Việt nam vũ Xuân Nguyệt Hồng Đặng Thị Thu Hoài undp viet Nam, 2015



tải về 1.98 Mb.
trang1/9
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2019
Kích1.98 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9

Nghiên cứu phạm vi lồng ghép nghèo

và bền vững trong lập kế hoạch phát triển quốc gia

Báo cáo quốc gia của VIỆT NAM

Vũ Xuân Nguyệt Hồng

Đặng Thị Thu Hoài

© UNDP Viet Nam, 2015

Ảnh bìa: UNDP Viet Nam/Shutterstock

Trình bày: UNDP Viet Nam, Phan Hương Giang

Nội dung


Giới thiệu ………………………………………………………………………………………………………………..1

Tương tác giữa nghèo và môi trường 4

1.1Tổng quan về nghèo 4

1.1.1Xu hướng nghèo theo thu nhập của cả nước và vùng 4

1.1.2Nghèo đa chiều 5

1.1.3Thách thức đối với giảm nghèo 6

1.2Vốn tài nguyên/ dịch vụ sinh thái và giảm nghèo 6

1.2.1Tài nguyên rừng 7

2.1.1Nông nghiệp / Đất đai (gồm cả chăn nuôi) 8

2.1.2Nước mặt và nước ngầm 10

2.1.3Thủy sản – Thủy và hải sản 11

2.1.4Ngành khai khoáng 12

2.1.5Những thách thức chính 13

Khung chính sách 14

2.2Các luật lệ, chính sách, chiến lược và kế hoạch hiện hành 14

2.2.1Các luật lệ, chính sách, chiến lược và kế hoạch có lồng nghép 14

2.2.2Chính sách giảm nghèo/phát triển xã hội 15

2.2.3Kinh tế xanh 17

2.2.4Khu vực tư nhân 18

2.2.5Chính sách tài khóa 19

2.3Những hạn chế và thách thức 20

Quá trình lập và thực hiện kế hoạch phát triển cấp quốc gia 21

2.4Tổng quan về qui trình lập và thực hiện kế hoạch/chính sách phát triển 21

2.5Phối hợp và xác định tầm nhìn 25

2.6Đánh giá – Công cụ và phương pháp 26

2.7Soạn thảo và xây dựng kế hoạch/chính sách 28

2.8Phê duyệt và thông qua 30

2.9Tài chính và ngân sách 31

2.10Tổ chức thực hiện 35

2.11Giám sát và đánh giá (M&E) 36

Những cơ hội và hành động tiếp theo 38

2.12Những hành động về ngắn hạn 38

2.13Những hành động về dài hạn 40



Phụ lục: 44

Danh mục chữ viết tắt







ADB

Ngân hàng phát triển châu Á

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AusAid

Cơ quan hỗ trợ phát triển Úc

CGE

Mô hình cân bằng tổng thể khả tính

CIDA

Cơ quan hỗ trợ phát triển Quốc tế Canada

CIFOR

Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế

CIT

Thuế thu nhập doanh nghiệp

CODE

Trung tâm phát triển và kinhtế

CPC

Hội đồng nhân dân xã

CPRGS

Chiến lược tổng thể về tăng trưởng và giảm nghèo

DFAT

Bộ ngoại giao và thương mại Anh

DOF

Sở tài chính

DPC

Hội đồng nhân dân huyện

DPI

Sở kế hoạch và đầu tư

EIA

Đánh giá tác động môi trường

EITI

Sáng kiến minh bạch về công nghiệp khai khoáng

FAO

Cơ quan lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDI

Chỉ số phát triển giới

GDP

Tổng sản phẩm quôc nội

GHG

Khí nhà kính

GINI

Hệ số bất bình đẳng

GIZ

Cơ quan hợp tác phát triển Đức

GSO

Tổng cục thống kê

HDI

Chỉ số phát triển con người

IEA

Cơ quan năng lượng quốc tế

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

ISPONRE

Viện chính sách và chiến lược tài nguyên và môi trường

JICA

Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật bản

M&E

Giám sát và đánh giá

MARD

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

MOF

Bộ Tài chính

MOIT

Bộ công thương

MOLISA

Bộ Lao động, thương binh xã hội

MPI

Bộ Kế hoạch và đầu tư

NA

Quốc hội

NGGAP

Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh quốc gia

NGGS

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh

NGOs

Tổ chức phi chính phủ

NTFP

Sản phẩm rừng phi gỗ

NTP

Chương trình mục tiêu quốc gia

ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức

PEP

Dự án về giảm nghèo - môi trường

PFES

Chi trả cho dịch vụ môi trường rừng

PPC

Ủy ban nhân dân tỉnh

PPP

Sức mua tương đương

RIA

Đánh giá tác động luật pháp

SEA

Đánh giá tác động môi trường chiến lược

SEDP

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

SEDS

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội

SEEA

Hệ thống hạch toán môi trường và kinh tế

SMEs

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

SNA

Hệ thống tài khoản quốc gia

SOE

Doanh nghiệp nhà nước

TCVN

Hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam

TPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

UNDP

Chương trình phát triển Liên hợp quốc

VASEP

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

VBCSD

Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam

VCCI

Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

VHLSS

Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

WB

Ngân hàng thế giới

EU

Liên minh châu Âu

FTA

Hiệp định thương mại tự do

WAVES

Hạch toán phúc lợi và định giá dịch vụ hệ sinh thái







Danh mục các hình

Hình 1. Xu hướng tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của Việt Nam giai đoạn 2005-2013 1

Hình 2. Cường độ phát thải khí CO2 của các nước ASEAN và một số nước châu Á giai đoạn 2005-2012 2

Hình 3. Tổng tiêu dùng năng lượng sơ cấp trên một Đôla GDP 2

Hình 4. Tỷ lệ người nghèo của Việt Nam tính theo các chuẩn nghèo khác nhau 4

Hình 5. Biến động về diện tích và độ che phủ rừng giai đoạn 1943-2013 7

Hình 6. Năng suất ngành nông nghiệp của một số nước châu Á giai đoạn 2006-2013 9

Hình 7. Sử dụng nguồn nước theo lĩnh vực (%) 10

Hình 8. Kết quả sản lượng và xuất khẩu thủy sản trong giai đoạn 2000-2014 11

Hình 9. Xu hướng khai thác khoáng sản giai đoạn 2005 – 2013 12

Hình 10. Xu hướng dòng tài chính phát triển của Việt Nam thời kì 2006-2012 31

Hình 11. Xu hướng luồng vốn ODA vào Việt Nam giai đoạn 2007-2012 33


Danh mục các bảng biểu

Bảng 1. Tỷ lệ nghèo ở Việt Nam tính theo chuẩn nghèo chi tiêu của GSO-WB, % 5

Bảng 2: Tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam, % 5

Bảng 3. Mối liên hệ giữa độ che phủ rừng và nghèo: Bằng chứng nghèo và vùng có nhiều rừng 8

Bảng 4. Xu hướng chi ngân sách cho bảo vệ môi trường (2007-2014) 34



Danh mục các sơ đồ

Sơ đồ 1. Tổng hợp quá trình lập kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội 22

Danh mục các hộp

Hộp 1. Nội dung Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020 29

Hộp 2: Danh mục các chương trình và quĩ hỗ trợ tài chính cho giảm nghèo và bảo vệ môi trường trong thời kì 2011-2015 34



Lời cảm ơn

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cám ơn sự hỗ trợ, hướng dẫn tận tình và những đóng góp ý kiến xác đáng từ các chuyên gia của UNDP, gồm Camille Bann và Richard Marshall. Báo cáo này sẽ không thể hoàn thành nếu thiếu sự hỗ trợ, chia sẻ thông tin từ các đồng nghiệp đến từ các cơ quan: Viện Nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và đầu tư), Viện Chiến lược và Chính sách Tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên và môi trường), Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.



Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và nguồn lực, chắc chắn Báo cáo này không thể tránh sai sót. Tất cả những nhận định và kết quả trong Báo cáo không nhất thiết phản ánh quan điểm của UNDP hay của cơ quan mà nhóm nghiên cứu đang làm việc. Nhóm nghiên cứu xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những sai sót và hạn chế của Báo cáo này.

Tóm tắt tổng quan

Tương tác giữa nghèo đói và môi trường ở Việt Nam

  1. Việt Nam đã đạt thành tựu ấn tượng về giảm nghèo trong 3 thập kỉ qua. Dù tính theo chuẩn nghèo nào thì kết quả cũng cho thấy tỷ lệ người nghèo cả nước liên tục giảm, giảm tới một nửa trong giai đoạn 2002-2008 (từ 28,9% xuống 14,5%) và tiếp đó tiếp tục giảm từ mức 20,7% năm 2010 xuống còn 17,2% năm 2012 (theo cách tính chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới). Cùng với giảm nghèo về thu nhập, Việt Nam cũng đạt tiến bộ đáng ghi nhận trong giảm nghèo theo tiêu chí phi thu nhập, gồm tiêu chí về y tế, giáo dục, khả năng tiếp cận hạ tầng và tài sản lâu bền. Tỷ lệ nhập học cấp tiểu học (theo đúng độ tuổi) tăng lên mức 98,6% năm 2014. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở cấp trung học trong giai đoạn 1993-2014 tăng hết sức ấn tượng, từ mức 30% năm 1993 lên tới hơn 90,4% năm 2014 đối với cấp trung học cơ sở và từ khoảng 6-8% năm 1993 lên 70% năm 2014 đối với cấp trung học phổ thông.



  1. Tuy nhiên, kết quả về giảm nghèo đã phải trả giá đáng kể về môi trường. Quá trình chuyển dịch nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ có đóng góp vào giảm nghèo ở Việt Nam, song đã dẫn tới sự suy giảm chất lượng môi trường đáng kể. Tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác theo cách thiếu bền vững. Ví dụ, hầu hết nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và hiệu quả đánh bắt liên tục suy giảm, ảnh hưởng tới đời sống của cộng đồng dân cư sống ven bờ vốn có nguồn thu nhập chủ yếu từ đánh bắt hải sản. Đất nông nghiệp đang phải đối mặt với hiện tượng suy giảm chất đất, và chịu tác động của biến đổi khí hậu vớinhững hiện tượng cực đoạn (hạn hán, lụt lội).



  1. Giảm nghèo ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu do quá trình tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên nhưng với hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp. Phần lớn người nghèo đều phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, với sản lượng tăng lên trong khi chất lượng vẫn thấp và kém cạnh tranh. Nhìn chung, năng suất nông nghiệp của Việt Nam có cải thiện nhưng còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia hay Campuchia. Các hộ gia đình ở nông thôn vẫn chủ yếu sử dụng công nghệ thấp để sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu là do sự manh mún đất nông nghiệp, sự rời rạc của chuỗi giá trị và thiếu sự gắn kết giữa những bên liên quan trong sản xuất nông nghiệp.



  1. Tỷ lệ người cận nghèo ở Việt Nam còn cao. Nghiên cứu của Valerie và cộng sự (2013) cho thấy tỷ số dân cư dễ bị tổn thương với nghèo đói ở mức 1,7 của cả nước và 2,1 ở vùng đô thị trong thời kì 2004-2008. Điều này có nghĩa là tỷ lệ dân được coi là nghèo ít nhất trong một năm (vào năm 2004, hay 2006, hay 2008) cao hơn 1,7 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước trong suốt 3 năm. Tình trạng này là do các cú sốc khác nhau, trong đó có các cú sốc về sức khỏe, về thời tiết ngày một tăng và phổ biến dẫn đến những cú sốc về thu nhập khác. Điều này làm cho những nhóm người dễ bị tổn thương dễ bị rơi lại vào tình trạng nghèo chỉ sau một cú sốc bất ngờ hay do những tác động khác.



  1. Mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường ở Việt Nam cho thấy nguy cơ về sự thiếu bền vững. Đời sống của phần lớn người nghèo phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ sinh thái. Việc khai thác tài nguyên thiếu bền vững hiện nay sẽ làm cho người nghèo và cận nghèo trở nên dễ bị tổn thương hơn trong tương lai. Hơn nữa, trong khi người cận nghèo rất dễ bị tổn thương trước các cú sốc do thời tiết thì những tổn phí môi trường hiện tại do tăng trưởng kinh tế sẽ làm cho họ càng dễ bị trở thành nghèo trong tương lai.



  1. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói và suy giảm môi trường sẽ trở nên trầm trọng hơn trong tương lai nếu thời điểm này không tiến hành ngay sự can thiệp chính sách để bảo đảm sự bền vững. Như đã nêu, trong thập kỉ qua, kết quả giảm nghèo đã đi kèm với suy giảm môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Sự suy giảm này sẽ làm cho người dân rất dễ trở thành nghèo. Và, để thoát nghèo họ lại cố gắng khai thác tiếp nguồn tài nguyên thiên nhiên với cách kém hiệu quả và thiếu bền vững. Cuối cùng, điều này rõ ràng làm cho tài nguyên và môi trường lại tiếp tục bị hủy hoại. Vòng luẩn quẩn này cần phải được phá vỡ bằng can thiệp chính sách bền vững, theo đó sẽ đồng thời cải thiện đời sống người nghèo và vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái.



  1. Lồng ghép nghèo và môi trường trong lập kế hoạch phát triển là cách tiếp cận tốt cho phép xây dựng chính sách bền vững một cách hiệu quả. Cách tiếp cận này bảo đảm việc xóa nghèo và bền vững môi trường đạt được song hành với quá trình tăng trưởng kinh tế (UNDP & UNEP, 2013). Cách tiếp cận này đòi hỏi quản lý nhà nước hiệu quả, sự phối hợp chính sách và thống nhất giữa các cơ quan chính phủ và các bên liên quan để thực sự hiểu rõ và quản trị hiệu quả mối tương tác giữa tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và môi trường, đồng thời, bảo đảm các chính sách và kế hoạch được xây dựng và thực hiện sao cho kết quả của khía cạnh này không dẫn đến phải trả giá đắt cho khía cạnh khác.

Thực trạng về lồng ghép nghèo và bền vững trong lập kế hoạch phát triển quốc gia

  1. Trong thập kỉ vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc lồng ghép yếu tố nghèo và bền vững môi trường trong quá trình lập kế hoạch phát triển quốc gia. Chủ trương chính sách của Nhà nước đã chuyển từ coi trọng yếu tố giảm nghèo đơn thuần sang thể hiện đồng thời yếu tố nghèo và môi trường trong những năm gần đây. Khuôn khổ pháp lý cho việc lồng ghép nội dung phát triển bền vững trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch phát triển ngành đã được xây dựng theo Quyết định về Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững giai đoạn 2013-2015 và các văn bản có liên quan khác.



  1. Việc thực hiện lồng ghép nghèo và bền vững hiện mới đang ở giai đoạn ban đầu. Các văn bản hướng dẫn cụ thể về lồng ghép phát triển bền vững trong lập kế hoạch đã có nhưng còn thiếu cơ chế lồng ghép và thực thi ở cấp ngành và địa phương, trong khi đó việc ban hành quá nhiều chính sách ngành có nội dung liên quan tạo ra sự chồng chéo, thiếu hiệu quả và chệch hướng khỏi nhiệm vụ cốt lõi của việc lồng ghép chính sách. Hiện còn thiếu hướng dẫn cụ thể có sự phân biệt về mục tiêu bền vững quốc gia với các mục tiêu của ngành và địa phương.



  1. Nhiều chính sách như chiến lược phát triển bền vững, chiến lược tăng trưởng xanh và chiến lược về ứng phó biến đổi khí hậu đã được ban hành, phần nào hỗ trợ lồng ghép yếu tố bền vững trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, những chính sách này cũng dẫn đến những chồng chéo nhất định và từ đó làm dàn trải nguồn lực và những nỗ lực dành để đạt cùng mục tiêu đặt ra. Hơn nữa, thường mỗi chính sách lớn hay liên ngành được ban hành đều đi đôi với việc lập ra một Hội đồng/Ban chỉ đạo, trong khi đó sự phối hợp hành động giữa các hội đồng/ban này lại hạn chế. Thực trạng này dẫn đến thiếu thống nhất hành động giữa các chương trình, chính sách tương tự nhau, sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn ngân sách dành để thực thi các chương trình và chính sách phát triển bền vững.



  1. Vấn đề nghèo và bền vững về môi trường dường như còn đứng tách biệt nhau trong khuôn khổ chính sách hiện nay. Sự tương tác giữa hai yếu tố này vẫn chưa được thể hiện rõ trong các chương trình và chính sách phát triển do hai vấn đề này thuộc thẩm quyền quản lí nhà nước của các bộ khác nhau và các nhà hoạch định chính sách chưa thực sự lồng ghép hai yếu tố này trong quá trình xây dựng kế hoạch/chính sách. Hiện tại, các bên tham gia quá trình xây dựng kế hoạch/chính sách vẫn chưa thể hiện rõ mối liên hệ qua lại giữa nghèo và môi trường và chưa làm rõ mối liên hệ này trong quá trình xây dựng kế hoạch/chính sách phát triển bền vững.



  1. Thực thi chính sách một cách đúng đắn trên thực tế là một điểm yếu và đang rất hạn chế hiện nay do thiếu sự phối hợp trong khi hệ thống giám sát đánh giá kém hiệu quả. Mặc dù Việt Nam hiện đã hình thành hệ thống giám sát đánh giá việc thực thi các chính sách/kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nhưng hệ thống này vẫn hoạt động kém hiệu quả. Nhiều trường hợp, các mục tiêu đặt ra và được lồng ghép trong kế hoạch/chính sách nhưng không có hệ thống để bảo đảm chính sách được thực thi trên thực tế. Hệ thống giám sát đánh giá tồn tại, nhưng không phải lúc nào cũng hoạt động đúng cách và chất lượng giám sát đánh giá còn kém. Cách tiếp cận giám sát đánh giá dựa trên kết quả chưađược áp dụng thường xuyên và đúng đắn ở mọi cấp và bởi tất cả các cơ quan có trách nhiệm giám sát đánh giá.




  1. Xây dựng năng lực về lồng ghép phát triển bền vững đã được từng bước thực hiện ở Việt Nam, đặc biệt với sự hỗ trợ kĩ thuật của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực này, đặc biệt là đối với cán bộ cấp địa phương và nội địa hóa năng lực sử dụng các công cụ và phương pháp đánh giá tổng hợp trong quá trình xây dựng và thực thi kế hoạch/chính sách. Năng lực thực hiện đánh giá những đánh đổi giữa lợi ích và chi phí xã hội, môi trường và kinh tế đang thiếu. Vì vậy cho dù đã xác định được các mục tiêu về xã hội và môi trường cần đạt nhưng nếu thiếu năng lực cơ bản để đánh giá tác động của một chính sách hay dự án cụ thể thì rất khó có thể thực hiện được mục tiêu đặt ra.



  1. Mặc dù việc chuẩn bị cơ sở dữ liệu để lồng ghép yếu tố bền vững đã bắt đầu hình thành ở Việt Nam, nhưng còn nhiều việc phải tiếp tục làm. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia của Việt Nam gồm 21 nhóm với 350 chỉ tiêu. Trong đó, một số chỉ tiêu đã mang tính tổng hợp như GDP xanh, GINI, HDI là những chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh mối liên hệ nghèo-môi trường với phát triển kinh tế. Ngoài ra, có 18 chỉ tiêu phản ảnh mức sống hộ gia đình và tình trạng nghèo đói, và 24 chỉ tiêu về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu về nghèo đói và môi trường trong số này hiện vẫn chưa được thu thập số liệu.



  1. Nguồn tài chính có vai trò rất quan trọng để thực thi các kế hoạch/chính sách. Hiện nay ở Việt Nam, mối liên hệ giữa kế hoạch phát triển quốc gia và ngân sách đã tương đối rõ ràng đối với trường hợp của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (kể từ năm 2016), kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm cũng như đối với các chương trình mục tiêu quốc gia và một số chương trình quốc gia khác. Tuy vậy, đối với nhiều trường hợp khác, quá trình xây dựng chính sách và lập kế hoạch phát triển dường như tách rời với kế hoạch ngân sách. Việc lồng ghép đầy đủ yếu tố nghèo và môi trường trong lập kế hoạch phát triển đi đôi với bảo đảm nguồn lực tài chính để thực hiện chúng trên thực tế sẽ hiện thực hóa được mối liên hệ này trong tương lai.


Bảo đảm điều kiện cho việc lồng ghép (một cách đầy đủ) yếu tố nghèo và bền vững vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển quốc gia ở Việt Nam trong tương lai.
Hành động trước mắt (ngắn hạn): Chuẩn bị các bước để lồng ghép đầy đủ vấn đề bền vững


  1. Yêu cầu cơ bản: Lồng ghép đầy đủ yếu tố bền vững vào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch ngân sách đòi hỏi phải thực hiện lồng ghép hiệu quả và nhận thức được sự liên kết/kết nối. Ở Việt Nam, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch ngân sách là cốt lõi của lập kế hoạch phát triển quốc gia, nơi các chủ trương và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội được xác định và từ đó dẫn đến những nhiệm vụ, mục tiêu kế hoạch của các bộ ngành và địa phương. Nếu như vấn đề bền vững được lồng ghép đầy đủ vào quá trình lập kế hoạch này thì các yếu tố về nghèo, môi trường sẽ được xem xét cùng với yếu tố kinh tế và đó chính là vấn đề cơ bản của việc lồng ghép đầy đủ. Hơn nữa, cách tiếp cận tổng hợp đối với phát triển bền vững không chỉ hạn chế ở việc đưa các chỉ tiêu về giảm nghèo và môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Nó còn bao gồm việc bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với nghèo đói và môi trường và đề cập thấu đáo tầm quan trọng của mối tương quan giữa nghèo và môi trường. Cách tiếp cận này phải được quán triệt từ cấp cao nhất đến các đơn vị lập kế hoạch ở cấp địa phương.




  1. Hướng dẫn chi tiết để thực hiện: Cần xây dựng hướng dẫn chi tiết cách thức gắn kết nghèo và môi trường vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và chính sách phát triển cũng như lập kế hoạch ngân sách ở cấp trung ương cũng như cấp ngành và địa phương. Hiện tại, ở cấp trung ương, vấn đề nghèo đói và môi trường chỉ được lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đưa các chỉ số liên quan tới nghèo và môi trường vào quá trình lập kế hoạch. Vấn đề trọng tâm là bảo đảm quá trình minh bạch, và sự tham gia và phối hợp của các bộ ngành và các bên liên quan. Cần hướng dẫn cụ thể cho các địa phương và ngành và đảm bảo kế hoạch các cấp đóng góp vào việc hiện thực hóa mục tiêu quốc gia. Hướng dẫn thực hiện cần phải nắm bắt cách thức làm sao cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và môi trường cũng như thể hiện mối liên kết giữa nghèo đói và môi trường.




  1. Thưc hiện chính sách: Tuy việc xây dựng kế hoạch/chính sách là quan trọng, nhưng Việt Nam cần đặc biệt hoàn thiện hệ thống giám sát và đánh giá tính bền vững (M&E) để bảo đảm sự nhất quán giữa kế hoạch và thực hiện kế hoạch. Khi thiếu sự hướng dẫn cụ thể cách thức lồng ghép phát triển bền vững trong lập kế hoạch (như đề cập ở trên) thì các bộ ngành và địa phương sẽ tự lồng ghép và hợp lý hóa theo cách hiểu của mình. Trong trường hợp này, hệ thống giám sát đánh giá lại càng có vai trò quan trọng vì nó sẽ giúp cho việc theo dõi thực hiện lồng ghép của ngành và địa phương nhất quán với cách hiểu của quốc gia.




  1. Xây dựng dữ liệu: Có hai loại số liệu rất cần được xây dựng ở Việt Nam: (i) số liệu tổng hợp về môi trường và kinh tế - xã hội để đánh giá thực trạng và xác định lựa chọn chính sách phù hợp ở cấp quốc gia thông qua mở rộng hệ thống tài khoản quốc gia để bao trùm được cả lĩnh vực xã hội và môi trường, đồng thời mở rộng tài khoản hạch toán tương tự ở cấp độ ngành và địa phương. Năng lực của cán bộ thuộc cơ quan thống kê Việt Nam (GSO) ở Trung ương và các cấp địa phương cũng cần phải được nâng cao hơn để có thể đảm đương việc xây dựng các dữ liệu này; và (ii) số liệu cho hệ thống giám sát đánh giá bền vững có khả năng theo dõi những thay đổi theo thời gian cũng như có thể so sánh thực trạng trước và sau khi có can thiệp chính sách.




  1. Phát triển năng lực: Phát triển năng lực cần tập trung vào các phương pháp để cân bằng các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và môi trường cũng như chuyển đổi và công bố các chính sách bền vững quốc gia và thực hiện trên thực tiễn ở cấp bộ ngành và địa phương. Hiện tại, đang có sự khác biệt giữa thực tiễn quốc tế và năng lực trong nước về đánh giá bền vững. Ngoài ra, năng lực đánh giá chính sách chưa được nội địa hóa cho những người thực hiện công việc, và rất nhiều người làm việc theo kiểu tùy nghi, và sản phẩm của họ không được hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam.




  1. Sự tham gia của các bên: Một trong những công cụ đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng, nghèo và môi trường là cần huy động cao nhất có thể sự tham gia của nhiều bên có liên quan ngay từ đầu quá trình lập kế hoạch/chính sách và ngân sách, và để họ được thông tin về quá trình này hơn là chỉ dùng họ như người góp ý kiến, phản biện cho bản thảo kế hoạch/chính sách liệu sau khi mọi thứ đã hoàn thành. Hiện nay, sự tham gia của các nhóm yếu thế chưa được quan tâm đầy đủ, do đó họ cần được tạo cơ hội tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch/chính sách, luật pháp và thực hiện. Đã có một vài kênh chính thức về sự tham gia của công chúng, nhưng chủ yếu còn là quá trình không chính thức, như quá trình khiếu nại, phản ánh những tâm tư nguyện vọng của họ để được tham gia nhiều hơn. Hiện còn thiếu cơ chế cho sự tham gia của cộng đồng, nhất là của người nghèo và cũng đang thiếu những qui định yêu cầu phải chú ý tới người nghèo, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các kế hoạch/chính sách phát triển.




  1. Tăng cường phối hợp: Với thể chế hiện hành, để thực hiện lồng ghép bền vững một cách thấu đáo thì cần sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chính phủ có liên quan, nhất là giữa các bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Bộ Tài chính (MOF), các bộ chuyên ngành, đặc biệt là phối hợp giữa bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (MOLISA) và các địa phương. Sự phối kết hợp này là hết sức cần thiết để đảm bảo sự nhất quán giữa quá trình lập kế hoạch ở cấp ngành và địa phương với cấp quốc gia, và bảo đảm để các hoạt động kế hoạch gắn với huy động nguồn lực. Sự phối hợp giữa các Ủy ban/hội đồng quốc gia/Văn phòng quốc gia cũng rất cần được duy trì tốt như Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu, Ban điều phối liên ngành thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và năng lực cạnh tran và giữa các cơ quan này với MPI (cơ quan chuyên trách về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia). Sự phối hợp giữa các Bộ MOLISA và MONRE cũng cần để cải thiện mối liên hệ giữa dịch vụ sinh thái/ vốn tài nguyên và giảm nghèo trong quá trình lồng ghép các mục tiêu bền vững.




  1. Huy động nguồn lực. Các hoạt động kế hoạch sẽ không thể thực hiện nếu thiếu nguồn lực cho nó. Vì vậy, phải bảo đảm sao cho việc lập kế hoạch phát triển bền vững phải đi đôi với kế hoạch ngân sách. Về vấn đề này, Bộ Kê hoạch và đầu tư MPI và Bộ Tài chính MOF giữ vai trò quan trọng trong quá trình lồng ghép bền vững. Như đã nêu, với vai trò của các bộ này thì việc phối hợp giữa hai bộ này với nhau cũng như việc phối hợp với các bộ ngành và địa phương khác cần được tăng cường. Bên cạnh nguồn lực từ nhà nước và vốn ODA, việc huy động nguồn lực của khu vực tư nhân cho phát triển bền vững cũng rất quan trọng. Để huy động được các nguồn này, chính phủ cần tạo ra những chính sách khuyến khích phù hợp. Hiện một số công cụ chính sách như vậy đã được áp dụng ở Việt Nam nhưng cần phải được tiếp tục chỉnh sửa để đạt được kết quả đôi bên cùng có lợi và bảo đảm mức độ tuân thủ, ví dụ như chính sách về thuế, trợ cấp, thưởng phạt, cũng như có thể thử nghiệm một vài ý tưởng mới, như qui định về mua bán quyền ô nhiễm và/hay xếp hạng về “xanh”.


Hành động dài hạn: Lồng ghép đầy đủ yếu tố bền vững


  1. Hoàn thiện thể chế: Về dài hạn, một loạt những khó khăn, hạn chế về lồng ghép bền vững như sự tham gia, sự phối hợp, số liệu, thông tin, năng lực và huy động nguồn lực sẽ dần được giải quyết. Lúc này, điều kiện để thực hiện cách tiếp cận lồng ghép đầy đủ sẽ hình thành và nhiều thách thức cơ bản đối với cách thức tổ chức thể chế để đạt được phát triển bền vững sẽ cần được giải quyết. Ba cơ quan có liên quan như Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh, Hội đồng quốc gia về biến đổi khí hậu và Ủy ban quốc gia về tăng trưởng xanh có thể cần gộp lại làm một, trở thành Ủy ban phát triển xanh. Và, đơn vị này sẽ có vai trò như cơ quan chỉ đạo, giám sát và đánh giá, bảo đảm để tất cả các các hệ thống sẽ tuân thủ với cách tiếp cận lồng ghép đầy đủ và thực hiện được tiến hành hiệu quả trên thực tế.



  1. Vai trò của khu vực tư nhân: Khu vực tư nhân, gồm cả các hộ gia đình cần đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam. Hành động của họ cần hướng tới các hoạt động xanh hơn thông qua các lực lượng thị trường và hệ thống khuyến khích của chính phủ. Hơn nữa, cần kết hợp nguồn lực tư nhân và nhà nước để tài trợ cho những nhu cầu vốn lớn cho phát triển và đang tăng lên cùng với quá trình phát triển bền vững. Vốn của cả tư nhân và nhà nước cần phải tăng để đầu tư cho các dịch vụ và hạ tầng cơ bản và xanh cần thiết cho phát triển con người cũng như để cải thiện cuộc sống và tạo việc làm cho tất cả mọi người (và đặc biệt là người nghèo).




  1. Đặt tên gọi cho các kế hoạch phát triển: Các vấn đề về phát triển bền vững sẽ được đề cập đầy đủ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, tên gọi hiện nay của các kế hoạch/chiến lược phát triển quốc gia cũng cần thay đổi sao cho phản ánh được xu hướng toàn cầu hiện nay nhằm nhấn mạnh tới tính bền vững, tương ứng thành Chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững và Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội bền vững. Cùng với đó, hệ thống các chỉ số giám sát đánh giá thực hiện chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hiện nay cũng cần bổ sung các chỉ số giám sát đánh giá phát triển bền vững rõ ràng.



Giới thiệu

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về phát triển kinh tế và xã hội trong thập kỉ vừa qua. Về lĩnh vực kinh tế, Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia đang phát triển có sự tiến bộ rõ rệt về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Ngay cả trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế sụt giảm và biến động do khủng hoảng tài chính toàn cầu, khó khăn vĩ mô và cơ cấu kinh tế trong những năm gần đây thì tỷ lệ nghèo vẫn tiếp tục giảm (xem hình 1). Như thể hiện ở Hình 1, Chỉ số phát triển con người (HDI) không có nhiều cải thiện trong khi Chỉ số bất bình đẳng về thu nhập (Gini) vẫn có xu hướng ổn định, và ở mức tốt hơn so với nhiều nước có cùng trình độ phát triển và mức thu nhập.



Hình 1. Xu hướng tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của Việt Nam
giai đoạn 2005-2013




Chú thích: Tỷ lệ nghèo trong hình này là số liệu công bố chính thức của MOLISA và chính phủ Việt Nam. Tỷ lệ này dùng để giám sát tình trạng nghèo trong ngắn hạn do chuẩn nghèo được điều chỉnh 5 năm một lần dựa theo năng lực tài chính và Chiến lược giảm nghèo của Chính phủ. Chỉ số HDI của năm 2006 trong hình vẽ là số liệu cho năm 2005.

Nguồn: Số liệu về tăng trưởng GDP và tỷ lệ nghèo từ GSO trên trang web: http://gso.gov.vn/Default_en.aspx?tabid=766; số liệu Gini từ nguồn của Ngân hàng thế giới: http://data.worldbank.org/indicator/SI.POV.GINI; và số liệu HDI từ nguồn của UNDP: http://hdr.undp.org/en/countries/profiles/VNM.

Tuy nhiên, kết quả phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều thách thức và sẽ còn tiếp tục trong những năm tới. Tăng trưởng kinh tế thời gian qua dựa chủ yếu vào yếu tố lao động rẻ và tài nguyên có sẵn. Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững sẽ khó tiếp tục duy trì trong giai đoạn tới nếu năng suất của nền kinh tế và hiệu quả sử dụng tài nguyên không được cải thiện và nếu quá trình tái cấu trúc nền kinh tế tiếp tục trì trệ, mặc dù Việt Nam đã nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình từ 2010. Tốc độ giảm nghèo đã có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây, việc tiếp tục giảm tỷ lệ nghèo sẽ khó khăn hơn và đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn trước. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng trong thập kỉ qua đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các khu vực đông dân cư. Cường độ phát thải khí CO2 có xu hướng tăng lên trong những năm qua và đang ở mức cao so với hầu hết các nước trong khu vực (Hình 2). Sử dụng năng lượng để tạo ra một đơn vị GDP của Việt Nam đã là cao nhất trong khối các nước ASEAN và có xu hướng tăng lên (Hình 3). Trong khi đó, Việt Nam là một trong số 30 nước trên thế giới đã và đang phải chịu tác động tiêu cực nhiều nhất của biến đổi khí hậu. Những tác động của khí hậu sẽ ảnh hưởng tiêu cực trở lại tới tăng trưởng và giảm nghèo, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng tới một số ngành kinh tế của Việt Nam1.



Hình 2. Cường độ phát thải khí CO2 của các nước ASEAN và một số nước châu Á
giai đoạn 2005-2012


kgCO2/USD GDP (theo giá 2005)

Thống kê của Tổ chức năng lượng quốc tế IEA, 2014 – lấy từ: http://www.iea.org/statistics/statisticssearch/report/?country=VIETNAM&product=indicators&year=Select




Hình 3. Tổng tiêu dùng năng lượng sơ cấp trên một Đôla GDP

(Btu /U.S. Dollars của năm 2005 (theo tỷ giá thị trường))



Nguồn: EIA, 2015, lấy tại trang web: http://www.eia.gov/cfapps/ipdbproject/iedindex3.cfm?tid=92&pid=46&aid=2

Rõ ràng, kết quả tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam thời gian qua đã đem tới giảm nghèo, nhưng đồng thời cũng dẫn đến những tổn phí đáng kể cho môi trường. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng, quá trình phát triển tại các nước đang phát triển thường phải trả giá sự bền vững môi trường trong dài hạn để có được lợi ích ngắn hạn về kinh tế và tạo việc làm. Tuy nhiên, bảo vệ môi trường có mối liên hệ chặt chẽ với nghèo đói bởi để duy trì hoạt động sinh kế của mình, người nghèo nông thôn thường phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trường có tác động nghiêm trọng đến chất lượng sống đô thị và sự sống động của các nền kinh tế thành phố. Bên cạnh đó, có bằng chứng toàn cầu chỉ ra rằng giữa môi trường và nghèo đói có mối liên hệ hai chiều. Những nỗ lực giảm ô nhiễm và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ khó thành công nếu hạn chế cơ hội bình đẳng cho người nghèo được làm việc và nuôi sống gia đình của họ. Ngược lại, việc nỗ lực và thúc đẩy giảm nghèo mà không xét tới hệ sinh thái cũng sẽ làm tổn hại tới môi trường. Như vậy, với các mục tiêu phát triển bền vững, giảm nghèo và bảo vệ môi trường cần bổ sung cho nhau chứ không được cạnh tranh nhau. Và, việc lập kế hoạch và xây dựng chương trình có tính lồng ghép được coi là cần thiết nhằm cải thiện cuộc sống người nghèo và đồng thời vẫn bảo vệ được môi trường2. Cách tiếp cận lồng ghép trong phát triển sẽ đồng thời đạt được các lợi ích đa chiều của ba yếu tố của phát triển bền vững (xã hội, môi trường và kinh tế). Nó bảo đảm rằng xóa nghèo và bền vững môi trường cùng song hành với nhau (UNDP & UNEP, 2013). Điều này đòi hỏi sự hiệu quả trong quản lý nhà nước, phối hợp chính sách và hài hòa giữa các cơ quan chính phủ và các bên liên quan để nhận thức đầy đủ và quản lý các mối tương tác giữa tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và môi trường, và bảo đảm các chính sách và kế hoạch được xây dựng và thực hiện sao cho kết quả của từng khía cạnh không dẫn đến phí tổn cao đối với yếu tố khác.

“Nghiên cứu phạm vi về lồng ghép nghèo và bền vững trong xây dựng kế hoạch phát triển quốc gia: Báo cáo quốc gia của Việt Nam” được xây dựng bởi một nhóm chuyên gia trong nước, gồm Vũ Xuân Nguyệt Hồng và Đặng Thị Thu Hoài, theo đơn đặt hàng của UNDP Việt Nam dựa theo Mẫu báo cáo chung do chuyên gia quốc tế của UNDP xây dựng. Đây là báo cáo quốc gia của Việt Nam, tổng hợp các bằng chứng về mức độ vận dụng cách tiếp cận lồng ghép cũng như quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế bao trùm và xanh ở Việt Nam cũng như những thách thức, hạn chế gặp phải. Và báo cáo này sẽ là nguồn tài liệu đầu vào để xây dựng Báo cáo khu vực của UNDP về “Nghiên cứu phạm vi về lồng ghép nghèo và bền vững trong xây dựng kế hoạch phát triển quốc gia” bao gồm 10 nước. Nhằm tạo nên giá trị gia tăng so với những nghiên cứu hiện hành, báo cáo này tập trung vào phân tích cơ chế được áp dụng trong suốt quá trình lập kế hoạch nhằm xây dựng và thực hiện cách tiếp cận lồng ghép, chỉ ra những thách thức, hạn chế đang gặp phải và cơ hội hướng tới một nền kinh tế xanh bao trùm (inclusive green economy).

Báo cáo nghiên cứu phạm vi này được xây dựng với các phần dưới đây:

Phần 1 trình bày tổng quan về nghèo đa chiều cũng như vốn tài nguyên của Việt Nam trong thập kỉ qua, xem xét mối liên hệ giữa phát triển, giảm nghèo và môi trường.

Phần 2 cung cấp tổng quan về những qui định, chiến lược phát triển, chính sách và kế hoạch tầm quốc gia liên quan tới phát triển bền vững ở Việt Nam. Mục này tập trung đề cập kinh nghiệm của Việt Nam trong việc chuyển dần sang các chính sách, kế hoạch phát triển và thực hiện có sự lồng ghép trong thập kỉ qua (bao gồm thành tựu, hạn chế và thách thức).

Phần 3 là phần có nhiều nội dung nhất của báo cáo bởi mục này sẽ mô tả một cách có hệ thống quá trình lập kế hoạch phát triển quốc gia và thực hiện kế hoạch, qui trình, các bước, các bên liên quan và cấu trúc. Mục này cũng phân tích về những thách thức, hạn chế và cơ hội cải thiện tình hình.

Phần 4 đưa ra những lĩnh vực ưu tiên cho các hành động cần thực hiện để thúc đẩy cách tiếp cận lồng ghép trong quá trình lập kế hoạch và xây dựng chính sách và cần có những điều kiện gì để thực hiện chúng.



Каталог: content -> dam -> vietnam -> docs -> Publications


Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương