Việt nam vũ Xuân Nguyệt Hồng Đặng Thị Thu Hoài undp viet Nam, 2015


Vốn tài nguyên/ dịch vụ sinh thái và giảm nghèo



tải về 1.98 Mb.
trang3/9
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2019
Kích1.98 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Vốn tài nguyên/ dịch vụ sinh thái và giảm nghèo


Thảo luận trong mục này của Báo cáo nhằm xem xét mối liên hệ giữa vốn tài nguyên và giảm nghèo. Với Việt Nam, những loại vốn tài nguyên được xem xét trong mục này sẽ gồm có tài nguyên rừng, nông nghiệp, tài nguyên nước mặt và nước ngầm, thủy hải sản và khoáng sản. Đây là những loại tài nguyên được coi đóng vai trò quan trọng đối với đời sống và thu nhập của người dân, đặc biệt là người nghèo.
      1. Tài nguyên rừng


Việt Nam đã đạt kết quả đáng kể trong quản lý tài nguyên rừng trong thập kỉ qua. Sau khi độ che phủ rừng suy giảm nhanh chóng từ 43% xuống còn 27% trong giai đoạn 1943-1995, tình hình đã được cải thiện, đặc biệt từ khi Luật bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ra đời (2004). Hình 5 cho thấy đến năm 2013, độ che phủ rừng đã đạt 41% và gần mức của năm 1943. Diện tích rừng tự nhiên dường như đã được duy trì từ năm 2005 và chiếm 74.5% diện tích rừng cả nước và đạt 10.4 triệu ha vào năm 2013.
Hình 5. Biến động về diện tích và độ che phủ rừng giai đoạn 1943-2013





Nguồn: Số liệu các năm từ 1943-2005 lấy từ FAO, 2009: Asia – Pacific Forestry Sector Outlook Study II: Vietnam Forestry Outlook Study, Working Paper No. APFSOS II/WP/2009/09. Page:16; Số liệu các năm từ 2006-2013: Niên giám thống kê các năm (2010-2015) của Tổng cục thống kê.

Tổng sản lượng ngành lâm nghiệp tăng trưởng ổn định ở mức trung bình 4%/ năm trong một thập kỉ qua. Đạt được điều này chủ yếu nhờ hoạt động khai thác gỗ và các sản phẩm từ rừng ( chiếm 75-79% tổng sản lượng của ngành) trong khi dịch vụ ngành rừng chỉ đóng góp 5.3-5.8%; phần còn lại là từ các hoạt động khác như thu lượm các sản phẩm phi gỗ từ rừng (NTFP), trồng và chăm sóc rừng. Theo số liệu của Tổng cục thống kê (TCTK)6, đóng góp của ngành lâm nghiệp trong GDP không cao và có xu hướng giảm dần từ 0.67% vào năm 2010 xuống còn 0.64 % vào năm 2012. Tuy vậy, rừng và sản phẩm từ rừng đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của người dân, đặc biệt là dân nghèo ở nông thôn và vùng núi. Ít nhất 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào nguồn thu từ rừng do 20% thu nhập của họ là từ các sản phẩm của rừng (CIFOR, 2012). Sản phẩm gỗ từ rừng trồng là nguồn thu nhập quan trọng của hộ dân sống ở nông thôn (FAO). Bảng 3 cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa vùng có độ che phủ rừng lớn với tỷ lệ nghèo cao tại đó. Một nghiên cứu do Trung tâm nghiên cứu về rừng quốc tế (CIFOR) thực hiện năm 2006 đã sử dụng số liệu quốc gia và cũng khẳng định bằng chứng rằng những người sống dưới chuẩn nghèo và đặc trưng của nghèo ở Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với nơi có diện tích che phủ rừng cao7. Điều này cho thấy sinh kế của người nghèo đang bị thách thức trước mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển.



Bảng 3. Mối liên hệ giữa độ che phủ rừng và nghèo:
Bằng chứng nghèo và vùng có nhiều rừng


 

2010

2012

Vùng

Rừng

Tỷ lệ nghèo (%)

Rừng

Tỷ lệ nghèo (%)

 

Diện tích (ha)*

Độ che phủ (%)**

Diện tích (ha)*

Độ che phủ (%)**

Đông Bắc:

3093.4/2155.5

52.5

37.7

3253.6/2218.6

56.2

33.5

Tây Bắc

1581.6/1429.2

42.2

60.1

1671.6/1495.5

44.6

58.7

Đồng bằng sông Hồng

434.9/203.4

20.6

11.4

447/203

21.2

7.4

Trung du Bắc bộ :

2807.2/2127.2

54.4

28.4

2879.3/2166.3

56.0

21.2

Ven biển Nam Trung bộ

1919.8/1428.8

43.3

18.1

1984.9/1440.3

44.7

15.3

Tây nguyên

2874/2654

52.5

32.8

2903/2594

53.1

29.7

Đông Nam bộ

408.0/246.1

17.2

8.6

471.8/246

20.0

5.8

Đồng bằng sông Cửu long

268.9/61.1

6.6

18.7

249.2/59.5

6.1

16.2

Toàn quốc

13380/10300

39.5

20.7

13840/10400

40.7

17.2

Chú thích: (*) Diện tích rừng/ diện tích rừng tự nhiên. (**) Tính toán của tác giả dựa theo số liệu của TCTK.Nguồn: Số liệu về rừng: Niên giám thống kê, TCTK, 2011& 2013; Số liệu về nghèo: VHLSS 2010 & 2012 tại: http://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=483&idmid=4&ItemID=13888


      1. Nông nghiệp / Đất đai (gồm cả chăn nuôi)


Tổng sản lượng nông nghiệp (gồm hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp) tăng trưởng ở mức 4,3% hàng năm trong thập kỉ qua. Trong nông nghiệp, hoạt động trồng trọt là tiểu ngành có đóng góp quan trọng chiếm 73,8% tổng sản lượng toàn ngành vào năm 2013, thấp hơn chút ít so với mức 76,4% của năm 2005 nhờ các hoạt động chăn nuôi được mở rộng, khiến cho tiểu ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng tăng từ 21,9% lên 24,9% trong cùng thời kì. Hoạt động trồng trọt chủ yếu tập trung ở hai vùng đồng bằng lớn nhất nước là đồng bằng sông Hồng và sông Cửu long8. Sản xuất nông nghiệp sử dụng 1/3 diện tích đất cả nước, trong đó 39,8% để trồng lúa, 37,4% trồng màu, 22,4% trồng cây lâu năm và chỉ có 0,4% diện tích đất cho chăn nuôi. Diện tích đất nông nghiệp tăng lên đáng kể trong thập kỉ qua là do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và do phá rừng để lấy đất làm nông nghiệp của người dân.

Hoạt động nông lâm ngư nghiệp sử dụng 46,3% số lao động cả nước năm 20149 so với 53,7% năm 2005, chủ yếu là hoạt động nông hộ với qui mô sản xuất diện tích nhỏ dưới 0,5 ha. Khu vực này đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế hộ ở nông thôn, nhất là hộ nghèo ở nông thôn, nhưng thu nhập của hộ từ hoạt động thuần nông có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây do quá trình chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Năng suất trồng trọt đã liên tục được cải thiện nhờ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và chuyển đổi giống cây trồng. Tuy nhiên, đóng góp của ngành trong tăng năng suất của cả nước thì rất nhỏ10.



Thách thức:

Mặc dù đạt những kết quả ấn tượng, nhưng nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt nhiều thách thức và áp lực:



  • Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp tăng về số lượng nhưng chất lượng còn thấp và kém sức cạnh tranh. Chẳng hạn, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 89% mức giá trung bình của cà phê cùng loại thế giới. Tương tự, giá gạo và chè xuất khẩu chỉ ở mức tương ứng 79% và 54% của giá trung bình thế giới. Nguyên nhân chính là do sự gián đoạn của chuỗi giá trị nông sản và thiếu sự liên kết giữa các bên trong quá trình sản xuất nông nghiệp.

  • Thứ hai, năng suất nông nghiệp có cải thiện nhưng còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. như mô tả ở hình 6, giá trị gia tăng do một lao động nông nghiệp tạo ra có tăng lên chút ít trong giai đoạn 2006-2013 nhưng vẫn thấp hơn so với các nước như Trung quốc, Thái lan, Inđô nê xia hay Cam phu chia.

  • Thứ ba, hoạt động nông nghiệp của các hộ ở nông thôn đang phải đối mặt với thách thức trong nền kinh tế thị trường. Nguyên do là vì công nghệ kém, diện tích canh tác nhỏ lẻ; có quá ít các doanh nghiệp hoạt động nông nghiệp. Những vấn đề về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và tăng giá trị gia tăng cho nông sản đang rất cấp bách đối với tương lai phát triển và cải cách của ngành trong những năm tới.

  • Thứ tư, diện tích đất nông nghiệp có tăng nhưng đã đến ngưỡng giới hạn, và chịu nhiều thách thức do các tác động của biến đổi khí hậu. Trong tương lai, với xu hướng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp và đô thị thì việc mở rộng đất sẽ khó.

  • Thứ năm, nông nghiệp đang chịu tác động bởi quá trình thoái hóa đất, các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu (lụt lội và hạn hán). Điều này tới đây sẽ ảnh hưởng đáng kể tới nguồn thu nhập và sinh kế của các hộ sống dựa vào hoạt động nông nghiệp.



Hình 6. Năng suất ngành nông nghiệp của một số nước châu Á giai đoạn 2006-2013


Nguồn: Chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới, lấy từ nghiên cứu của Finn Tarp và cộng sự, 2015. “Tăng trưởng, Chuyển dịch cơ cấu và Những thay đổi của Nông thôn Việt Nam”. Báo cáo tổng hợp về điều tra hộ nông thôn Việt nam từ 2006 đến 2014. Tháng 8, 2015.

      1. Nước mặt và nước ngầm


a) Nguồn nước hiện có:

Việt Nam có gần 3,000 con sông, hàng ngàn hồ, đầm, đập tự nhiên với mực nước khác nhau cũng như hàng ngàn đập nhân tạo (Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển của Việt Nam 2011). Tuy nhiên nguồn nước phong phú này phân bổ không đồng đều và cũng rất khác nhau theo mùa do lượng mưa thất thường trong năm và khác nhau theo vùng địa lý. Đặc điểm này của nguồn nước mặt dẫn đến có thể xảy ra những hiện tượng cực đoan khác nhau như lụt lội và hạn hán cùng xảy ra một thời điểm tại các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước. Dưới tác động của biến đổi khí hậu ngày càng nặng nề trong những năm gần đây, các hiện tương cực đoan như lụt lội và hạn hán dường như xảy ra thường xuyên hơn và với mức độ trầm trọng hơn trước (Ngân hàng thế giới, 2012).

Việt Nam có lượng nước ngầm có chất lượng tốt được dùng cho sinh hoạt (nguồn nước ngầm chiếm 35-40% tổng lượng nước sinh hoạt) và các mục đích sử dụng khác (như cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp v.v.). Tuy vậy, một số nơi có lượng khai thác tập trung lớn thì nước ngầm lại không đảm bảo. Tại Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh, mực nước ngầm bị thấp đi đáng kể so với mực nước tự nhiên11. Việc khai thác nước ngầm quá mức cũng xảy ra tại vùng Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu long. Hiện có rất ít thông tin về chất lượng và khối lượng nước ngầm để có thể bảo đảm việc sử dụng hợp lí. Nước ngầm hiện cũng đang bị ô nhiễm và một số nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nặng tới mức không thể sử dụng.

Theo Báo cáo giám sát môi trường của Việt Nam năm 2012 (Bộ TNMT, 2012), nguồn nước của Việt Nam hiện khoảng 9.560 m3/người, thấp hơn một chút so với mức trung bình là 10.000 m3/người /năm của quốc gia có nguồn nước ở mức trung bình. Báo cáo này cũng dự báo là trong tương lai gần, Việt Nam có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu nước, thậm chí khủng hoảng về nước và điều đó sẽ đe dọa tới an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Hơn nữa, tác động của biến đổi khí hậu sẽ dẫn tới nhiều hiện tượng cực đoan liên quan tới nước như hạn hán và lụt lội ở Việt Nam. Điều này sẽ gây tác động mạnh tới kết quả thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và giảm nghèo trong những năm tới đây.



b) Sử dụng nguồn nước:

Cả nước sử dụng hơn 80 tỷ m3 khối nước hàng năm (Ngân hàng thế giới 2012). Hình 7 cho thấy sự phân bổ nguồn nước sử dụng hiện nay, theo đó nguồn nước chủ yếu được dùng cho hoạt động nông nghiệp (chủ yếu dùng cho thủy lợi và nuôi trồng thủy sản). Đến năm 2020, lượng nước sử dụng sẽ tăng lên gần gấp rưỡi với nước dùng cho công nghiệp và đô thị sẽ tăng mạnh (Bộ MONRE, 2012).


Hình 7. Sử dụng nguồn nước theo lĩnh vực (%)





Nguồn: Ngân hàng thế giới 2012. “Báo cáo phát triển của Việt Nam 2011: Quản lí nguồn tài nguyên”

Thách thức:

  • Quản lí tổng hợp nguồn nước (IWRM) đã được Chính phủ thúc đẩy nhưng kết quả thực tế còn hạn chế do thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu nguồn đầu tư và năng lực quản lí, nhất là ở cấp địa phương. Thông tin về nguồn nước (cả nước mặt và nước ngầm) còn ít và điều này gây khó khăn cho công tác dự báo vê nguồn nước.

  • Thiếu sự lồng ghép yếu tố nguồn nước hiện có trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, trong qui hoạch những ngành có liên quan tới nguồn nước (như cấp nước, nông nghiệp, công nghiệp v.v.). Điều này dẫn đến việc khai thác quá mức nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cũng như sử dụng nguồn nước lãng phí. Việt Nam có áp dụng thuế tài nguyên đối với khai thác nguồn nước nhưng điều này lại chưa dẫn đến sự thay đổi thái độ của của người sử dụng nước. Hiện tại, giá nước đang ở mức thấp và được coi là chưa phản ảnh đầy đủ giá trị thật của nguồn nước cấp.

  • Ô nhiễm nguồn nước ngày càng trở nên đáng lo ngại do các hoạt động tại đô thị và khu công nghiệp phát triển nhanh chóng. Mặc dù nguồn nước đầu nguồn có chất lượng còn khá tốt nhưng chất lượng nước cuối nguồn đang xấu đi do sự gia tăng ô nhiễm đô thị và công nghiệp12.
      1. Thủy sản – Thủy và hải sản


Ngành thủy sản hiện đóng vai trò ngày càng quan trọng ở Việt Nam. Ngành này, bao gồm các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã tăng trưởng nhanh chóng trong một thập kỉ qua. Sản lượng của ngành tăng trung bình trên 9% /năm và đạt gấp đôi trong giai đoạn 2005-2014 (xem hình 8). Hình 8 cũng cho thấy xu thế giảm tỷ trọng đánh bắt thủy hải sản trong tổng sản lượng thủy sản, từ mức 74% vào năm 2000 xuống 57% năm 2005 và 46% vào năm 2014.

Hình 8. Kết quả sản lượng và xuất khẩu thủy sản trong giai đoạn 2000-2014





Nguồn
: Tổng cụ thống kế, TCTK 2015
Tăng trưởng nhanh chóng của ngành thủy sản Việt Nam còn được thể hiện qua giá trị xuất khẩu với mức tăng 5 lần sau 14 năm, từ 1.5 tỷ đô la vào năm 2000 lên tới 7.8 tỷ đô la năm 2014. Thành tích xuất khẩu này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 quốc gia hàng đầu veef xuất khẩu thủy sản13. Theo số liệu gần đây, ngành thủy sản đóng góp 3.67% GDP vào năm 2013 hay hơn 1/3 tổng giá trị gia tăng của toàn ngành nông lâm thủy sản14. Ngành chế biến thủy sản sử dụng hơn 4 triệu lao động trong các lĩnh vực chế biến, phân phối và marketing. Ngoài ra, ngành này đóng góp vào tăng thu nhập của hộ nông dân chủ yếu những hộ sống ở vùng ven biển và đồng bằng sông Cửu long thông qua việc tạo thêm việc làm mùa vụ và bán thường xuyên cho họ. Tuy vậy, thu nhập từ hoạt động thủy sản trong tổng thu nhập của hộ dân cư nông nghiệp lại có xu hướng giảm từ 5.3% năm 2004 xuống còn 3.1% năm 2012. Tương tự, xu thế này cũng quan sát thấy ở nhóm hộ có thu nhập thấp nhất, giảm từ 3.2% năm 2004 xuống còn 2.8% vào năm 201215.

Thách thức:


  • Hầu hết nguồn thủy sản gần bờ đã bị khai thác quá mức và hiệu suất đánh bắt của ngư dân liên tục suy giảm khiến cho cuộc sống của cộng đồng ngư dân vùng ven biển dựa vào đánh bắt hải sản trở nên khó khăn trong khi họ bị hạn chế trong lựa chọn ngành nghề thay thế. Vùng biển ngoài khơi phía Bắc cũng bị đánh bắt quá mức khiến cho nguồn lợi hải sản bị suy giảm.

  • Còn có những sức ép khác đối với nguồn lợi thủy hải sản như việc sử dụng các phuwong tiện bị cấm để khai thác hải sản, có quá nhiều tàu thuyền cùng khai thác một nơi hay thiếu năng lực quản lí nguồn hải sản16.
      1. Ngành khai khoáng


Việt Nam có lợi thế về tài nguyên với gần 60 loại khoáng sản phong phú. Sản lượng ngành khai khoáng chiếm khoảng 10-15% tổng sản lượng ngành công nghiệp cả nước trong thập kỉ qua. Sản lượng khai thác ba loại khoáng sản chính là dầu thô, khí tự nhiên và than đã chiếm 87% tổng sản lượng ngành này và chiếm 71.6% tổng lượng cung năng lượng sơ cấp cả nước năm 2012 (Cơ quan năng lượng quố tế IEA, 2015)17, và xu thế khai thác những loại khoáng sản này đươc mô tả ở Hình 9.

Hình 9. Xu hướng khai thác khoáng sản giai đoạn 2005 – 2013




Nguồn: Tổng cục thống kê GSO, 2014

Công nghiệp khai khoáng đóng góp ngày càng tăng vào GDP, từ mức 9,73% năm 2005 lên 11,49% năm 2013 (GSO, 2014), 70-75% trong số đó là từ khai thác các loại khoáng sản chính như trên đã đề cập. Ngành này ước tính đóng góp khoảng 25% tổng thu ngân sách quốc gia và tạo ra 430.000 việc làm18. Tuy vậy, thiếu công khai minh bạch trong quản lí đã dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của ngành, gây tác động tiêu cực về mặt xã hội và môi trường và tạo nên sự bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích. Hầu hết các mỏ và hoạt động sản xuất của ngành khai khoáng ở Việt Nam là do các doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài đảm nhiệm, mặc dù bên cạnh đó có hàng ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng tham gia lĩnh vực này19. Thông tin về hoạt động và tính giải trình của các công ty khai khoáng còn hạn chế và thiếu minh bạch.

Việt Nam đã xác định tham gia vào Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) vào năm 2015 như là một cách để cải thiện hiệu quả quản lí tài nguyên khoáng sản và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại việc thực hiện sáng kiến này mới đang ở giai đoạn đầu với các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và một số thí điểm qui mô nhỏ. EITI vẫn chưa được triển khai và chưa được chính phủ Việt Nam thể chế hóa.

Thách thức:


  • Nghiên cứu do Viện tư vấn về phát triển (CODE)20 thực hiện đã chỉ ra rằng tổn thất trong quá trình khai thác khoáng sản ở Việt Nam còn ở mức rất cao. Chẳng hạn, tổn thất trong quá trình khai thác than hầm lò ở mức 40-60%; khai thác a pa tit là từ 26-43%, khai thác kim loại là 15-30%. Tổn thất trong quá trình sơ chế cũng ở mức cao.

  • Nguồn khoáng sản của Việt Nam không lớn về trữ lượng và các mỏ nằm rải rác khắp nước. Gần đây việc tăng cường khai thác nguồn khoang sản đã được coi là một cách để thúc đẩy tăng trưởng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn khoáng sản dành cho thế hệ tương lai sử dụng21.

  • Có hàng loạt các vấn đề về môi trường nảy sinh liên quan tới hoạt động khai khoáng. Nhiều mỏ khai thác làm ô nhiễm nguồn nước do thiếu sụ quản lí nguồn nước thải ra; tất cả các công đoạn khai thác và chế biến khoáng sản đều gây ô nhiễm bụi quá mức cho phép, đặc biệt là tại các mỏ than và đá22.

  • Trách nhiệm xã hội và việc thực thi luật lệ của các công ty khai khoáng trên thực tế còn xa so với những gì họ cam kết và với những qui định của pháp luật. Nhìn chung, luật lệ liên quan tới hoạt động khai khoáng và kiểm soát ô nhiễm chưa được các công ty này tuân thủ nghiêm túc.
      1. Những thách thức chính


Thông tin và phân tích trong các tiểu mục 1.2.1-1.2.5 cho phép rút ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, vốn tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Tuy vậy, việc tập trung vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập thời gian qua đã dẫn đến hệ lụy làm gia tăng thách thức đối với môi trường do sử dụng quá mức hoặc không hiệu quả vốn tài nguyên hiện có. Hiện trạng này là do giá trị của tài nguyên cũng như tổn phí của quá trình suy thoái tài nguyên chưa được tính hoặc được đánh giá ở mức thấp trong các hoạt động kinh tế và sinh hoạt của hộ dân. Gần đây Ngân hàng thế giới đã hỗ trợ Bộ TNMT (Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường) thực hiện một nghiên cứu “Việt Nam- Lộ trình cho hạch toán vốn tài nguyên tới năm 2020”23 . Nghiên cứu này tập trung vào một số loại tài nguyên quan trọng nhất như đất đai, rừng, nước, thủy sản và khoáng sản. Dự kiến việc thực hiện trên thưc tế lộ trình được kiến nghị này sẽ diễn ra trong tương lai khi Việt Nam đang xem xét tham gia Nhóm hợp tác về Hạch toán phúc lợi và Định giá dịch vụ sinh thái (WAVES). Tuy vậy, để các tài khoản tài nguyên này được lồng ghép trong Hệ thống tài khoản quốc gia SNA sẽ còn nhiều việc phải làm.

Thứ hai, đã có một số tiến bộ trong quản lí tài nguyên trong những năm gần đây, nhất là từ khi thành lập bộ TNMT và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lí tài nguyên. Song, sự phối hợp giữa các bên liên quan trong quản lí và sử dụng khai thác tài nguyên chưa được hình thành và vận hành tốt. Việc thực thi pháp luật về quản lí tài nguyên thiên nhiên còn hạn chế.

Thứ ba, vấn đề về xác định địa tô của vốn tài nguyên cũng như phân bổ chúng ra sao hiện chưa được thảo luận và nghiên cứu thấu đáo. Nguyên nhân là do: i) thiếu nguồn thông tin đầu vào; ii) những thông tin hiện có lại không được công bố; iii) năng lực quốc gia còn hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu đã được thực hiện liên quan tới định giá và hach toán tài nguyên đều có sự hỗ trợ của nhà tài trợ phát triển quốc tế. Vấn đề về phân bổ lợi địa tô của tài nguyên giữa các bên liên quan, đặc biệt đối với người nghèo, cũng như phân bổ lợi ích giữa thế hệ hiện tại và tương lai vẫn chưa được xem xét thấu đáo.



Каталог: content -> dam -> vietnam -> docs -> Publications


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương