Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang7/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

KẾT LUẬN

1. Quan niệm nghệ thuật về con người là điểm tựa của sáng tác và tiếp nhận văn học, xét từ góc độ của người sáng tạo và người thưởng thức. Nó là nhân tố cơ bản chi phối mạnh mẽ đến khả năng xây dựng tác phẩm thành một thế giới nghệ thuật hoàn chỉnh, phù hợp với ý đồ của nhà văn, đồng thời truyền đạt được cách hình dung, cảm nhận của nhà văn về con người và cuộc đời. Nó cũng là con đường hợp lý để đi vào tìm hiểu, đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm văn học; cảm nhận tác phẩm chính là cảm nhận cái nhìn của tác giả về con người thể hiện trong tác phẩm đó. Hơn nữa, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ là cơ sở cho người tiếp nhận có những lý giải đúng đắn về sáng tạo nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm văn học. Từ đó, lấy quan niệm nghệ thuật về con người phóng chiếu vào tác phẩm văn học là một trong những biện pháp tối ưu để có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp sáng tác, giá trị thẩm mỹ của mỗi nhà văn cũng như của một giai đoạn văn học.

2. Xem xét văn xuôi Hồ Anh Thái từ khía cạnh quan niệm nghệ thuật về con người, thấy rằng Hồ Anh Thái là nhà văn có cái nhìn bao quát rộng và tinh nhạy về xã hội và đời sống con người. Trong trang viết của anh hiện ra nhiều kiếp người, cảnh người ở nhiều thời điểm, nhiều tình huống khác nhau, qua đó thể hiện những cảm nhận sâu sắc về nhân sinh. Với những gì được phản ánh trong văn xuôi, thấy rằng Hồ Anh Thái có lối nghĩ riêng về con người; với anh, trong thẳm sâu mỗi con người đều là một bi kịch, và dù con người còn lắm xấu xa, con người có tha hoá, có đáng cười đi chăng nữa, thì đâu đó vẫn có những tâm hồn khát khao vươn lên hoàn thiện mình, hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện lối sống, tất nhiên là đi về hướng của chân – thiện - mỹ. Đây là quan niệm con người của một nhà văn luôn ưu ái, luôn luôn có niềm tin song cũng đòi hỏi rất khắt khe ở con người. Chiều sâu nhân bản của văn xuôi Hồ Anh Thái nằm nhiều ở điều này.

3. Quan niệm nghệ thuật về con người như trên đã chi phối đến nghệ thuật sáng tác văn xuôi của Hồ Anh Thái, và trong tính hai mặt của nó, tác phẩm của anh là nơi thể hiện sinh động cho những gì anh cảm nhận, đánh giá về con người trong đời sống. Về nhân vật, anh sáng tạo được các kiểu nhân vật tương ứng theo quan niệm con người của mình; với con người vươn tới sự hoàn thiện là kiểu nhân vật thức tỉnh, với con người bi kịch là kiểu nhân vật thân phận, với con người nhiều thói xấu là kiểu nhân vật tha hoá đại diện cho những thói xấu đáng sợ và nhân vật bi hài đại diện cho những thói xấu đáng cười. Kèm theo với mỗi kiểu nhân vật, Hồ Anh Thái luôn lựa chọn cách thức xây dựng sao cho phù hợp nhất; song chủ yếu anh xây dựng nhân vật bằng chi tiết có ý nghĩa gợi được bản chất và qua tình huống có giá trị nhận thức đối với nhân vật, tên nhân vật của anh cũng thật độc đáo, mang lại nhiều thú vị; hầu hết qua các chi tiết, tình huống hay những cái tên đó đều có thể cảm nhận được những suy nghĩ, đánh giá về con người của Hồ Anh Thái.

Tổ chức cốt truyện cũng là thao tác quan trọng để Hồ Anh Thái thể hiện quan niệm con người của mình trong tác phẩm. Với bốn loại cốt truyện tiêu biểu, cốt truyện vay mượn sự tích, cốt truyện sinh hoạt – tâm lý, cốt truyện kỳ ảo và cốt truyện phân mảnh, Hồ Anh Thái vừa diễn tả được khả năng vươn tới sự hoàn thiện, vừa thể hiện được bi kịch của những thân phận và cả những thói xấu của con người. Đặc biệt, cốt truyện phân mảnh là một cách tân theo hướng hậu hiện đại của Hồ Anh Thái; bằng cách tổ chức những mảnh vỡ đời sống vốn dĩ rời rạc nằm cạnh nhau, tác giả đã làm thành cái nhìn đa chiều trước cuộc sống, thể hiện những cảm nhận của anh về nhân sinh trong giai đoạn hiện nay, một cuộc sống thiếu sự cố kết bền chặt của tình cảm, con người ta sống ích kỷ và vị kỷ. Đây là lời cảnh báo của Hồ Anh Thái về lối sống hiện đại.

Với quan niệm về con người có tính chất bao quát rộng như vậy, văn xuôi Hồ Anh Thái đã phối hợp nhiều giọng điệu trần thuật, với sự đa dạng và đan cài lẫn nhau của các chất giọng, có giọng trong sáng trữ tình, giọng tâm tình cảm thương, giọng suy tư triết luận, giọng hiện thực sắc lạnh và giọng hài hước giễu cợt. Sự đa dạng về giọng điệu của Hồ Anh Thái không chỉ thể hiện sự đa dạng và phong phú trong cách cảm nhận cũng như cảm xúc của Hồ Anh Thái trước đời sống và con người của Hồ Anh Thái mà nó còn thể hiện phong cách đa dạng của một nhà văn tài năng luôn có ý thức làm mới văn chương, dù biết rằng không phải ai cũng có thể thay đổi, hơn nữa khi thay đổi nghệ thuật văn xuôi cũng có nghĩa là anh đã có thêm một phát hiện mới về con người, điều này đòi hỏi nhà văn phải nỗ lực không ngừng, nỗ lực khám phá đời sống và nỗ lực sáng tạo. Dám thay đổi là dám chấp nhận thử thách. Một nhà văn chuyên nghiệp không quản ngại điều này. Đó là những người sẽ cho ra những tác phẩm giá trị với cái gốc của nó là vấn đề con người.

4. Trên đây là những đánh giá bước đầu về văn xuôi Hồ Anh Thái qua quan niệm nghệ thuật về con người của chính nhà văn này. Từ điểm nhìn ấy, luận văn cơ bản nêu lên được những ý nghĩa thẩm mỹ đậm chất nhân văn cũng như những nét độc đáo trong nghệ thuật văn chương ở tác phẩm của một nhà văn đang độ sung sức và có nhiều đóng góp cho văn xuôi đương đại Việt Nam là Hồ Anh Thái.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạ Duy Anh (2002), Nhân vật, NXB Văn học, Hà Nội.

2. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

3. Vũ Tuấn Anh (1995), Đổi mới văn học vì sự phát triển, Văn học, (4).

4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

5. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Thị Hoài Thanh (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết, NXB Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

6. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

7. Minh Châu sưu tập (2004), Truyện tích Vu Lan Phật giáo, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

8. Nguyễn Minh Châu (2003), Truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội.

9. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội.

10. Đỗ Hoàng Diệu (2005), Bóng đè, NXB Đà Nẵng.

11. Trương Đăng Dung (2004), Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại, Nghiên cứu văn học, (12).

12.Nguyễn Đăng Điệp, Đi tìm nhân vật trung tâm cho văn học,

http://www.nhandan.com.Việt Nam/tinbai/?top = 43&sub = 78 article = 24350.

13. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

14. Văn Giá, Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây,http://evan.com.vn/Funtions/WorkContent/?CatID=4&TypeID=19&WorkID=10.

15. La Giang (2004), Từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, suy nghĩ về một kiểu loại phê bình, Văn nghệ Quân đội, (595).

16. K. Gunnars, Về những tiểu thuyết ngắn,

http:// evan.com.vn/Funtions/WorkContent

17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

18. Nguyễn Chí Hoan (2004), Truyện không phải là truyện, nhân vật không phải là nhân vật, ấy là truyện, Người Hà Nội, (33).

19. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội.

20. Lê Thị Hường (1995), Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay, Văn học, (4).

21. Dương Hướng (2004), Bến không chồng, NXB Hải Phòng.

22. Lê Minh Khuê (2003), Truyện ngắn chọn lọc, NXB Phụ nữ, Hà Nội.

23. Thuỵ Khuê (1998), Sóng từ trường, NXB Văn nghệ, California, USA.

24. Phùng Ngọc Kiếm (2000), Con người trong truyện ngắn 1945 – 1975, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

25. M. Kundera (2001), Tiểu luận, NXB Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

26. Nguyễn Thế Hoàng Linh (2005), Chuyện của thiên tài, NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hoÁ Đông A, Hà Nội.

27. Nguyễn Văn Long, Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học giai đoạn từ sau 1975,

http://www.talawas.org/talaDB/ShowFile.php?res=4534&rb=0102.

28. Nguyễn Văn Lưu (1997), Luận chiến văn chương, NXB Văn học, Hà Nội.

29. Phương Lựu chủ biên (1987), Lý luận văn học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.

30. Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử (1996), Một thời đại mới trong văn học, NXB Văn học, Hà Nội.

31.Nguyên Ngọc, Văn học Việt Nam đang ở đâu,

http://perso.wanado.fr/diendan.

32. Nguyên Ngọc (2005), Một giai đoạn sôi động của văn xuôi trong thời kỳ đổi mới, Xưa nay, (227-228).

33. Lã Nguyên, Nhìn lại những bước đi. Lắng nghe những tiếng nói,

http://www.talawas.org/talaDB/ShowFile.php?res=4471&rb=0102.

34. Nhiều tác giả (2002), Đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

35. Nhiều tác giả (2003), Hồn hoa trở lại – Truyện ngắn kỳ ảo Việt Nam, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

36. Bảo Ninh (2004), Thân phận của tình yêu, NXB Phụ nữ, Hà Nội.

37. Mai Ninh (2004), Cá voi trầm sát, NXB Trẻ, Hồ Chí Minh.

38. Phạm Viêm Phương (2004), Truyện ngắn và cấu trúc, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

39. Nguyễn Hưng Quốc, Chiến tranh như một thi pháp,

http://www.phutho.com/community/index.php?board=14;action=display;threadid=3.

40. A. Sokolov, Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm đổi mới,

http://www.talawas.org/talaDB/Suche.php?rs=1640&rb=0102.

41. Trần Đình Sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội.

42. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo viên, Hà Nội.

43. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

44. Trần Đình Sử (2000), Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

45. Hồ Anh Thái (1995), Lũ con hoang, NXB Hà Nội.

46. Hồ Anh Thái (2002), Mảnh vỡ của đàn ông, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

47. Hồ Anh Thái (2003), Tiếng thở dài qua rừng kim tước, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

48. Hồ Anh Thái (2003), Người đàn bà trên đảo – Trong sương hồng hiện ra, NXB Phụ nữ, Hà Nội.

49. Hồ Anh Thái (2004), Bốn lối vào nhà cười, NXB Đà Nẵng.

50. Hồ Anh Thái (2004), Cõi người rung chuông tận thế, NXB Đà Nẵng.

51. Hồ Anh Thái, W. Karlin chủ biên (2004), Tình yêu sau chiến tranh, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

52. Hồ Anh Thái (2005), Người và xe chạy dưới ánh trăng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

53. Hồ Anh Thái (2005), Tự sự 265 ngày, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

54. Hồ Anh Thái (2005), Họ trở thành nhân vật của tôi, NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hoÁ Đông A, Hà Nội.

55. Hồ Anh Thái (2005), Sắp đặt và Diễn, NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hoÁ Đông A, Hà Nội.

56. Hồ Anh Thái tuyển chọn (2005), Văn mới 2004 –2005, NXB Hội Nhà văn và Công ty văn hoÁ Đông A, Hà Nội.

57. Nguyễn Thị Minh Thái, Cười… để khóc hay để vui vẻ giã từ quá khứ,

http://tintucvietnam.com/news/printview.aspx?ID=55422.

58. Bùi Việt Thắng (1991), Văn xuôi gần đây và quan niệm con người, Văn học, (6).

59. Bùi Việt Thắng, Tìm tứ cho truyện ngắn,

http://evan.com.vn/Funtions/WorkContent/?CatID=4&Type=ID=19&WorkID=1748&Maxsub=1784.

60. Đoàn Cầm Thi, Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam hiện đại,

http://evan.com.vn/Funtions/WorkContent/?CatID=4&Type=ID=20&WorkID=3282&Maxsub=32.

61. Nguyễn Huy Thiệp (2000), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Phụ nữ, Hà Nội.

62. Bích Thu (1995), Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 qua hệ thống môtíp chủ đề, Văn học, (4).

63. Bích Thu (1996), Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Văn học,(6).

64. Bích Thu, Cảm nhận về văn xuôi các cây bút nữ,

http://hanoi.vnn.vn/vanhoc/docviet.asp?id=BT2030136834&chude=42&page.

65. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nghệ thuật góp phần cải thiện nhân cách,

http://www.vanhoanghethuat.org.vn/0904/nguyenthithuthuy.htm

66. Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hưng biên soạn (1997), Văn học Việt Nam 1975 – 1985 tác phẩm và dư luận, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

67. Lê Thị Dục Tú (1997), Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

68. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học.

69. Hồ Anh Thái và những quan niệm văn chương,

http://vnexpress.net/vietnam/van-hoa/2002/08/3B9BF7E5.

70. Nhà văn Hồ Anh Thái với Bốn lối vào nhà cười,

http://tintucvietnam.com/news/printview.aspx?ID=49642


* * * * * * * * *




1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương