Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang6/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

3.3. Sự đan cài trong ging điệu trần thuật

Trong nhiều lần phát biểu, Hồ Anh Thái luôn khẳng định là người ưa làm mới mình qua những trang viết. Chẳng hạn:

- “Tôi rất sợ một nền văn nghệ mà các nghệ sĩ luôn tự lấy làm hài lòng với phương pháp mình lựa chọn. Người ta cứ khăng khăng bám riết lấy một phương pháp, tự an ủi rằng mình đã định hình một phong cách… Quen với điều này, nghệ sĩ đã tự monotone hoá, phiến diện hoá, một chiều hoá chính mình. Người ta hiểu nhầm phong cách qua một cái vỏ ngoài bất biến và ngoan cố” [53;227].

- “Tôi nghĩ một nhà văn thực sự có phong cách là người có nhiều phong cách, và cần phải thay đổi phong cách của mình cho phù hợp với đề tài và tư tưởng tác phẩm” [48;424].

Riêng nhìn trên phương diện giọng điệu trần thuật cũng đủ để khẳng định sự thống nhất giữa quan niệm nghệ thuật và thực tế sáng tác của Hồ Anh Thái: văn xuôi của anh là sự đa dạng và đan xen của nhiều giọng điệu. Đúng như anh quan niệm: “Tôi cho rằng người có phong cách tức là phải đa giọng điệu… Cho rằng thay đổi giọng điệu sẽ làm loãng phong cách của chính mình là cách hiểu đơn giản và làm cho người sáng tạo lười biếng, ngại làm mới mình” [50;243].

Ở chương 1, chúng tôi có đề cập đến Hồ Anh Thái như là hiện tượng đa dạng về giọng điệu. Đến đây xin trở lại vấn đề này với những lý giải xuất phát từ chính quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái.

Ngôn ngữ trần thuật là một trong những yếu tố “thể hiện quan điểm của người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả” [17;184] và nó là “yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả” [17;185]. Trong luận văn này, chúng tôi hướng sự chú ý đến giọng điệu của ngôn ngữ trần thuật (giọng điệu trần thuật) với tư cách là đại diện tiêu biểu cho ngôn ngữ trần thuật người kể chuyện, bởi nó gắn bó chặt chẽ với cảm hứng, quan niệm của của tác giả về con người và cuộc đời.

Giọng điệu trần thuật là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả” [17;112]. Giọng điệu trần thuật được thể hiện cụ thể qua lời văn nghệ thuật, nó quy định cách trình bày diễn đạt, cách lựa chọn từ ngữ, cách xưng hô gọi tên nhân vật, cách thể hiện tình cảm cảm xúc,… Thiếu một giọng điệu phù hợp với đề tài, tư tưởng chủ đề, với nhân vật,… thì nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm. Trước khi đặt bút, trong vô vàn điều nhà văn phải chuẩn bị luôn có giọng điệu, trước những vấn đề khác nhau phải là những giọng điệu khác nhau. Đây là điều bắt buộc phải có nhưng không phải dễ thực hiện.

Để có sự đan cài thì trước hết phải có sự đa dạng! Hồ Anh Thái là hiện tượng đa dạng về giọng điệu trần thuật của văn xuôi đương đại Việt Nam. Điều này trước hết ghi nhận thái độ làm việc của một nhà văn chuyên nghiệp “lăn lộn trên từng con chữ” (chữ dùng của Hồ Anh Thái), thứ nữa, ghi nhận sự tìm tòi để cho mỗi tác phẩm “bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung” (L.Leonov). Giọng điệu trần thuật là kết quả của một trong rất nhiều “những cuộc kiếm tìm” nghệ thuật mà Hồ Anh Thái đã thực hiện xuyên suốt hành trình hơn 20 năm sáng tác của anh. Khảo sát văn xuôi Hồ Anh Thái, chúng tôi thấy nổi lên những giọng cơ bản sau: giọng điệu trong sáng trữ tình, giọng điệu tâm tình cảm thương, giọng điệu suy tư triết luận, giọng điệu hiện thực sắc lạnh và giọng điệu hài hước giễu cợt.

Từ lý thuyết giọng điệu, dễ nhận ra cảm hứng chính là cơ sở của giọng điệu. Cảm hứng tôn vinh sẽ cho giọng điệu hào hùng ngợi ca, cảm hứng đớn đau thương xót sẽ cho giọng điệu cảm thương, cảm hứng chế giễu chê cười sẽ cho giọng điệu hài hước,… Mà cảm hứng, truy về nguồn gốc, thì một trong số đó có mặt của quan niệm nghệ thuật về con người; quan niệm con người quy định cảm hứng sáng tạo, quy định tư tưởng chủ đề và cũng chi phối sâu sắc đến việc lựa chọn giọng điệu trần thuật. Đi một con đường vòng qua những khái niệm, vấn đề cuối cùng thấy được: quan niệm nghệ thuật về con người góp phần quan trọng trong lựa chọn giọng điệu trần thuật; với mỗi quan niệm về con người sẽ có một giọng điệu trần thuật tương ứng, phù hợp. Đây cũng là lý giải của chúng tôi về hiện tượng đa giọng điệu (dẫn đến đa phong cách) của Hồ Anh Thái. Đi vào từng biểu hiện cụ thể sẽ thấy được điều này.

Thời kỳ đầu, những sáng tác của Hồ Anh Thái chủ yếu viết về đời sống thanh niên, thể hiện niềm tin vào khả năng thức nhận các giá trị có ý nghĩa của đời sống, khát khao vươn lên hoàn thiện của thế hệ trẻ. Anh viết với tất cả lòng tin vào những tâm hồn trong sáng ấy, từ đó tạo cho anh xúc cảm tươi vui trẻ trung trữ tình trong giọng điệu trần thuật. Dưới đây là một số biểu hiện cụ thể.

Người ta nhớ đến Hồ Anh Thái thời kỳ này với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe, ngay khi ra mắt đã đạt giải thưởng truyện ngắn hay báo Văn nghệ 1983 – 1984. Cái hay của nó không chỉ nằm ở nội dung tư tưởng mà còn ở cách thức trần thuật, trong đó có yếu tố giọng điệu. Cả truyện ngắn duy trì một giọng trong sáng tươi tắn như cái nhìn của chàng trai mới ngấp nghé vào đời: “Tôi quay ngoắt lại, lạnh lùng bước trên vỉa hè. Những chiếc lá bàng màu đỏ khua trên đầu, trong ánh sáng xanh dịu của ngọn đèn cao áp. Cao hơn nữa, trên trời, một ngôi sao đổi ngôi như một vết sáng loé lên, rồi mất hút giữa mênh mông (…). Thế rồi im lặng. Chỉ nghe tiếng gió vi vút trong những chiếc lá kim của cây phi lao cạnh đó. Tiếng những quả phi lao già rụng mơ hồ trên lối đi”.

Tiểu thuyết Người và xe chạy dưi ánh trăng cũng được Hồ Anh Thái viết trong giai đoạn này. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống của những con người bình thường và quan hệ của họ, miêu tả những phẩm chất của nhân cách hình thành từ cuộc đời phức tạp thời hậu chiến. Nổi bật lên trong số đó là Toàn, một chàng trai gặp nhiều đớn đau vất vả trong đời sống riêng nhưng anh luôn giữ được tâm hồn trong sáng, những ý nghĩ tốt đẹp về con người. Viết về Toàn, tác giả luôn ưu ái dành cho một giọng kể trữ tình tha thiết. Chiếc xích lô trôi trong đêm trăng là hiện thân của cuộc đời Toàn, vất vả nặng nhọc nhưng luôn đẹp đẽ và thẳng hướng về phía trước. Hình ảnh chiếc xích lô trôi trong đêm trăng xuất hiện nhiều lần trong tiểu thuyết này, tượng trưng cho ý chí của Toàn trước thử thách của đời sống, lần nào cũng đẹp, lần nào cũng ấn tượng: “Cái xích lô trôi dưới trăng. Một bóng người chạy bên cạnh (…). ánh trăng xối trên mái phố, rây qua những vòm sấu vòm xà cừ, rồi mới rải lỗ chỗ trên vỉa hè. ở giữa lòng đường, trăng không bị tán cây che khuất, sáng một dải dài như một con đường trăng (…). Bỗng đâu có tiếng leng keng như tiếng lục lạc rơi trên cổ ngựa. Một cỗ xe vàng hiện ra. Không phải xe ngựa mà là một chiếc xích lô, chạy giữa lòng đường, chính ở chỗ có con đường trăng. Có người mở choàng mắt, đã thấy cỗ xe lao vút qua, tiếng chuông rung rắc từng viên sỏi xuống lòng đường…”. Người và xe, dưới giọng kể ấy, đẹp và lãng mạn như một bài thơ tình.

Sống khép mình ở đời thực, ngại giao lưu nhưng Hồ Anh Thái là người có tâm hồn nhạy cảm. Chính tâm hồn nhạy cảm đó đã giúp anh cảm nhận được nhiều tâm sự sâu kín, cảm nhận được những nỗi đau của con người và anh viết về những điều đó bằng tất cả sự chân thành, tình thương của tấm lòng sẵn sàng chia sẻ cảm thông với một giọng điệu tâm tình cảm thương sâu sắc.

Nếu có những bất hạnh xảy ra cho con người, phụ nữ thường chịu nhiều đớn đau hơn cả, không đặt thành những vấn đề có tính bức thiết song Hồ Anh Thái cũng chú ý nhiều đến thân phận người phụ nữ. Ở Mảnh vỡ của đàn ông, từ rất sớm, Hồ Anh Thái đã thấy hạnh phúc của người phụ nữ là được gắn bó với người đàn ông mà mình thương yêu, nếu chẳng may người đàn ông đó ra đi, người phụ nữ chỉ còn là mảnh vỡ của hạnh phúc sót lại, một nỗi đau, anh viết: “Người đàn bà goá là mảnh vỡ của người đàn ông đã mất. Người thì cam chịu số kiếp của một mảnh vỡ, âm thầm nơi riêng khuất, dù vẫn dai dẳng một ước mong tìm được những mảnh vỡ khác để hàn gắn lại. Người thì làm mảnh vỡ lăn lê ra đường đi lối lại mà đâm mà cứa vào những bàn chân may mắn, trả thù cho số phận hẩm hiu của mình (…). Một ngôi sao băng vạch một vết thương lên nền trời. Thế là tôi hiểu trên mặt đất lại có thêm một mảnh vỡ”. Hạnh phúc của người phụ nữ là được làm vợ làm mẹ, bao đời nay vẫn thế, khi một trong hai điều đó không thành đã là nỗi đau lớn, đằng này những cô gái ở lâm trường số 5 nơi hải đảo lại phải chịu cùng lúc hai nỗi đau: không có chồng và cũng chẳng được sinh con! Phản ứng về điều này, một cô trong số đó đã thành thực bộc bạch tâm trạng của mình và cũng là tâm trạng của biết bao người con gái cùng cảnh: “Tôi thầm bảo mình đã quá lứa, đã hết thì, không lấy được ai nữa, nhưng giá như có một đứa con thì cũng được an ủi phần nào. Nếu ngày đó tôi không giữ mình quá, ít ra tôi cũng có một đứa con với người tôi yêu. Tôi giữ thân cho ai nữa, trinh tiết cho ai, khi mà chỉ còn một mình cô đơn? Tập thể làm tôi có ý chí, có thể làm tôi khuây khoả đôi chút, nhưng tập thể không thể cho tôi hạnh phúc riêng” (Người đàn bà trên đảo). Phải thấu hiểu và thông cảm lắm Hồ Anh Thái mới có thể để cho nhân vật của mình phát ngôn những lời đớn đau đầy xúc động như vậy. Nhưng cũng có người phụ nữ có chồng có con song chưa hẳn đã hạnh phúc; Tiếng thở dài qua rừng kim tước thực sự ám ảnh tất cả những ai từng đọc nó về khía cạnh này. Nilam là bi kịch của một cô gái về nhà chồng mà không được làm con dâu, lấy chồng nhưng không được làm mẹ, giống như bao người phụ nữ trong xã hội Ấn Độ cũ, nghèo và lạc hậu. Trước nỗi đau này, Hồ Anh Thái thuật lại bằng giọng điệu cảm thương đau đớn xót xa đến nghẹn ngào, nhiều lúc khiến độc giả hụt hơi, giống như người ngất đi tỉnh lại vì mất quá nhiều nước mắt.

Trên đây chỉ là một biểu hiện cụ thể và rõ nét cho giọng điệu tâm tình cảm thương của Hồ Anh Thái. Thực ra, nó còn có những kiểu biểu hiện khác, như giọng tâm tình của Hoà đối với Tường, giọng chân thành của Phức (Người đàn bà trên đảo), của Toàn (Người và xe chạy dưới ánh trăng), hay êm ái chứa chan tình cảm khi bé Đức được chăm sóc con chim sáo như hiện thân của người mẹ dấu yêu đã mất:

“Đức buột miệng gọi:

- Mẹ!


Chim sáo bập bẹ nhắc lại:

Đức run lên. Bị cảm xúc bột khởi chi phối đến phát mê đi, Đức hổn hển lặp lại nhiều lần:

- Mẹ, mẹ ơi!

- Mẹ ơi – Chim sáo dụi đầu, chà mỏ vào má Đức mà kêu theo. Vành mắt bao quanh con ngươi như một hạt vừng đen bỗng đỏ hoe”

(Người và xe chạy dưới ánh trăng)

Ai đó nói rằng Hồ Anh Thái có tư chất thiền sư [47;300], ngẫm ra hoàn toàn có lý. Chúng tôi cho rằng, tư chất thiền sư ấy không chỉ nằm ở những cặp phạm trù đạo đức anh khảo sát trong tác phẩm của mình: thiện - ác, chân – nguỵ, cao thượng – tầm thường,… mà còn biểu hiện ở giọng suy tư đầy triết lý của anh trước những vấn đề này – những suy tư không cao siêu mà rất thực, rất đời, rất người rút ra từ những bài học đời sống. Ở Đàn kiến là cuộc sống bế tắc quẩn quanh của con người: “ở một độ cao vừa phải, ta nhìn xuống thấy tàu xe và cả con người nữa, tất cả đều bò. Bò như kiến ấy. Suốt đời chỉ bò ra bò vào. Quẩn quanh miệng chén”; ở Làn ranh giới là giới hạn, sự phân định mong manh của cái vô nghĩa và cái có nghĩa trong đời sống mỗi người: “Ý nghĩa đích thực của cuộc sống là ở chỗ nào? Người không bao giờ chất vấn cuộc sống thì sống mãi. Người hỏi câu ấy gặp khi mấp mé bên lề cuộc sống thì lao thẳng mà không nghĩ ngợi gì”;… Song vấn đề Hồ Anh Thái suy tư nhiều nhất và triết lý được nhiều nhất chính là thiện - ác, là nhân tâm, là sự hướng thiện của con người. Chuyện cuộc đi Đức Phật là những mẩu chuyện nhỏ về nhân cách của nhân vật vĩ đại này, một tâm hồn chan chứa tình thương và lòng nhân ái. Băn khoăn nhiều để rồi tìm ra con đường giải thoát, Đức Phật chỉ ra con đường chấm dứt khổ đau: “Một khi không còn thù hận, trái tim con người chỉ còn tràn đầy lòng yêu thương. Và chính lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh phúc”; về cái ác và sự oán hận: “Chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán. Lấy oán trả oán thì oán còn”; về niềm tin: “Người bệnh phải muốn lành bệnh trước khi một thầy thuốc bắt tay vào chạy chữa cho mình”,… Chúng tôi luôn xem Cõi người rung chuông tận thế là sự cụ thể hoá những tư tưởng hướng thiện mà Hồ Anh Thái đã thu nhận được từ đạo Phật. Bố trí để cho cái thiện từng bước chế ngự và chiến thắng cái ác, Hồ Anh Thái đã nêu ra những luận đề có tính triết lý đậm nét nhân bản: “Hận thù phải được hoá giải trong một nhãn quan thương yêu và bao dung”, “Kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người”. Như ở phần cốt truyện, chúng tôi có nói đến tính phản đề của tiểu thuyết này, bởi cái thiện cái ác, giác ngộ hay mê tối ở xã hội ngày nay lắm khi cũng chẳng thể trọn vẹn được, ngay cả khi thấu hiểu được rồi, giác ngộ, hướng thiện rồi cũng chưa hẳn được bình an. Hồ Anh Thái triết lý về điều này tương đối trừu tượng như sau: “Biết ai dại ai khôn ở cõi đời này. Khôn cũng chết. Dại cũng chết. Chỉ có biết là sống. Nhưng biết được rồi, giác ngộ được rồi, thì không chết nhưng sống khổ sống sở về tinh thần… Ngộ muộn hay ngộ sớm, họ tất thảy đều đáng thương”. Như vậy, một người giác ngộ, hướng thiện chưa đủ, cần phải có thêm nhiều người, toàn xã hội. Khi đó chắc không còn ai đáng thương. Nhưng đó là điều chỉ nằm trong mơ ước!

Nên chăng sự đa giọng điệu trong văn phong Hồ Anh Thái cần giải thích từ khía cạnh đa nhân cách? Mỗi người là một tập hợp đa dạng của nhiều nhân cách trong xung quanh một nhân cách trội. Có lẽ Hồ Anh Thái cũng vậy. Trong anh có vẻ trong sáng của một tâm hồn lãng mạn trữ tình, có cái cảm thông chia sẻ của một tâm hồn nhạy cảm, có nét suy tư của một tâm hồn ưa triết lý và còn có cả cái bông đùa của một tâm hồn hài hước, thậm chí có cả sự lạnh lùng của tâm hồn tưởng như vô cảm. Mỗi khía cạnh tâm hồn ấy sẽ là một giọng điệu. Chúng tôi muốn nói thêm về hai chất giọng nữa trong văn xuôi Hồ Anh Thái: giọng hiện thực sắc lạnh và giọng hài hước giễu cợt; trong đó, hài hước là nét trội trong hệ thống giọng điệu của Hồ Anh Thái.

Giọng hiện thực sắc lạnh thường thấy khi Hồ Anh Thái khắc hoạ triệt để thói xấu đáng sợ của con người. Với giọng trần thuật tỉnh lạnh khách quan như vô cảm này, Hồ Anh Thái đã tái hiện được sự thực tàn nhẫn, gieo vào độc giả tâm lý phản cảm rõ rệt trước hiện thực ấy. Tất nhiên, đây là dụng ý của người viết, đồng thời là đòi hỏi của đề tài, của cảm hứng chứ không phải là của tâm hồn vô cảm; trước cái xấu đáng sợ không thể có giọng nào hơn là lạnh lùng. Giọng điệu này là sự vô cảm cố tình, là lòng thương nén nhịn của Hồ Anh Thái trước cái được phản ánh. Khuynh trong Người và xe chạy dưi ánh trăng sống bằng tham vọng và thù ghét hơn là tình cảm con người. Để khắc hoạ rõ hơn về bản chất ấy, với giọng dửng dưng không thể dửng dưng hơn được nữa, Hồ Anh Thái kể về hành động của Khuynh đối với con chim sâm cầm y vừa săn được bằng phát đạn đầy thù hận kiểu “giận cá chém thớt”; hạ gục, loại bỏ được một con chim, y có khoái cảm như loại bỏ được Diệu – vợ y – ra khỏi cuộc đời: “Khuynh kéo xoạc cánh con sâm cầm, dứt lấy một cái lông cánh dài, thọc sâu vào đít nó. Con chim giật nảy lên, rướn rướn như muốn lao về phía trước. Khuynh khoái chí vê vê cái lông một hồi lâu rồi mới rút ra. Cái lông dính cuộn cả đám lòng ruột phân giải của con chim, lôi tuột hết ra ngoài. Bây giờ con sâm cầm mới nằm đờ ra”. Nilam trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước đã không còn là mình sau những tai hoạ rơi xuống cô khi về nhà chồng, cô hành động như kẻ mộng du với đứa con của mình: “Nilam uống nửa chai rượu, đổ nửa chai vào cái khăn mặt bông rồi tấp cái khăn ướt sũng lên mặt con bé sơ sinh. Cô dùng con dao đào một cái hố nhỏ. Đứa bé giãy nhẹ mấy cái rồi lịm dần…”. Chất giọng lạnh lùng vô cảm kiểu này được Hồ Anh Thái thể hiện dày đặc trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế khi viết về những cái ác của bản năng của những cái đầu không hề có lý trí, tình cảm, có chăng là tình cảm hận thù điên dại thiếu nhận thức. Ba thằng Cốc, Bóp và Phũ lạnh lùng thực hiện tội ác và lạnh lùng đón nhận cái chết của bạn; Thế lạnh lùng cắt đặt giải quyết ổn thoả cho những xác chết đi Nam về Bắc, từ nhà ra viện như món đồ nhỏ;… Giọng điệu hiện thực sắc lạnh, lạnh lùng vô cảm có ý nghĩa của nó, trực tiếp là tái hiện nhân vật, thể hiện quan niệm của nhà văn về đối tượng; qua những trích dẫn trên, Khuynh hiện ra là kẻ nhẫn tâm, Nilam là nạn nhân của xã hội nhiều định kiến đã giết chết tâm hồn trong sáng của cô,… còn ở Cõi người rung chuông tận thế là sự xuống cấp thảm hại trong lối sống của một bộ phận không nhỏ những kẻ có tiền có quyền trong xã hội hiện đại…

Trong quan niệm nghệ thuật về con người, Hồ Anh Thái không chỉ nhìn ra con người với thói xấu đáng sợ mà thấy cả những thói xấu đáng cười. Hồ Anh Thái dành giọng hài hước giễu cợt để nói về những thói xấu đáng cười chê đó, hài hước chế giễu để mà thức tỉnh.

Hồ Anh Thái khá mẫn cảm trước cái xấu đáng chê cười của mọi người, mẫn cảm quá đến mức thành dị ứng, nhìn đâu cũng nhận ra, mọi lúc mọi nơi, mọi hạng người, mọi lĩnh vực. Giọng điệu này thể hiện rõ trong hai tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười, Tự sự 265 ngày cũng như trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và một vài truyện ngắn trước cũng như gần mới đây. Giọng điệu hài hước giễu cợt mang ý nghĩa quan niệm của Hồ Anh Thái rất rõ khi anh sử dụng nó trần thuật câu chuyện. Một vài trang viết không đủ để nói thật cặn kẽ về chất giọng ngày càng chiếm ưu thế này của Hồ Anh Thái, nhưng có thể tóm lại một vài ý như sau.

Nếu không kể đến những cái tên “ấn tượng” Hồ Anh Thái sáng tạo ra để gọi nhân vật (như đã bàn đến ở phần 3.1.3) thì tính hài hước của giọng điệu trần thuật Hồ Anh Thái chủ yếu thể hiện ở ngôn ngữ người kể chuyện. Nghệ thuật hài hước cần phải tạo yếu tố bất ngờ, những mâu thuẫn đáng cười. Hồ Anh Thái không tạo bất ngờ và mâu thuẫn hài ở cấp độ chỉnh thể mà tạo ngay trong ngôn ngữ người kể chuyện, vạch mâu thuẫn của đối tượng ngay trong từng phát ngôn bằng thứ ngôn ngữ có tính “tượng hình” đầy động từ tính từ thuận lợi cho việc lật tẩy thói xấu lên trang viết mà cười cợt. Nói về sự bấn loạn của học thuật hiện nay, Hồ Anh Thái viết: “Thoạt đầu ban giám đốc có ý kiến phong người đỗ đầu là tiến sĩ. Một cơn sấm động phản kháng. Không. Quyết liệt không. Không đánh đồng danh hiệu trạng của ta với cái học vị ai nghe cũng ngờ vực. Thời buổi tiến sĩ như lợn con, mà toàn là lợn đất, lợn ống tiền, va đập vào nền nhà thực tế là vỡ tan toàn xu lẻ” (Tin thật lòng), hay: “Cô Mỹ theo Việt Nam học, rất thích giai thoại Lê Lai liều mình cứu chúa, cho nên vừa gặp ông sử là cô Mỹ mê ngay, mê cái sự liều mình của ông dạy sử Mỹ mà chưa hề đến Mỹ, mê cái sự khảng khái trí thức – nói chuyện với người Mỹ mà chỉ nói bằng tiếng Việt và chỉ tiếng Việt mà thôi” (Phòng khách), hay: “Báo ra đời bên một nồi nước ốc. Sau này chị nhà văn bảo đây là tín hiệu buộc ta phải cưỡng lại, báo chí không được quyền nhạt” (Chơi),… Ta thấy ngay được mâu thuẫn của đối tượng liền ngay sau đó chứ không phải chờ lâu. Hầu hết các trang viết trong hai tập truyện nói trên đều xuất hiện lối kể này.

Trong những sáng tác gần đây, ngôn ngữ nhân vật của Hồ Anh Thái đều là lời gián tiếp qua ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, một thứ ngôn ngữ ngang hàng, không còn dấu hai chấm (:) không gạch đầu dòng (-), đan xen với ngôn ngữ người kể chuyện. Dưới giọng điệu hài hước của người kể, ngôn ngữ nhân vật cũng hài hước không ngờ. “Mày không sợ tao kiện à, nó là con gái vị thành niên? Tôi cũng vị thành niên đây, còn lâu mới mười tám tuổi, tôi cũng đi kiện” (Bến Ôsin) là đối thoại của ông bố cô ôsin và thằng thợ xây làm cô có bầu. Hay: “Ông nhà thơ tiếng thơm phưng phức mấy chục năm qua, giờ móm hết, biếu gì cũng không ăn. Ông trịch thượng gọi là mày xưng tao. Con kia, thơ phú làm cái khỉ gì, đấy là chỗ trốn của bọn lười học lười lao động mà lại thích nổi danh. Mày học hành thế nào, không bao giờ tiên tiến à, mày làm ăn thế nào, không bao giờ xuất sắc à, đấy tao nói cấm có sai. Ông móm, lại ham nói thành ra nước bọt hai bên mép cứ sùi ra hai bên mép như nòng nọc. Ông món, thành ra cho cái gì ông cũng chẳng xơi. Bù lại, chẳng xơi của ai cái gì, thành ra ông có quyền chửi thơ người này thối thơ người kia khắm. Cả hội viên lẫn mon men hội viên ai cũng kinh, thấy ông từ xa là tất cả thành thợ lặn” (Lọt sàng xuống nia) là giọng mạt sát gợi ra được lắm “bệnh” của nhà thơ cũng như những người đang háo danh nhà thơ.

Giọng văn hài hước của Hồ Anh Thái còn nằm ở sự giễu nhại. Cái gì cũng có thể giễu nhại được, nhại lời bài hát, nhại thơ, nhại thành ngữ tục ngữ, hay nhại lối nói chêm chêm xen xen của thị dân hôm nay: “Bảo với chúng nó nhá, chúng nó cặp nhiệt độ nhau thì tìm chỗ cho bất khuất, đừng có Nghĩa Lộ quá trước mắt bà, bà Lũng Cú lên, bà thịt băm cho mấy nhát thì anh ả đứt phựt dây đàn” (Trại cá sấu),…

Giọng điệu hài hước của Hồ Anh Thái còn nằm ở ngôn ngữ vần vè, cân đối như… thơ Tú Mỡ của người kể chuyện, kiểu như “… ho ra thơ thở ra văn hắt hơi ra tiểu luận” (Phòng khách), “cái môbai của tôi như một thứ mõ trâu đi đâu biết đó, có lẩn vào rừng xanh núi đỏ cũng bị theo dấu bắt về” (Làn ranh giới)…; có khi ở cả những “triết lý ngược”, chẳng hạn: “Lái tàu lái lợn lái xe, cả ba lái ấy đừng nghe lái nào” (Anh xe ôm một chặng đường núi), “có những điều người ta chỉ có thể ngộ ra khi được ở trên giường” (Cõi người rung chuông tận thế),…

Về giọng điệu hài hước giễu cợt trong văn xuôi Hồ Anh Thái cần phải nói cụ thể hơn nữa, trên đây chỉ là vài nét sơ lược để khẳng định sự chi phối cũng như biểu hiện của quan niệm về con người nhiều thói xấu đáng cười trong giọng điệu Hồ Anh Thái mà thôi. Theo lý thuyết giọng điệu, mỗi nhà văn dù có thay đổi đến đâu thì vẫn có giọng chủ đạo của mình, nó như một “hằng thể” [19;155] của nhà văn ấy. Qua thực tế sáng tác của Hồ Anh Thái trong thời gian gần đây, chúng tôi không xem hài hước là “căn tính viết” của Hồ Anh Thái như có người quan niệm [57] mà thấy rằng nó đang dần trở thành giọng điệu chủ đạo của ngôn ngữ trần thuật trong văn xuôi Hồ Anh Thái, có lẽ anh còn đang “dồi dào” cảm hứng trước cái xấu đáng cười của con người và xã hội.

Giọng điệu trần thuật của Hồ Anh Thái đa dạng nhưng không tồn tại riêng lẻ mà luôn đan cài vào nhau. Đây là một nhận xét cần có khi khảo sát giọng điệu trong văn xuôi Hồ Anh Thái, điều này thể hiện tài năng dẫn truyện cũng như phong cách đa dạng của nhà văn. Đây là thành tựu về nghệ thuật tổ chức giọng điệu mà Hồ Anh Thái đã theo đuổi và đạt được.

Vì đâu có hiện tượng này? Giọng điệu khởi nguồn từ cảm hứng. Mỗi một quan niệm khác nhau về con người sẽ cho những cảm hứng khác nhau và những giọng điệu khác nhau để truyền đạt cảm hứng đó. Hồ Anh Thái đa dạng trong giọng điệu là từ đấy. Trong tác phẩm, Hồ Anh Thái không chỉ nêu ra một mà nhiều vấn đề, cho nên mỗi tác phẩm của anh là sự thống nhất của một vài quan niệm nghệ thuật về con người, vì vậy một giọng là không đủ cho tác giả diễn đạt. Sự đan xen giọng điệu trong văn xuôi Hồ Anh Thái có lý do như vậy. Cơ bản trong hai tập Tự sự 265 ngàyBốn lối vào nhà cười là giọng điệu hài hước nhưng nó vẫn có nhiều giọng triết luận suy tư: Bóng ma trên hành lang, Vẫn tin vào chuyện thần tiên,… (Tự sự 265 ngày), hay: Hàng xóm ở Seattle, Tin thật lòng, Làn ranh giới,… (Bốn lối vào nhà cười). Truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước có chủ đề chính là thân phận buồn đau của người phụ nữ, nhưng đan cài trong đó, bên cạnh giọng xúc động cảm thương cho số phận Nilam vẫn có cả giọng trữ tình trong sáng với rừng cây kim tước và Nilam thời con gái, và có cả giọng hiện thực sắc lạnh trước tội ác của xã hội dành cho các bé gái sơ sinh. Sự đan xen này dễ thấy hơn cả ở tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, hầu hết những giọng điệu nổi bật của Hồ Anh Thái đều góp mặt ở đây, nó thể hiện cái nhìn đa chiều về hiện thực, thể hiện nhiều sắc độ tình cảm của tác giả trước hiện thực đó. Có giọng lạnh lùng khi nói về cái ác và cái chết, lại có giọng tâm tình cảm thương chia xẻ trước những nỗi đau của con người, nhất là những người dân lương thiện chịu nhiều bất công, có giọng hài hước giễu nhại trước lối sống nhố nhăng, hỗn tạp của con người hiện đại và cũng đẫm chất suy tư khi tác giả chiêm nghiệm về lẽ thiện ác, luật nhân quả, về hận thù và tình thương bằng giọng triết luận có chiều sâu.

Sự đan cài nhiều giọng điệu của Hồ Anh Thái là sự thống nhất trong đa dạng của giọng điệu trần thuật. Đa giọng điệu là đa phong cách, theo như quan niệm của Hồ Anh Thái thì anh đã tạo cho mình được phong cách đa dạng, tuy nhiên nó vẫn có bản sắc, đó là nền tảng văn hoá vững chắc và tầm nhìn nhân sinh sắc sảo và rất nhân bản của nhà văn này. Qua giọng điệu trần thuật của Hồ Anh Thái, không chỉ thấy thực tế đời sống được phơi bày, mà con thấy thái độ của anh trước vấn đề đó; giọng điệu hiện thực lạnh lùng là sự nghiêm khắc trước cái xấu, cái ác; giọng điệu hài hước là sự cười cợt để thức tỉnh những thói xấu đáng chê cười; giọng điệu tâm tình cảm thương là tấm lòng đồng cảm sẻ chia trước những tâm sự trước những nỗi đau và sau tất cả là những chắt lắng Hồ Anh Thái rút ra từ đời sống qua giọng điệu triết lý ưu tư, có chiều sâu nhân bản.




1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương