Việt nam vũ Xuân Nguyệt Hồng Đặng Thị Thu Hoài undp viet Nam, 2015


Tương tác giữa nghèo và môi trường



tải về 1.98 Mb.
trang2/9
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2019
Kích1.98 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Tương tác giữa nghèo và môi trường

    1. Tổng quan về nghèo

      1. Xu hướng nghèo theo thu nhập của cả nước và vùng


Ở Việt Nam hiện có 3 cách chính để xác định chuẩn nghèo: (i) Chuẩn nghèo quốc gia mang tính hành chính do MOLISA sử dụng để xác định mục tiêu cho các chương trình giảm nghèo của chính phủ; (ii) Chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới (GSO-WB) và (iii) Chuẩn nghèo quốc tế, với hai cách tính phổ biến, nghèo thu nhập dưới 1,25 Đô la/ngày (theo sức mua tương đương năm 2005) và dưới 2 đô la/ngày (theo sức mua tương đương năm 2005). Trong số đó, chuẩn nghèo GSO-WB là cách tính chuẩn nghèo chính xác nhất để đánh giá tình hình giảm nghèo ở Việt Nam theo thời gian bởi phương pháp này giữ nguyên sức mua thực tế của hộ gia đình (xem Phụ lục 3)

Cho dù tính theo chuẩn nghèo nào thì kết quả cũng cho thấy Việt Nam đã đạt thành quả giảm nghèo ấn tượng trong những thập kỉ qua (xem Hình 4). Tỷ lệ người nghèo của quốc gia đã giảm một nửa trong sáu năm từ mức 28,9% của năm 2002 xuống còn 14,5% năm 2008 và sau đó tiếp tục giảm từ 20,7% năm 2010 xuống 17,2% vào năm 2012 tính theo chuẩn nghèo của GSO-WB.



Hình 4. Tỷ lệ người nghèo của Việt Nam tính theo các chuẩn nghèo khác nhau



Nguồn: Gabriel and Linh (2015)

Một trong những đặc trưng của quá trình giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian qua là tốc độ giảm nghèo của các nhóm dân cư đạt được là khác nhau, mặc dù xu hướng là khá tương đồng. Có thể thấy rõ từ Bảng 1 là nghèo hiện nay tập trung nhiều hơn ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và một số vùng như vùng núi và Tây Nguyên. Tại những nơi này, tỷ lệ nghèo giảm chậm trong 10 năm qua, thậm chí tại vùng miền núi Tây bắc, tỷ lệ nghèo còn nhích lên chút ít trong giai đoạn 2006-2008.



Bảng 1. Tỷ lệ nghèo ở Việt Nam tính theo chuẩn nghèo chi tiêu của GSO-WB, %






2002


2004

2006

2008

2010

2012

Tỷ lệ người nghèo

28.9

19.5

15.9

14.5

20.7

17.2

Theo



















Thành thị

7

4

4

2.5

6.0

5.4

Nông thôn

36

25

22

16

26.0

22.1

Theo nhóm dân tộc



















Đa số (Kinh)

26

14

11

7.4

12.9

9.9

Thiểu số

74

61

54

47.5

66.3

59.2

Theo 8 vùng



















Đông Bắc

38

29

27

19

37.7

33.5

Tây bắc

68

59

51

58.4

60.1

58.7

Đồng bằng sông Hồng

22

12

10

6.5

11.4

7.4

Duyên hải Bắc trung bộ

44

32

30

15.6

28.4

21.2

Duyên hải Nam Trung bộ

25

19

14

16

18.1

15.3

Tây nguyên

52

33

30

22.2

32.8

29.7

Đông Nam bộ

11

5

6

4.5

8.6

5.8

Đồng bằng sông Cửu Long

23

16

11

11.5

18.7

16.2

Nguồn: VASS (2007), Valerie và cộng sự (2013) và GSO (2014).
      1. Nghèo đa chiều


Đi đôi với giảm nghèo theo thu nhập, số liệu thống kê quốc gia cũng cho thấy sự tiến bộ đáng ghi nhận về giảm nghèo phi thu nhập ở Việt Nam. Đã đạt được sự tiến bộ đáng kể trong giảm nghèo ở tất cả các khía cạnh, bao gồm y tế, giáo dục và tiếp cận với các điều kiện hạ tầng. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở cấp tiểu học đã đạt tới mức 92% vào năm 2010. Tỷ lệ nhập học cấp trung học trong giai đoạn 1993-2010 là hết sức ấn tượng, từ mức khoảng 30% của năm 1993 tới hơn 80% vào năm 2010 đối với cấp THCS và từ 6-8% của năm 1993 tới 50%-60% vào năm 2010 đối với cấp THPT. Đặc biệt, tỷ lệ nhập học cấp trung học của nữ giới cao hơn chút ít so với nam giới vào năm 2010. Xu hướng tương tự như vậy cũng diễn ra đối với những chỉ tiêu về y tế và khả năng tiếp cận điều kiện hạ tầng và vật dụng lâu bền (xem thông tin tại Phụ lục 3 (6)). Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) của Việt Nam được tính toán trong Báo cáo Phát triển con người và sử dụng phương pháp tính của Alkire và Fostevaf với ba khía cạnh, gồm y tế, giáo dục, và mức sống (UNDP, 2014). Kết quả cho thấy tỷ lệ người nghèo đa chiều của Việt Nam chỉ ở mức 6,4%, đưa Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ người nghèo đa chiều thấp hơn so với tỷ lệ người nghèo tính theo thu nhập (chuẩn nghèo thu nhập $1.25/ ngày). Tuy vậy, con số này chỉ được tính cho một năm (2010) và vì vậy không thể thấy được xu hướng chung3. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng chuẩn nghèo đa chiều của mình dựa theo một số khía cạnh và tiêu chí và từ đó lại cho kết quả cao hơn. Phương pháp tính nghèo đa chiều này đã được nghiên cứu của Ha Le và cộng sự (2014) sử dụng, song với một số khía cạnh hơi khác và thêm một vài chỉ số mới đối với y tế và mức sống4. Kết quả của nghiên cứu này được biểu diễn ở bảng 2. Rõ ràng rằng tỷ lệ nghèo sẽ khác nhau tùy theo việc sử dụng ngưỡng nghèo nào (tương tự như chuẩn nghèo thu nhập). Mặc dù vậy, nghiên cứu này cũng chỉ ra có sự tiến bộ trong giai đoạn 2010-2012. Bảng 2 cũng mô tả sự khác biệt về tỷ lệ nghèo đa chiều theo vùng miền và dân tộc, nhưng không quá khác biệt như cách tính nghèo theo thu nhập như mô tả ở bảng 1.
Bảng 2: Tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam, %






Ngưỡng cắt 0,5

Ngưỡng cắt 0,4

Ngưỡng cắt 0,33




2010

2012

2010

2012

2010

2012

Chỉ số MPI toàn quốc

11,4

10,6

32,7

30

52

49

Theo dân tộc



















Đa số (Kinh)

9,2

8,9

29,9

27,1

49

45,8

Thiểu số

24,6

21,2

50,3

47,7

71

69,1

Theo vùng



















Nông thôn

13,3

12,4

36,6

33,5

57,4

54,5

Thành thị

7

6,6

23,7

21,7

39,8

36,3

Nguồn: Ha Le và cộng sự (2014)
      1. Thách thức đối với giảm nghèo


Mặc dù đạt được thành tựu giảm nghèo nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng5 Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức về giảm nghèo. Trước hết, nghèo của Việt Nam tập trung ở những vùng có đồng bào thiểu số và một số vùng khác trong nhiều năm. Trong khi các khu vực của người Kinh và nhiều vùng miền có tỷ lệ giảm nghèo đáng kể, thì nhóm dân tộc thiểu số và khu vực miền núi vẫn có tỷ lệ nghèo cao hơn rất nhiều. Số người nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tới hơn một nửa tổng số người nghèo và chiếm ¾ trong tổng số người cực nghèo của cả nước vào năm 2012 (World Bank, 2013). Quan trọng hơn, phần lớn người nghèo dân tộc thiểu số là nhóm nghèo kinh niên và cùng cực. Tỷ lệ nghèo tại vùng núi Tây bắc cao gấp 3 lần tỷ lệ nghèo của cả nước mặc dù chính phủ đã thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ giảm nghèo (như chương trình 135 giai đoạn 1 và 2). Nhìn chung, tăng năng suất nông nghiệp chính là động lực chính dẫn đến giảm nghèo. Điều đó cho thấy cần có những nỗ lực mang tính sáng tạo hơn nữa để giải quyết vấn đề của nhóm dân tộc thiểu số, thông qua đẩy mạnh hơn nữa tăng trưởng kinh tế tại những vùng này, tăng cường các chương trình hỗ trợ xã hội cũng như các chương trình hỗ trợ phù hợp cho địa phương, theo đó rào cản văn hóa cần được xem xét một cách nghiêm túc.

Thứ hai, thành quả về giảm nghèo bền vững trong giai đoạn vừa qua hiện đang đặt ra vấn đề đáng lo ngại. Nghiên cứu của Valeria et al. (2013) chỉ ra rằng tỷ số người được coi là nghèo ít nhất trong một năm trong thời kì 2004-2008 (tức là trong năm 2004, hay 2006, hay 2008) cao hơn 1.7 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước trong suốt thời gian này như trình bày tại Phụ lục 3(4). Tình trạng này là do các cú sốc, trong đó có các cú sốc về sức khỏe, về thời tiết ngày một tăng và phổ biến, dẫn đến những cú sốc về thu nhập khác. Mức độ dễ bị tổn thương tăng lên tại khu đô thị, trong khi đó hệ thống bảo trợ xã hội, nhất là hỗ trợ xã hội ở Việt Nam còn kém phát triển. Điều này làm cho những nhóm người dễ bị tổn thương dễ bị rơi lại vào tình trạng nghèo chỉ sau một cú sốc bất ngờ hay do những những tác động khác.



Thứ ba, số liệu thống kê cho thấy xu hướng bất bình đẳng tăng lên. Cũng theo nghiên cứu của Valerie và cộng sự (2013), tỷ trọng thu nhập của 5% nhóm người giàu nhất đã tăng thêm khoảng 2% trong giai đoạn 2004-2010. Trong khi đó, tỷ trọng thu nhập của 10% nhóm nghèo nhất đã giảm 20% trong cùng thời kì. Bất bình đẳng về thu nhập ở mức độ nào đó cũng bắt nguồn từ bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ về giáo dục, đào tạo, y tế, tài sản, đặc biệt là tiếp cận đất đai và một công việc bền vững. Xu hướng bất bình đẳng gia tăng này có thể sẽ khiến Việt Nam khó khăn hơn nhiều trong việc giảm nghèo ngay cả khi duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    1. Каталог: content -> dam -> vietnam -> docs -> Publications


      Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương