chưa có cơ chế khuyến khích hay xử lí nào được sử dụng trong trường hợp có hay không thực hiện lồng ghép. Văn bản hướng dẫn về vấn đề này trong Thông tư nói trên được thể hiện còn chung chung và khó thực hiện đối với các cơ quan bộ ngành ở trung ương và ở cấp địa phương. Trong trường hợp này, cần có những hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu hơn và đây là một điều kiện để hiện thực hóa các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển bền vững quốc gia đã đặt ra.


Thách thức và hạn chế:


  • Còn thiếu sự hướng dẫn và hệ thống giám sát đánh giá tiến trình thực hiện phát triển bền vững được cụ thể hóa từ cấp độ trung ương tới cấp địa phương. Khi thiếu việc làm này thì các mục tiêu phát triển bền vững sẽ rất khó có thể hiện thực được trong tương lai. Ít nhất thì cần có những nỗ lực hơn để cụ thể hóa các mục tiêu quốc gia ở cấp thấp hơn cũng như hướng dẫn cụ thể để các bộ ngành và địa phương có thể tự mình xây dựng được các mục tiêu phát triển bền vững cho mình.

  • Xây dựng năng lực về lồng ghép phát triển bền vững cũng cần thiết đối với chính quyền địa phương, đặc biệt xây dựng năng lực về sử dụng các công cụ đánh giá tổng hợp đối với các cán bộ trực tiếp thực hiện gắn kết phát triển bền vững trong quá trình xây dựng kế hoạch/chính sách. Hiện nay, việc lồng ghép phát triển bền vững mới chỉ được thực hiện dưới dạng đưa thêm một số chỉ số xã hội và môi trường vào quá trình lập kế hoạch/chính sách. Hiện còn thiếu năng lực để phân tích đánh giá chi phí lợi ích về kinh tế xã hội và môi trường của một số chủ trương kế hoạch/chính sách.

  • Vấn đề về phối hợp và hợp tác cần được tăng cường để lồng ghép thành công phát triển bền vững trong quá trình hoạch định kế hoạch/chính sách phát triển. Sự phối hợp là cần thiết không chỉ giữa các cơ quan chính phủ theo chiều dọc (từ trung ương xuống đến địa phương và tiểu địa phương) mà cần tăng cường phối hợp theo chiều ngang (như giữa các bộ ngành với nhau).

    1. Giám sát và đánh giá (M&E)


Theo qui định hiện hành, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản về nguyên tắc sẽ chịu trách nhiệm tổ chức công tác giám sát và đánh giá việc thực hiện kế hoạch/chính sách. Tuy nhiên, đối với những kế hoạch/chính sách có tính tổng hợp (lồng nghép) thì Chính phủ thành lập Ban hay Hội đồng quốc gia chỉ đạo, giám sát và đánh giá việc thực thi kế hoạch/chính sách đã ban hành60. Đối với trường hợp kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm thì MPI là cơ quan tổ chức giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Đối với Định hướng chiến lược phát triển bền vững thì Văn phòng phát triển bền vững quốc gia sẽ giúp cho Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Năng lực cạnh tranh thực hiện công tác giám sát đánh giá việc thực hiện chiến lược. Sẽ có hai cách, theo đó công tác giám sát đánh giá được tiến hành:

  • Thứ nhất, cơ quan được giao chủ trì công tác giám sát đánh giá (M&E) thông qua con đường hành chính để tập hợp thông tin số liệu về tiến trình và kết quả thực hiện như trong trường hơp của kế hoạch 5 năm và hàng năm SEDP. Tức là, cơ quan này sẽ gửi công văn yêu cầu báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch/chính sách tới các cơ quan đơn vị có liên quan cả ở trung ương và địa phương với hướng dẫn mẫu báo cáo cụ thể. Sau đó, thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp thành một báo cáo giám sát đánh giá chung.



  • Thứ hai, cơ quan được giao chủ trì công tác M&E có thể đề nghị một cơ quan độc lập tiến hành công tác giám sát đánh giá với phương pháp và cách thức tổ chức quá trình giám sát đánh giá được xây dựng cẩn thận. Phương pháp này tuy vậy còn ít được áp dụng. Cho đến nay, đã có một số trường hợp đơn lẻ khi giám sát đánh giá được triển khai theo phương pháp này, song hầu hết đều do các nhà tài trợ nước ngoài hỗ trợ thực hiện.

Những thông tin và phát hiện từ các báo cáo giám sát đánh giá đều phải được công bố công khai và sử dụng để xem xét việc điều chỉnh hay xây dựng mới kế hoạch/chính sách. Tính hữu dụng và phù hợp của các báo cáo này sẽ phụ thuộc vào chất lượng số liệu, thông tin thu thập được cũng như chất lượng công tác giám sát đánh giá có phản ảnh đúng tình hình thực tiễn hay không.

Khung các chỉ số giám sát đánh giá là công cụ đóng vai trò quan trọng để cung cấp thông tin, tuyên truyền và đánh giá quá trình thực hiện chiến lược/kế hoạch/chính sách phát triển quốc gia. Như đã trình bày ở các mục trước, hiện có nhiều hệ thống chỉ số giám sát đánh giá được xây dựng cho kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và định hướng chiến lược phát triển bền vững và chúng được Tổng cục Thống kê (TCTK) hay Bộ Kế hoạch và Đầu tư thu thập. Tuy nhiên, TCTK – cơ quan nhà nước có trách nhiệm thu thập các số liệu về phát triển kinh tế xã hội quốc gia nhiều khi vẫn chưa thể cung cấp hết thông tin và số liệu để có thể đánh giá kết quả thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt với những chỉ số phù hợp với Hệ thống tài khoản kinh tế-môi trường của Liên hợp quốc (SEEA), với Chỉ số nghèo đa chiều, các chỉ số về tăng trưởng xanh v.v. Ngoài ra, số liệu và thông tin cần thu thập cho công tác giám sát đánh giá không phải lúc nào cũng được công bố và sẵn có. Trong nhiều trường hợp, cùng một chỉ số nhưng được thu thập cho các hệ thống chỉ số giám sát đánh giá khác nhau lại không như nhau. Hơn nữa, mối liên hệ và nhất quán giữa các hệ thống chỉ số giám sát đánh giá dường như còn hạn chế, thậm chí cả khi chúng đều hướng tới cùng mục tiêu phát triển. Ví dụ, hệ thống chỉ số phát triển kinh tế xã hội để giám sát kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lại không tương ứng với hệ thống chỉ số giám sát về phát triển bền vững như mô tả ở Phụ lục 5. Phụ lục này cho thấy trong khi bộ chỉ số phát triển bền vững có một loạt các chỉ số có tính lồng ghép như GDP xanh, chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bất bình đẳng thu nhập (GINI), chỉ số bền vững môi trường (ESI), hệ số hiệu quả suất đầu tư ICOR v.v. thì bộ chỉ số cho kế hoạch 5 năm SEDP lại không có những chỉ số này. Thêm vào đó, nhiều vấn đề liên quan tới việc thu thập số liệu để tính toán các chỉ số phát triển bền vững còn tồn tại hiện nay một phần là do sự không nhất quán này (cả ở cấp trung ương lẫn địa phương).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư được kì vọng sẽ chỉnh sửa lại hệ thống chỉ số kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 vì hiện Bộ này đang xin ý kiến các bộ ngành, địa phương về vấn đề này. Ngoài ra, Luật thống kê cũng sẽ được Quốc hội sửa đổi theo đó một bộ chỉ số về phát triển kinh tế xã hội quốc gia mới sẽ được thay cho bộ chỉ số hiện hành.

Thách thức và hạn chế:


  • Hệ thống giám sát đánh giá là có hoạt động nhưng không phải lúc nào các đánh giá phân tích cũng được tiến hành một cách thấu đáo và chất lượng giám sát đánh giá còn hạn chế, nhiều khi là hình thức. Cách tiếp cận giám sát đánh giá dựa vào kết quả 61 chưa được áp dụng chuẩn ở mọi khâu của quá trình giám sát đánh giá.



  • Hệ thống chỉ số giám sát đánh giá cho kế hoạch SEDP hiện nay chưa thật phù hợp với hệ thống chỉ số giám sát đánh giá phát triển bền vững của UN. Bộ chỉ số phát triển bền vững hiện hành có phần nhất quán với hệ thống chỉ số của UN, nhưng hệ thống này lại chưa hoạt động ở Việt Nam. Hiện tại, quá trình giám sát thực hiện kế hoạch SEDP và giám sát đánh giá phát triển bền vững đang được thực hiện tách biệt nhau.



  • Năng lực các cán bộ làm công tác giám sát đánh giá và phân tích là một hạn chế lớn, đặc biệt là năng lực thu thập và phân tích số liệu của các bộ ngành và địa phương.



  • Về số liệu: hệ thống chỉ số thống kê quốc gia của Việt Nam gồm có 21 nhóm với 350 chỉ số, trong đó đã có một số chỉ số có tình lồng ghép như GDP, GINI, HDI phản ánh mối liên hệ giữa nghèo và môi trường với khía cạnh phát triển kinh tế. Ngoài ra, có tới 18 chỉ số khác trực tiếp phản ảnh về nghèo và 24 chỉ số về môi trường62. Song, hiện Tổng cục thống kê mới có năng lực thu thập và cung cấp khoảng 2/3 trong số đó. Nhiều chỉ số về nghèo và môi trường hiện vẫn chưa thu thập được số liệu.

Những cơ hội và hành động tiếp theo


Thực trạng công tác kế hoạch và các văn bản chính sách ban hành thời gian qua cho thấy Việt Nam đã bước đầu hình thành các điều kiện thuận lợi để có thể áp dụng cách tiếp cận lồng ghép những vấn đề nghèo đói và bền vững vào qui trình kế hoạch, đồng thời đã ghi nhận mối liên hệ giữa môi trường và đói nghèo. Theo các phân tích ở các phần trước, trong những năm gần đây đã nổi lên ba nhóm điều kiện thuận lợi cho việc lồng ghép như sau:

  1. Khung pháp luật và thể chế đã bước đầu được hình thành và một số sáng kiến ban đầu đã được triển khai thực hiện;

  2. Nhận thức của xã hội về vấn đề phát triển bền vững đã được nâng lên;

  3. Một số kỹ năng và kiến thức chuyên môn liên quan đã dần dần được hình thành và phát triển.

Đây là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam thúc đẩy quá trình lồng ghép một cách đầy đủ các vấn đề bền vững vào qui trình kế hoạch. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại và hạn chế trong việc thực hiện lồng ghép một cách toàn diện. Do đó, trong thời gian tới, nhiều biện pháp chính sách cần được tiếp tục triển khai thực hiện theo các định hướng trong ngắn hạn và dài hạn như sau:



    1. Những hành động về ngắn hạn



(1) Làm rõ bản chất của cách tiếp cận lồng ghép

Thúc đẩy quá trình áp dụng cách tiếp cận lồng ghép ở Việt Nam trong thời gian tới cần chú trọng làm rõ hai điểm sau:



Trước tiên, bản chất của lồng ghép là đưa vấn đề phát triển bền vững vào qui trình kế hoạch kinh tế xã hội và quy trình ngân sách. Hiện nay, lồng ghép đã được qui định phải thực hiện qua nhiều hoạt động lập kế hoạch bền vững, đặc biệt là qua các kế hoạch hành động phát triển bền vững của các bộ ngành và địa phương. Tuy nhiên, kế hoạch hành động phát triển bền vững này lại do Ban chỉ đạo phát triển bền vững chủ trì soạn thảo và không cùng với xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội SEDP. Ở Việt Nam, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng ngân sách là xương sống của việc hoạch định phát triển, xác định các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của các bộ, ngành và địa phương. Nếu các vấn đề bền vững được lồng ghép vào quá trình này, vấn đề nghèo đói và môi trường sẽ được xem xét song hành với các vấn đề phát triển kinh tế, đó chính là điểm cốt lõi của cách tiếp cận lồng ghép.

Để thúc đẩy triển khai áp dụng cách tiếp cận này, sự ủng hộ rộng rãi, cam kết của hệ thống chính trị và các cơ quan nhà nước là hết sức cần thiết, đặc biệt tránh sự phản đối và sức ép chính trị (từ các nhóm lợi ích phản đối cách tiếp cận lồng ghép một cách hiệu quả hơn).



Thứ hai, cách tiếp cận lồng ghép phát triển bền vững không chỉ dừng lại ở việc đưa những chỉ tiêu về nghèo đói và môi trường vào trong các kế hoạch mà phải bao gồm cả quá trình đảm bảo sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế với nghèo đói và môi trường cũng như mối liên hệ giữa chúng. Cách tiếp cận này cần được áp dụng thống nhất từ cấp trung ương xuống địa phương.

(2) Hoàn thiện khung khổ luật pháp và thể chế

Xây dựng các hướng dẫn lồng ghép nghèo đói và môi trường trong công tác kế hoạch phát triển kinh tế xã hội/chính sách và xây dựng ngân sách ở cả trung ương và bộ ngành, địa phương: Hiện tại, ở cấp trung ương, việc lồng ghép vấn đề môi trường và đói nghèo vào kế hoạch mới dừng lại ở việc đưa các chỉ số môi trường và đói nghèo vào trong các văn bản kế hoạch. Như đã đề cập ở trên, bên cạnh đó, cần chú trọng hơn nữa đến việc bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu phát triển bền vững.

Đối với công tác kế hoạch ở các bộ ngành và địa phương, hiện nay vấn đề lồng ghép đang được hướng dẫn tại Thông tư số 02/2013/TT-BKHDT, ngày 27/3/2013. Tuy nhiên, những hướng dẫn đó hiện còn quá chung, chưa đủ cụ thể để các bộ ngành có thể triển khai áp dụng. Vấn đề bền vững mới đang được lồng ghép theo hướng thêm các chỉ tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, tất cả các chỉ tiêu trong Thông tư mới đang ở tầm quốc gia, chưa cụ thể hóa ở mức độ chi tiết hơn cho ngành và khu vực. Do đó, các bộ ngành và địa phương còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện lồng ghép ở cấp ngành và địa phương mình. Thậm chí, nếu các ngành và địa phương đã hình thành được các chỉ tiêu của mình thì cũng chưa có cơ chế để đảm bảo các mục tiêu đó thống nhất với các mục tiêu chung của quốc gia.

Để khắc phục vấn đề này, việc xây dựng các văn bản hướng dẫn lồng ghép vấn đề bền vững và đói nghèo vào quy trình kế hoạch là cần thiết. Điểm mấu chốt là đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong quy trình kế hoạch và sự phối kết hợp giữa các bộ, ban ngành và các đối tượng liên quan. Đối với các bộ ngành và địa phương, các văn bản hướng dẫn cần đảm bảo khi các địa phương triển khai thực hiện phải thống nhất với các mục tiêu quốc gia. Những hướng dẫn này phải thể hiện được nội dung cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, môi trường và đói nghèo cũng như mối liên hệ giữa nghèo đói và môi trường.

Mặc dù lập kế hoạch phát triển bền vững là quan trọng, việc triển khai thực hiện kế hoạch, trong đó có hệ thống theo dõi và đánh giá thực thi kế hoạch cần được chú trọng hơn nữa trong thời gian tới ở Việt Nam để đảm bảo các kế hoạch được triển khai thực hiện theo đúng dự định. Đặc biệt, khi chưa có hướng dẫn lập kế hoạch phát triển bền vững thông suốt từ trung ương đến ngành/địa phương và các ngành địa phương tự xác định mục tiêu phát triển bền vững của mình thì việc theo dõi, giám sát thực hiện phát triển bền vững càng đóng vai trò quan trọng hơn bởi nó sẽ bảo đảm tính thống nhất với các mục tiêu quốc gia.

(3) Cơ sở dữ liệu, thông tin và tăng cường năng lực

Xây dựng cơ sở dữ liệu cho xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch lồng ghép bền vững đóng vai trò quan trọng. Có hai loại dữ liệu cần được xây dựng: (i) dữ liệu để đánh giá thực trạng và xác định các lựa chọn chính sách ở cấp trung ương thông qua mở rộng dữ liệu hệ thống tài khoản quốc gia bao gồm cả các khía cạnh môi trường và xã hội, và cả ở cấp địa phương và ngành thông qua mở rộng dữ liệu theo các lĩnh vực và theo vùng/địa phương. Cần nâng cao năng lực cho các cơ quan thống kê của Việt Nam và các cơ quan liên quan để có thể xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu đó; (ii) dữ liệu để theo dõi và đánh giá bền vững: loại dữ liệu này cần theo chuỗi thời gian cũng như cần phải có khả năng so sánh trước và sau khi thực hiện chính sách.

Khuyến khích các hoạt động trao đổi, chia sẻ và phổ biến thông tin qua nhiều kênh đa dạng, bao gồm qua mạng, diễn đàn, đối thoại, hội thảo, sổ tay hướng dẫn, v.v.. Vấn đề lồng ghép còn khá mới mẻ ở Việt Nam và do đó cần phải giới thiệu một cách rộng rãi, đặc biệt chú trọng giới thiệu bản chất của việc lồng ghép như đã trình bày ở trên. Hiện nay, thông tin về chủ đề này còn rất hạn chế ở Việt Nam, do đó cần phải được tăng cường chia sẻ thông tin để nâng cao nhận thức cũng như năng lực lồng ghép.

Cần tiếp tục tăng cường, nâng cao năng lực để triển khai lồng ghép: Như đã đề cập ở mục trên, một số kỹ năng và phương pháp phục vụ cho việc lồng ghép đã xuất hiện ở Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn khoảng trống giữa các phương pháp hiện có ở Việt Nam và quốc tế. Thêm vào đó, nhiều kỹ năng và phương pháp chưa được trang bị cho những cơ quan, đơn vị có liên quan trực tiếp đến triển khai lồng ghép; nhiều kỹ năng và phương pháp mới được triển khai dưới dạng tình huống, chưa thực sự có cơ chế điều chỉnh để phù hợp với thực tế ở Việt Nam. Tăng cường năng lực nên tập trung vào các phương pháp để cân bằng giữa ba khía cạnh tăng trưởng kinh tế, đói nghèo và môi trường cũng như kết nối từ mục tiêu và chính sách tầm quốc gia đến mục tiêu và thực hiện chính sách ở ngành và địa phương.



(4) Tham gia của các chủ thể

Một trong những cách thức đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, đói nghèo và môi trường là đảm bảo sự tham gia rộng rãi của các chủ thể liên quan vào quá trình lập kế hoạch ngay từ giai đoạn đầu và được cung cấp đầy đủ thông tin hơn là chỉ tham gia với vai trò bình luận vào dự thảo kế hoạch/chính sách cuối cùng.

Hiện nay, nhóm người yếu thế chưa có nhiều cơ hội tham gia vào hoạch định và giám sát thực thi chính sách. Hiện có rất ít kênh chính thức tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của các nhóm này trong quá trình hoạch định chính sách, chủ yếu thông qua các kênh không chính thức như qua khiếu nại. Đặc biệt, hiện vẫn còn đang thiếu kênh chính thức để thu hút sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là của đại diện người nghèo hoặc cơ chế chính thức yêu cầu phải quan tâm nhiều hơn đến tác động đói nghèo trong quá trình lập kế hoạch/chính sách.

Để có sự tham gia rộng rãi hơn của các chủ thể, vấn đề nâng cao nhận thức cũng như năng lực cần được chú trọng.



(5) Tăng cường sự phối hợp

Với việc phân công chức năng nhiệm vụ như hiện nay, để thực hiện việc lồng ghép đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chính phủ liên quan, đặc biệt giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ ngành, nhât là của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các địa phương. Sự phối hợp này đặc biệt cần thiết để đảm bảo sự thống nhất giữa kế hoạch ngành và địa phương với kế hoạch chung của quốc gia và đảm bảo tương ứng với khả năng huy động nguồn lực.

Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan cũng hết sức cần thiết, bao gồm Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu, Ban điều phối liên ngành thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh và sự phối hợp giữa các cơ quan này với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan điều phối công tác kế hoạch).

Sự phối hợp giữa Bộ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cần thiết để đảm bảo mối liên kết giữa tài nguyên/dịch vụ sinh thái và giảm đói nghèo trong quá trình lồng ghép.



(6) Huy động nguồn lực

Không có nguồn lực tài chính, các hoạt động kế hoạch khó có thể được triển khai. Bởi vậy, kế hoạch phải đi đôi với ngân sách. Về khía cạnh này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính đóng vai trò quan trọng, sự phối hợp giữa hai bộ và giữa hai bộ này với các ngành/địa phương cần được củng cố.

Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách nhà nước và hỗ trợ phát triển (ODA), nguồn lực từ khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng. Nhà nước cần tạo ra các cơ chế để có thể huy động các nguồn lực từ khu vực này. Hiện nay, một số công cụ đã được triển khai nhưng cần được hoàn thiện thêm để đảm bảo tạo ra kết quả mà các bên cùng có lợi và mức tuân thủ cao ví dụ như thuế môi trường, trợ cấp năng lượng, các biện pháp phạt hoặc những công cụ mới như trao đổi phát thải hoặc xếp hạng xanh.

    1. Những hành động về dài hạn

Trong dài hạn, khi Việt Nam phát triển đến trình độ cao hơn, vấn đề nghèo đói sẽ bớt trầm trọng hơn và thay vào đó vấn đề môi trường có thể dần dần sẽ được đề cao hơn. Nhận thức về vấn đề môi trường được nâng cao, tiêu dùng xanh và sản xuất xanh sẽ phổ biến hơn. Nhiều hạn chế và bất cập đối với việc lồng ghép được gỡ bỏ như về sự phối hợp, dữ liệu thông tin, năng lực, huy động nguồn lực. Do vậy, trong dài hạn, Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để sẵn sàng cho việc áp dụng cách tiếp cận lồng ghép một cách đầy đủ và cơ hội để thực hiện cải cách thể chế một cách căn bản hơn.



Thứ nhất, ba cơ quan liên quan là Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu, Ban điều phối liên ngành thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, và Văn phòng quốc gia về phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh có thể được kết hợp thành một cơ quan như Ủy ban phát triển xanh. Vai trò cơ quan này nên tập trung hơn vào việc giám sát, theo dõi, đánh giá để đảm bảo cả hệ thống tuân thủ và thực hiện cách tiếp cận lồng ghép đầy đủ một cách hiệu quả.

Thứ hai, trong dài hạn khu vực tư nhân, bao gồm cả hộ gia đình nên đóng vai trò chủ đạo trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Hành vi của khu vực này cần đươc điều chỉnh để hướng tới các hoạt động xanh hơn thông qua các tín hiệu thị trường và hệ thống động lực khuyến khích được tạo ra bởi các chính sách. Thêm vào đó, sự hợp tác công tư cũng cần thiết để đáp ứng nhu cầu tài chính ngày càng cao liên quan đến phát triển bền vững, bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ xanh, cơ sở hạ tầng và dịch vụ nâng cao chất lượng sống và tạo việc làm cho người nghèo.

Thứ ba, trong dài hạn, các vấn đề phát triển bền vững sẽ được thể hiện đầy đủ trong Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm. Do đó, tên của các văn bản này cũng có thể thay đổi tương ứng thành Chiến lược và Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội bền vững 5 năm và hàng năm. Tương ứng với đó, các chỉ số giám sát và đánh giá phát triển kinh tế xã hội hiện nay nên hoàn thiện thành các chỉ số giám sát và đánh giá phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), 2013. “Chính sách về hiên liệu hóa thạchvà giảm phát thải khí nhà kính ở Việt Nam – Giai đoạn II : Xây dựng lộ trình cải cách hính sách về nhiên liệu hóa thạch”. Báo cáo chuẩn bị cho UNDP tháng 3/ 2013

Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế - CIFOR, 2012. “Bối cảnh của REDD+ ở Việt Nam: Dẫn dắt, các cơ quan và thể chế”. Bài viết số 75.

Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế - CIFOR, 2013. “Trả phí cho dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: Từ chính sách đên thực tiễn ”. Bài viết số 93.

MDRI (Viện nghiên cứu phát triển Mê công), 2013. Phân tích thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam giai đoạn2007-2012. Báo cáo của dự án do UNDP hỗ trợ. –Tiểu dự án PRPP của CEMA

Daniel Muller và cộng sự , 2006. “Người nghèo ở đâu và rừng ở đâu ”. Bài viết số 34 của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR), 2006

Finn Tarp và cộng sự, 2015. “Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và sự thay đổi của nông thôn Việt nam”. Báo cáo tổng hợp về các cuộc điều tra hộ gia đình nông nghiệp Việt Nam từ 2006 đến 2014”. Tháng 7, 2015. Trình bày tại Hội thảo công bố Báo cáo tại Hà nội, 5 tháng 8, 2015.

GSO, IPSARD và VAFI 2015. “Xây dựng tài khoản tài nguyên rừng quốc gia cho Việt Nam”. Báo cáo cho Dự án của Ngân hàng thế giới.

Gabriel Demombynes và Linh Hoang Vu, 2015. Giải thích về cách tính nghèo ở Việt Nam. Bài viết về kinh tế học phát triển Việt Nam số 1, Ngân hàng thế giới.

GSO, 2014. Dữ liệu nghèo của Việt nam (Truy cập từ mạng http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=16773)

Ha Le, Nguyen Cuong, Phung Tung 2014. “Nghèo đa chiều: Bằng chứng lần đầu tiên ở Việt Nam ”.

Linda Waldman và cộng sự, 2005. “Môi trường, chính trị và nghèo: Bài học từ tổng quan về quan điểm của các bên liên quan tới PRSP ”. Báo cáo tổng hợp . Viện nghiên cứu phát triển

Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), 2012. “Báo cáo Giám sát Môi trường Việt Nam 2012: Nguồn nước trong lục địa”.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), 2014. “Báo cáo Giám sát Môi trường Việt Nam 2014”.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), 2013. “Báo cáo đánh giá tổng hợp về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam 20 năm từ 1993 đến 2013”. Tháng 10. 2013

MPI, World Bank và UNDP, 2015. Tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu: Đầu tư thông minh cho tương lai bền vững. Báo cáo tổng quan về đầu tư và chi tiêu công cho khí (CPEIR). Tháng 4, 2015

Nguyen Danh Son, 2012. “ Chi tiêu cho môi trường ở Việt Nam – Thực tiễn, vấn đề và kiến nghị”.

IRC (Nghiê cứu và tư vấn Đông dương ), 2012. Tác động của Chương trình 135- giai đoạn II thông qua lăng kính điều tra phân tích trạng thái trước và sau

Nguyen Manh Hai, Dang Thi Thu Hoai, Ho Cong Hoa, 2013.”Đánh giá vĩ mô đối với phát triển các bon thấp ở Việt Nam”. Báo cáo trình cho Ngân hàng thế giới.

Lan Huong Pham, Tran Binh Minh, Nguyen Anh Duong, 2006. Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt nam: Phân tích sử dụng mô hình cân bằng tổng thể”.

Hansen, Henrik, John Rand, và Nina Torm. 2015a. Tác động của lương tối thiểu tới các doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam”. Bài viết cho ILO sắp xuất bản.

Hansen, Henrik, John Rand, và Nina Torm. 2015b. “Tác động của điều chỉnh mức lương tối thiểu tới công nhân nhận lương theo giờ ở Việt Nam Bài viết cho ILO sắp xuất bản.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012. Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam: Báo cáo quốc gia tại Hội nghị về phát triển bền vững của Liên hợp quốc (RIO+20)”. Tháng 5, 2012

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013. “Mucj tiêu phát triển thiên niên kỷ”. Báo cáo đầy đủ, 2013.

Ngân hàng thế giới. 2004. “Mười bước của hệ thống giám sát đánh giá dựa theo kết quả”.

Tran Thi Hanh, 2014. Chiến lược/lộ trình lồng ghép CCA/DRR vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội SEDP và kế hoạch ngành” Chương trình tài trợ khí hậu dựa vào hành động thay đổi cộng đồng do . DFAT/AusAid tài trợ.

UNDP, 2014. “Báo cáo phát triển con người 2014”

UNDP, Phái đoàn EU và MPI, 2014. “Tài chính cho phát triển bền vững của Việt Nam khi trở thành nước thu nhập trung bình ”. Tháng 12, 2014

UNDP, MONRE, 2007. “Chính sách, luật pháp về môi trường và nghèo đói”. Dự án Hài hòa mục tiêu giảm nghèo và môi trường trong chính sách và lập kế hoạch phát triển bền vưng”.

UNDP-UNEP, 2015. “Lồng nghép môi trường và khí hậu cho giảm nghèo và phát triển bền vững: Sách hướng dẫn nhằm củng cố quá trình lập kế hoạch và xây dựng ngân sách”. Do Dư án Sáng kiến Nghèo và Môi trường của UNDP-UNEP xây dựng

Valerie Kozel và Nguyen Tam Giang và Nguyen Thang (2013) “Duy trì giảm nghèo trong thời kỳ thách thức ”.

VASEP, 2015. “Tổng quan ngành thủy sản của Việt Nam”. Tải từ đường link: http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm

VASS (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), 2007. Báo cáo cập nhật về nghèo đói 2006: Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004. Có tại http://siteresources.worldbank.org/INTVIETNAM/Resources/vietnam_poverty_update_report_2006_final.pdf.

Vu Xuan Nguyet Hong, 2013. “Khái niệm, phạm vi và nội dung của hạch toán chi tiêu cho bảo vệ môi trường: Kinh nghiệm, bài học thực tiễn và khuyến nghị cho Việt Nam”. Dự án CIDA-MONRE về quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp địa phương Việt Nam –VPEG”. Tháng 3 2013

Ngân hàng thế giới, 2011. “Báo cáo phát triển Việt Nam: Quản lý tài nguyên thiên nhiên”. Tháng 12, 2010.

Ngân hàng thế giới, 2012.”Khởi đầu thuận lợi nhưng chưa kết thúc: Những thành tựu đáng ghi nhận về giảm nghèo của Việt Nam và những thách thức đang nổi lên”.

Ngân hàng thế giới, 2013. ”Taking stock: Cập nhật về tình hình phát triển kinh tế gần đây ở Việt Nam”

Ngân hàng thế giới, 2015. “Giải thích về cách tính nghèo ở Việt Nam”.

Ngân hàng thế giới và ISPONRE, 2015: Việt Nam: –Lộ trình hạch toán vốn tài nguyên đến năm2020”

WWF-Greater Mekong, 2013.Giá trị kinh tế của dịch vụ hệ sinh thái tại lưu vực sông Mê công: Chúng ta biết điều gì và cần biết điều gì?”



Willenbockel, Dirk và Simon McCoy, 2010. Báo cáo Đánh giá Tác động của dự thảo Luật Thuế Môi trường đối với Việt Nam”. Báo cáo GTZ và Danida.

Phụ lục:


Phụ lục 1. Số liệu và dự báo kinh tê vĩ mô hàng năm



Chú thích: a-Thực tế; b- EIU ước tính; c-EIU dự báo

Nguồn: IMF, Thống kê tài chính quốc tế



Каталог: content -> dam -> vietnam -> docs -> Publications


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương