Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang5/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

3.2.2. Cốt truyện sinh hoạt – tâm lý

Chúng tôi muốn nói đến cốt truyện sinh hoạt – tâm lý như một loại cốt truyện miêu tả con người và cuộc sống con người trong một khoảng thời gian nhất định nào đó với mục đích khảo sát tình trạng hiện tại của con người. Đây là cốt truyện khá phổ biến trong văn xuôi hiện đại Việt Nam cũng như trong văn xuôi Hồ Anh Thái.

Căn cứ vào khía cạnh thể loại, chúng tôi sẽ xem xét cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong truyện ngắn và cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái.

Đặc trưng của truyện ngắn “thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong mối quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” [17;314], do vậy cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong truyện ngắn thường xảy ra trong không – thời gian hẹp, xác định và cách tổ chức thường nhằm nhận ra điều gì đó sâu sắc trong con người và đời sống.

Cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong truyện ngắn Hồ Anh Thái thường đầy đủ các thành phần, cách cấu trúc có thể theo trình tự hoặc bị đảo lộn, tuy nhiên, chúng tôi chú ý nhiều đến đặc điểm của sự kiện, tình huống trong dạng cốt truyện này. Nhìn từ khía cạnh quan niệm nghệ thuật về con người, thấy rằng các sự kiện và tình huống được Hồ Anh Thái đưa vào tác phẩm của anh có tác động rất lớn đến nhân vật, nó có thể làm nhân vật bộc lộ rõ tính cách hoặc làm thay đổi đời sống nhân vật, đồng thời tạo nên những bước ngoặt cho cốt truyện, cũng tức là những bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Điều này đã được chúng tôi phần nào nói đến ở phần 3.1.2 khi bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Hồ Anh Thái. Trong Người Ấn, là cái chết của bà mẹ Navin và ước nguyện của bà đối với con trai rằng không bao giờ bỏ bà lại một mình, kể cả khi bà đã chết; trong Đàn kiến là gánh nặng gia đình trên đôi vai cô bé Kamla mới 12 tuổi, là sự thất vọng trong công việc của Gokhale, là nỗi sợ hãi về cuộc sống vợ chồng của Hansa; trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước là số phận đau đớn của các bé gái sơ sinh trên đất nước của đạo Bà La Môn; trong Đi khỏi thung lũng mới đến nhà là việc phế truất nữ thần đồng trinh Sabana… Đó đều là những sự kiện làm nên biến cố cho cuộc đời nhân vật, đồng thời tác giả nói lên được nhiều cảm nhận của mình về số phận con người: ở Đàn kiến, Kamla vì thương cha mẹ nên phải chấp nhận làm vợ ông già 62 tuổi, Hasan sợ có vợ, sợ có con và không tin tưởng vào giá trị của gia đình nhưng cuối cùng vẫn phải lấy vợ sinh con, Gokhale thất vọng muốn bỏ đi nhưng rồi vẫn phải ở lại: là sự luẩn quẩn của kiếp người, cho dù có quẫy đạp mong thoát ra khỏi hoàn cảnh mà không thể, chỉ như “kiến bò miệng chén” mà thôi; trong Người Ấn, Navin làm theo ước nguyện của mẹ nên đi đâu anh cũng mang theo chiếc ba lô có chứa bộ hài cốt của bà: là cách sống “trung dung” giữa phương Đông tình cảm và phương Tây duy lý của con người hiện đại trong xã hội giao lưu đa phương diện đến chóng mặt; trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước, những cái chết oan uổng diễn ra một cách bình thường trong sự dửng dưng của xã hội, cuộc đời tăm tối và cái chết được định sẵn của Nilam: là hệ quả tất yếu mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội quá ư hà khắc; cũng như vậy là thân phận Sabana trong Đi khỏi thung lũng mới đến nhà, song có phần tươi sáng hơn, bởi Sabana có cơ hội để nhìn thấy đường chân trời!

Từ một vài ví dụ nêu trên, thấy rằng quan niệm nghệ thuật về con người đã có tác động lớn và bộc lộ cụ thể qua cách tổ chức cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. Cốt truyện sinh hoạt – tâm lý trong tiểu thuyết của anh cũng vậy, cũng thể hiện cái nhìn của tác giả về con người và cuộc đời; ở đây, chúng tôi chú ý đến việc cấu trúc cốt truyện hơn, bởi vì tiểu thuyết có khả năng phản ánh đời sống con người rộng trong nhiều giới hạn không – thời gian nên nó có nhiều chi tiết, sự kiện, do đó cần có cái nhìn mang tính chất “tập hợp” sự kiện, tình huống vào những hướng nhất định theo ý đồ nghệ thuật của tác giả. Tính quan niệm của cốt truyện nằm ở đây.

Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đều ngắn và ít nhân vật. Trong tiểu thuyết, anh nhìn nhận đời sống xã hội thông qua đời sống cá nhân, do vậy tiểu thuyết của anh thường đề cập trực tiếp đến tâm lý, tính cách, số phận của từng nhân vật cụ thể rồi khái quát lên những vấn đề cốt yếu của đời sống. Người và xe chạy dưi ánh trăng là sự vươn lên sau nhiều mất mát của Toàn, sự hoàn lương của Khắc, sự tha hoá của Khuynh với vấn đề giữ vững nhân cách trong sáng hướng thiện trong cuộc sống; Ngưi đàn bà trên đảo là ý chí của Hoà trước thử thách của cuộc sống mới, bản năng của Tường, khát khao hạnh phúc riêng tư của những người phụ nữ đội 5 với vấn đề khát vọng và sự chế ngự bản năng của con người; Cõi người rung chuông tận thế là sự tàn ác sa đoạ của Cốc, Bóp, Phũ, của Yên Thanh, trăn trở của Đông trước cái ác, khát vọng trở lại đời thường của Mai Trừng với vấn đề thiên lương của con người trong xã hội hiện đại nhiều phức tạp lắm xô bồ;…

Để đạt được những dụng ý nghệ thuật đó, Hồ Anh Thái đã có những cách tổ chức cốt truyện riêng ở từng tác phẩm. Chẳng hạn: Cõi người rung chuông tận thế là cuốn tiểu thuyết đậm chất luận đề, tính luận đề từ tư tưởng ngấm vào cả cách thức tổ chức cốt truyện. Mở đầu, người đọc tiếp xúc ngay cao trào với đầy sự kiện về cái xấu cái ác và cái chết, mâu thuẫn được đẩy lên cực điểm như bị nén chặt chỉ trực nổ tung, thế nhưng mở nút lại là tiếng thở phào nhẹ nhõm khi cái ác tiêu tan dần trong sự thấu hiểu thông cảm và yêu thương đồng loại. Xen giữa cao trào và mở nút là phần trình bày với mục đích lý giải căn nguyên của cái ác và ác chết mà người ta dành cho nhau thông qua những sự kiện nói về thói dâm ô, sự lộng hành của kẻ có tiền có quyền, thói bất cẩn thiếu trách nhiệm trong công việc,… và đặc biệt là lòng thù hận. Tâm sự về cuốn tiểu thuyết này, Hồ Anh Thái nói: “Nhiều năm rồi, tôi muốn viết một cuốn sách về ngày phán xử cái ác. Hận thù sinh ra hận thù trong một cái vòng luẩn quẩn, hận thù trong chiến tranh, trong thời bình, sang làm ăn kinh tế, hận thù ấy phải được hoá giải trong nhãn quan yêu thương và bao dung. Vẫn biết điều đó là không tưởng, nhưng là nhà văn, tôi phải mơ ước” [50;244]. Lời tâm sự này của nhà văn đã giải thích cho phần vĩ thanh của tác phẩm (trong tiểu thuyết được đánh dấu là “Chương cuối”). Sau khi Đông dẹp trừ được lòng sân hận, cái ác trong mình, sau khi Mai Trừng hoá giải được lời nguyền diệt trừ cái ác đeo đẳng cô 26 năm, cuộc sống tưởng sẽ bình an, nhưng phần vĩ thanh có tính chất “thủ vĩ ngâm” đã khẳng định “điều không tưởng”, khẳng định “mơ ước” mà Hồ Anh Thái đã nói trên kia là thực, bởi cuộc sống còn đầy rẫy cái xấu xa tàn ác; vẫn là vũ điệu lửa của “những người đàn bà bán dâm đang đốt vía trong tư thế compa mở 25 độ” đã thấy ở chương 1, vẫn là những cái ác mà người ta gây ra cho nhau (chiếc xe của Đông bị đốt cháy), và nữa, chuông chùa rung thảng thốt như một lời cảnh báo!

Chúng tôi thích cách tổ chức cốt truyện nhìn qua tưởng như giản đơn này, nó vừa khép lại trong sự trọn vẹn của chủ đề tư tưởng: mỗi con người cần hướng thiện, cần phải bao dung bằng tình thương yêu, vừa mở ra một phản đề: cái ác hãy còn nhiều trong đời sống. Phản đề này không tạo sự hoang mang mà như nhấn mạnh thêm cho chủ đề: cuộc sống còn bệnh tật vẫn xấu xa vẫn ác độc, do vậy bản thân mỗi con người cần có sự thanh lọc tâm hồn, cần có sự ý thức, giác ngộ để hướng về cái thiện, kẻo không chuông chùa đang rung lên thảng thốt!

Tiểu thuyết Người và xe chạy dưi ánh trăng lại có cốt truyện mờ, mọi sự kiện tình huống truyện diễn ra theo dòng ký ức Toàn về những kỷ niệm của anh, hay những cảm nhận của Toàn về đời sống thường ngày mọi người trong khu tập thể nơi anh ở. Không có mâu thuẫn nào được đẩy lên cao, không có cao trào hay mở nút. Cách tổ chức như vậy hoàn toàn thích hợp khi tiểu thuyết mở ra cho độc giả cuộc sống đời thường của những con người bình thường, nhưng qua sự kiện lại cho thấy tính cách và số phận của từng nhân vật. Người và xe chạy dưi ánh trăng là bức tranh xã hội miền Bắc vừa đi ra khỏi cuộc chiến ác liệt để xây dựng đời sống mới, trong đó có những người hăng hái như Hiệp, Trang, cũng có những người thờ ơ với đất nước như Minh, hay cũng có những kẻ lột xác thành một con người vụ lợi, lắm tham vọng quyền lực như Khuynh, song đáng quý vẫn có những người từ bỏ tội lỗi như Khắc, hay vẫn giữ mãi được tâm hồn trong sáng thánh thiện như Toàn, Mỵ. Cốt truyện Người và xe chạy dưi ánh trăng bàng bạc như một giấc mơ, lãng đãng như làn sương mỏng nhưng đằng sau đó là những vấn đề thuộc về lối sống con người – một cách đan cài vấn đề rất ý nhị của Hồ Anh Thái vào sự kiện sinh hoạt hàng ngày của con người.



3.2.3. Cốt truyện kỳ ảo

Dưới đây là trích dẫn Lời nói đầu cho tập truyện ngắn kỳ ảo Việt Nam do Hồ Anh Thái viết: “Triết gia Ấn Độ hiện đại Vivekanada từng nói: "Thế giới này nhỏ bé lắm, cho nên người ta phải thêm vào đó một chút tưởng tượng". Tôi cứ muốn tin đó là ông nói về yếu tố hiện thực kỳ ảo trong văn học nghệ thuật. Quả thật là phải thêm vào một chút tưởng tượng bay bổng thì cái thế giới chật hẹp ấy mới được mở rộng ra đến khôn cùng, chứ không nó cứ mãi còn chật hẹp, thô sơ như một quan niệm cũng rất chật hẹp thô sơ về "chủ nghĩa hiện thực".

Quan niệm giản đơn này đã khiến người ta tự chặt đứt một khả năng, tự làm nghèo đi khi phản ảnh hiện thực. Hiện thực không chỉ là cái nhìn thấy, cầm nắm được, miêu tả được. Hiện thực còn là những giấc mơ ly kỳ, là niềm tin tín ngưỡng, những ước mơ ngoài tầm với, là những ảo ảnh chập chờn... xuất hiện trong đời sống tinh thần của con người. Không gợi dậy được những yếu tố huyền ảo đó thì nhân vật "hiện thực" chỉ còn là một cái xác khô cứng thô sơ mà thôi. Điều đó cho thấy rằng viết về thế giới này mà chỉ dùng mỗi một công cụ hiện thực giản đơn là chưa đủ (…). Như vậy hiện thực kỳ ảo là một cái nhìn hiện thực sâu sắc hơn, nhiều chiều hơn, ly kỳ hơn” [35;6-7].

Từ đấy có thể giải thích vì sao trong văn xuôi Hồ Anh Thái xuất hiện nhiều cốt truyện kỳ ảo. Điểm lại loại cốt truyện này, thấy rằng hầu hết nó đều được Hồ Anh Thái sử dụng để nói về con người nhiều tật xấu, ngoại trừ tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra. Khảo sát cốt truyện kỳ ảo của Hồ Anh Thái, chúng tôi sẽ đi theo nhận định này. Nhân đây cũng trở lại với luận điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tình huống ảo trong văn xuôi Hồ Anh Thái đã nêu ở mục 3.1.2.

Cốt truyện kỳ ảo được Hồ Anh Thái tạo dựng để đi sâu hơn vào cái xấu của con người, chủ yếu thông qua tình huống kỳ ảo. Chúng tôi quan niệm tình huống kỳ ảo là những giả định, không có trong đời thực được nhà văn hư cấu ra để khảo sát con người. Sự kiện kỳ ảo được bố trí dọc tác phẩm nhưng sự kiện quan trọng nhất đạt đến độ biến cố luôn giữ vai trò là tình huống chính, là xuất phát điểm cho cao trào của truyện. Mọi vấn đề nảy sinh từ đây. Chẳng hạn:

Món tái dê là truyện ngắn đặc sắc, luôn được tuyển chọn vào nhiều tập sách của Hồ Anh Thái xuất bản trong và ngoài nước. Sức hấp dẫn của nó tất nhiên không chỉ nằm ở khía cạnh hài hước mà còn ở ý nghĩa chua xót mà Hồ Anh Thái không ngần ngại đề cập, đó là thói dâm ô: tật xấu muôn đời của con người. Truyện bắt đầu bằng việc Hốt phát hiện ra khi chỉ có một mình ngồi trước tivi, y chỉ thấy trên đó toàn cảnh khoả thân. Việc đến tai Diên, thủ trưởng của Hốt, Diên cũng muốn biết thực hư ra sao và kết quả: Diên biến thành con dê ngay trong lần đầu tiên xem tivi nhà Hốt. Sau đó Diên bị đối xử không khác gì với con vật: bị nhốt trong chuồng lợn, bị bỏ đói, bị ép buộc và đều phải chấp nhận. Còn cái tivi nhà Hốt vẫn hiện ra những cảnh khoả thân khi chỉ có một người xem như thể nó luôn rình rập để sẵn sàng làm hiện nguyên hình những con dê đang đội lốt người trong xã hội, “những con dê trong nhà, dê ngoài phố, dê đi hon đa…”. Thấy gì qua cốt truyện này? Khi ham muốn thái quá, bị dục vọng bản năng chi phối con người ta chẳng khác gì một con vật – một con dê!

Vẫn tin vào chuyện thần tiên chỉ có một tình huống kỳ ảo nhưng nó mở đầu cho toàn bộ cốt truyện, toàn bộ chủ đề, đó là anh chàng 100% máu Việt, tên Việt sau một đêm ngủ dậy trên đất Mỹ đã biến thành gã “mắt xanh mũi lõ” nhưng vẫn nói tiếng Việt, vẫn là người Việt song chỉ riêng anh ta biết, còn mọi người thì coi là “anh Tây”. Nghịch lý xảy ra từ đây. Trong khi Việt kiều ở nước ngoài chỉ mong được kết hôn với “hàng quốc nội” thì dân quốc nội lại chạy theo tất cả những gì có gắn mác “Tây”. Trở về nước, Khoa (tên của “anh Tây”) được đối xử “như Tây”, đi ra đường thì gặp văn hoá mời chào vỉa hè người ta “ưu ái” dành cho: “Háo a iu, Tây ngố. Oăn phôtô? Oăn mép? Không có bản đồ, đi lạc chết cha mày”; trước một kiến trúc hổ lốn lai tạp giữa Hy Lạp cộng với La Mã cộng với Thổ Nhĩ Kỳ, anh Tây phán là kiến trúc Pháp, lập tức cả hội đồng thẩm định trước đấy còn băn khoăn, nay đồng loạt gật gù “kiểu Pháp, đúng rồi, kiểu Pháp”; đến nhà người ta thì cả mẹ cùng con gái lăn ra xin làm vợ để được “đưa sang Tây, nói tiếng Tây”. Với tình huống giả định của cốt truyện kỳ ảo trong truyện ngắn này, Hồ Anh Thái đã trắc nghiệm được cái trớ trêu đến mức nhố nhăng của lối sống con người hiện đại: người ta sẵn sàng nghe theo, tin theo, chạy theo những gì dính dáng đến nước ngoài, cứ nước ngoài là hay là tốt mà không cần biết thực hư bản chất của nó thế nào, vì có khi chỉ là đội lốt, khoác áo mà thôi; còn như Khoa, chẳng may biến thành Tây thì xót xa nhận ra cái lố bịch của nó, chỉ mong có phép thần tiên đưa mình trở lại làm người Việt đầu đen mũi tẹt da vàng. Đúng là cái cười của Hồ Anh Thái, cười thì vui vẻ hả hê, ngẫm thì đau đớn chua xót!

Tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra cũng bắt đầu bằng một tình huống ảo nhưng không phải để khai thác cái xấu đáng cười của con người như cốt truyện kỳ ảo trong truyện ngắn mà mở ra vấn đề khác, nghiêm túc hơn, đó là khát vọng thấu hiểu quá khứ và thẩm định lại quá khứ của thế hệ hậu sinh. Với nội dung này, không gì hiệu quả hơn bằng việc trực tiếp quay trở lại sống trong quá khứ, Hồ Anh Thái đã tổ chức một cốt truyện mà ở đó nhân vật của hiện tại trôi về sống cùng những nhân vật của quá khứ mà có thể họ còn hoặc không còn hiện hữu ở hiện tại. Khó mà phân biệt cho rõ các thành phần của cốt truyện này, tất cả các sự kiện như dần hiện ra sau làn sương hồng mờ ảo giăng ngang. Truyện mở đầu bằng mốc thời gian 1987 với sự cố nhà đổ, điện giật làm chàng trai 17 tuổi tên Tân bất tỉnh ở hiện tại nhưng lại hiện hữu trong quá khứ vào năm 1967 trong hoàn cảnh chiến tranh. Tân trở về quá khứ đúng trong gia đình mình, chứng kiến quá trình tìm đến với nhau của cha và mẹ, chứng kiến quá khứ của những người đang sống quanh mình lúc hiện tại và quan trọng hơn là chứng kiến chiến tranh ác liệt và cuộc sống trong chiến tranh của thế hệ đi trước. Với cảm quan hiện tại, Tân đã tri nhận đầy đủ về một quá khứ xa lạ anh không thể biết nếu không có phép lạ đẩy anh lùi lại 20 năm trước đó, và anh cũng không ý thức được những ý nghĩa cũng như tai hoạ mà quá khứ có thể để lại hay gây ra cho hiện tại và cho cả tương lai. Quá khứ có khi là sự ác liệt của chiến tranh, của những lần không kích, hay những lần xuống hầm tránh bom; nhưng có khi cũng rất bình yên với những sinh hoạt thường nhật của mọi người, người ta vẫn yêu nhau, vẫn làm ăn học tập, vẫn đàn vẫn hát, vẫn đi xem phim, vẫn cảm nhận được mùi thơm của hoa sữa trong khoảnh khắc ngắn ngủi giữa hai đợt ném bom. Quá khứ ấy có những con người dũng cảm như Trinh, như Đô nhưng cũng có không ít kẻ giả dối và nhỏ nhen, ham thành tích như ông Tựu. Quá khứ có khi là người bà ngoại của Tân, là một người cách mạng nhưng cũng đầy toan tính và cơ hội, đầy thành kiến giàu nghèo, đẳng cấp. Quá khứ cũng có khi là quả bom 5000 bảng Anh, như ngôi nhà, chỉ do bất cẩn của những người có trách nhiệm đã phát nổ, đã sụp đổ gây thương vong cho tương lai. Nhưng trên hết, quá khứ là tình yêu trong sáng của Yến và Đô, là sự dũng cảm yêu đời của những con người trẻ tuổi và “quá khứ ấy cũng như con tàu đắm kia, không được quyền ngủ yên dưới bãi sông. Một ngày nào đó nó sẽ được khai quật lên, được thay đổi một số bộ phận, được sửa chữa và tân trang. Rồi con tàu ấy sẽ hú còi chạy trên sông Hồng, nhắc nhở mọi người về sự hiện diện của nó trong hiện tại”.

Quá khứ không phải là bất khả xâm phạm, nó cần được hậu thế định giá để biết những gì hạn chế mà loại bỏ, những gì tốt đẹp mà phát huy. Hồ Anh Thái bằng cốt truyện kỳ ảo đã xem xét lại quá khứ trong cái nhìn lưỡng phân ấy, quá khứ có tốt và có xấu. Tân là nhân vật thực, nhân vật của hiện tại được Hồ Anh Thái “bố trí” sống trong tình huống ảo của cốt truyện kỳ ảo để khám phá ra những giá trị của quá khứ, đến khi tỉnh lại đem theo về hiện tại một cảm nhận mới, định giá mới về gia đình mình và quá khứ của đất nước mình cùng những con người sống trong quá khứ đó, và lối sống của Tân cũng theo nhận thức đó mà thay đổi, tình huống cuối của tiểu thuyết đã hé mở cho độc giả cảm nhận này.

Trên đây chỉ là một vài dẫn chứng tiêu biểu, kỳ thực cốt truyện kỳ ảo trong văn xuôi Hồ Anh Thái còn xuất hiện khá nhiều, như: Cứu tinh, Ai là quỷ dữ, Chợ, Lũ con hoang…, đó là chưa kể tới những cốt truyện thực nhưng có nhiều chi tiết ảo, như: con chim cắp nguyên một một hàm răng giả như là hiện thân của ông Thiển trong Chim anh chim em, trận cuồng phong được góp lại bằng những tiếng thở dài trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước, những cái chết bí ẩn và năng lực siêu nhiên trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, hay huyền thoại về nghĩa quân Tần Đắc trong tiểu thuyết Ngưi đàn bà trên đảo,…

Hồ Anh Thái quan niệm kỳ ảo là một yếu tố, một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc phản ánh hiện thực đa chiều, vì vậy cốt truyện thì kỳ ảo nhưng cho cái nhìn sắc hơn, chân xác hơn về hiện thực thông qua những giả định của trí tưởng tượng phong phú. Đằng sau cốt truyện kỳ ảo của Hồ Anh Thái không phải là cái gì xa vời viễn tưởng mà đều là những vấn đề rất thực rất đời của cuộc sống.

3.2.4. Cốt truyện phân mảnh

Cốt truyện phân mảnh là cách gọi của chúng tôi dành cho những truyện ngắn của Hồ Anh Thái mà ở đó quan niệm truyền thống về cốt truyện đã bị phá vỡ, nó không còn đầy đủ các thành phần, nhân vật gần như cũng bị thủ tiêu hầu hết mọi biểu hiện, cái còn lại chỉ là sự kiện và tình huống trong không – thời gian cũng bó hẹp và xác định. Cốt truyện phân mảnh khảo sát cuộc sống chủ yếu bằng sự kiện và tình huống chứ không thông qua nhân vật, do vậy nhân vật xuất hiện nhiều nhưng không toàn vẹn, nó như những con rối biết nói cộng thêm một chút hành động. Đúng như tên gọi phân mảnh của nó, loại cốt truyện này được tổ chức bằng những sự kiện riêng lẻ, bằng nhiều mảnh vỡ của đời sống để hướng đến một hoặc một số chủ đề mà tác giả đã định sẵn từ ban đầu; giữa các sự kiện này ít hoặc không liên quan đến nhau, nó cố kết với nhau rất lỏng lẻo bởi giữa chúng không có quan hệ nhân quả mà đơn giản chỉ có quan hệ tương đồng về mô típ. Vì vậy, sẽ hoàn toàn thất vọng nếu áp dụng cách hiểu truyền thống vào cốt truyện phân mảnh; ở đây không thể xác định được đâu là thắt nút, đâu là mở nút hay cao trào, nó bắt đầu rất nhanh rồi trực tiếp đi vào các tình huống sự kiện; và sự kiện có thể nối nhau dài mãi tuỳ ý tác giả bởi không hề có mâu thuẫn nào được đặt ra để kết thúc truyện bằng cách giải quyết mâu thuẫn. Với loại cốt truyện này, để phân định các phần (chính xác phải gọi là các sự kiện, mảnh vỡ riêng lẻ) cần căn cứ vào nội dung của từng sự kiện hoặc căn cứ vào dấu hiệu hình thức thường gặp là cách bố trí dấu “hoa thị” (***) trong tác phẩm, mỗi dấu “hoa thị” thường là để kết thúc sự kiện này và mở ra sự kiện khác.

Phân mảnh là loại cốt truyện phổ biến trong truyện ngắn của Hồ Anh Thái trong những năm gần đây, nó cũng là dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác của anh, hình thành nên trong văn xuôi Hồ Anh Thái loại truyện ngắn mảnh vỡ (Fragment Short Stories), góp phần ghi thêm dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam hôm nay. Loại cốt truyện phân mảnh của Hồ Anh Thái tập trung chủ yếu trong hai tập truyện ngắn Tự sự 265 ngàyBốn lối vào nhà cười, tiêu biểu như: Phòng khách, Tờ khai visa, Bãi tắm,… (Tự sự 265 ngày) hay: Trại cá sấu, Bến Ôsin, Tin thật lòng, Cây hoàng lan hoá thành cây si, Chợ, Cả một dây theo nhau đi,… (Bốn lối vào nhà cười) và một vài truyện ngắn anh vừa ra mắt mới đây trong tập truyện Sắp đặt và Diễn, như: Một bà năm ông, Diễn,...

Với loại cốt truyện phân mảnh này, Hồ Anh Thái đã bao quát được xã hội thông qua sự đa dạng của nhiều kiểu người, trong nhiều lĩnh vực. Nói chung, cách tổ chức cốt truyện phân mảnh tương đối đơn giản, nó là sự lắp ghép hiện đại, khác với lắp ghép truyền thống. Lối lắp ghép truyền thống là sự phá vỡ văn bản trùng khít với thời gian tuyến tính của sự kiện để tổ chức lại trong sự đảo lộn trước sau, còn lối lắp ghép hiện đại của cốt truyện phân mảnh là tập hợp các sự kiện vụn vặt của đời sống thành những văn bản trần thuật riêng lẻ, rời rạc không theo trật tự nào của ý nghĩa cũng như thời gian. Tuy nhiên, kết quả của sự lắp ghép bao giờ cũng phải là cái gì đó hoàn chỉnh có hình có khối. Hồ Anh Thái đã lắp ghép được rất nhiều bức tranh xã hội thông qua kiểu cốt truyện này. Sau mỗi bức tranh tưởng như rời rạc ấy lại chằng chéo những vấn đề.

Tờ khai visa là những sự kiện tác giả nhặt được bên lề sứ quán Mỹ, khi chứng kiến hàng người xếp hàng dài ở đây để xin thị thực nhập cảnh với nhiều động cơ mục đích khác nhau của nhiều hạng người khác nhau. Tính phân mảnh của truyện ngắn này rất rõ thông qua sự kiện tình huống của từng nhân vật riêng lẻ, từ đó cho thấy nhiều nỗi éo le, những mục đích tầm thường của những cái đầu vọng ngoại. Ông Số Một là kẻ lọc lõi trong việc điền tờ khai visa, vì ông đã đi Mỹ nhiều lần, ông đi làm thương vụ, đi gặp đối tác rồi ông ghé qua “quấy rối tình dục” bà nữ thần tự do rồi ông lại về, ông không thèm ở lại, nên ông ta lấy làm khoái chí khi chơi khăm hải quan Mỹ: “Đáng lẽ phải viết No thì ông sổ chữ Never ở mục 22: Đương đơn có ý định tìm việc làm ở Hoa Kỳ không? Never. Không bao giờ. Mục 23 cũng thế: Đương đơn có ý định đi học ở Hoa Kỳ không? Never. Không bao giờ”. Chuyện của bà Số Hai thì cười ra nước mắt khi bà chỉ có thể hiểu “Sex” là “tình dục” mà không hiểu rằng người ta yêu cầu xác định giới tính nam hay nữ. Không biết vốn tiếng Anh ở trung tâm ngoại ngữ ban đêm của bà chỉ tới đó hay những ám ảnh trong đời sống đã khiến bà tư duy như vậy? Có lẽ cả hai! Chuyện cô Số Ba thì thật chẳng có gì đáng nói: “đi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Hà Nội, gặp nhà nghiên cứu người Mỹ, anh chàng này cứ lăn vào đòi cưới. Thế là cưới. Thế là đưa nhau về Mỹ”, khi nào nhớ mẹ lại về Việt Nam, khi nào nhớ chồng lại quay sang Mỹ. Anh Số Bốn là thực tế của không ít lưu học sinh Việt Nam. Đừng nghĩ rằng đi du học là sang: “Mười năm một khúc đoạn trường. Máy vi tính bàn học thì sử dụng ở giảng đường, ở thư viện. Căn phòng bốn mét vuông dưới tầng hầm như chuồng cọp Côn Đảo trên đất Mỹ. Chàng chỉ cho phép mình thuê một chỗ ngủ qua đêm như thế” bởi mỗi năm phải gửi cho bố mẹ 3 ngàn đô tiền tiết kiệm. Và cũng đừng nghĩ đi du học là chỉ để học. Số Bốn đi du học là để kiếm tiền, anh phải lo lấy vợ ở Mỹ, sinh con ở Mỹ để kéo dài thời gian ở trên đất Mỹ mà kiếm tiền, để cha mẹ anh có thể bồng bế nhau từ vùng biển lên xây nhà ở thủ đô. Còn anh chàng Phúc – Franklin là thân phận người Việt định cư ở Mỹ, sang tới nơi sống khổ sở chật vật nhưng thú đến casino đánh bạc hơn là học hành, làm lụng. Đại sứ quán: một cửa ngõ vào đất Mỹ cũng đủ để lột tả một vài kiểu người; Số Một, Số Hai, Số Ba, Số Bốn cùng với Phúc – Franklin là những cuộc đời khác nhau được Hồ Anh Thái tập hợp lại trong truyện ngắn này làm nên sự đa sắc cho mục đích của những chuyến xuất ngoại.

Thế mạnh của cốt truyện phân mảnh nằm ở sự tự do không bó buộc của giới hạn hiện thực mà tác giả muốn hướng tới, có thể thể kết thúc sự kiện này để chuyển sang sự kiện khác mà không cần bận tâm xem nó có liền mạch hay không. Sự liên kết của cốt truyện phân mảnh không nằm ở chi tiết, sự kiện mà nó liên kết ở một mức độ khái quát cao hơn, đó là liên kết tư tưởng chủ đề, các chi tiết, sự kiện tình huống đưa ra là động thái duy trì chủ đề của tác giả, bởi nó thường hướng đến một chủ đề nào đó.



Bốn lối vào nhà cười là tập hợp những điều tức cười ở nhiều dạng người, trên nhiều lĩnh vực của đời sống theo mạch sinh, lão, bệnh, tử. Bến Ôsin nằm trong phần “Sinh” cho thấy cuộc sống của người giúp việc nơi đô thị, qua đó cũng thấy được sự náo loạn của đô thị kể từ khi xuất hiện các cô ôsin, không phải đến từ Nhật Bản mà xuất thân chính gốc đồng đất Việt Nam, được tác giả đặt cho những cái tên đậm chất “hiệp khách hành”. Đầu tiên, Lâm Nhất Nhất là cô gái sống trong ảo tưởng về mình. Cứ ngỡ rằng giúp việc ở thị thành là sang trọng nên quyết không quay về quê, cô rất có ý thức vươn lên địa vị làm chủ như tiểu thư trong bức tranh trên tường nhà, có ý thức vươn lên nhưng thói quen săn chuột bằng dép nơi quê nhà thì không thể bỏ được, lúc xuất hiện đập chết tươi ba con chuột, khi ra đi đập thêm một con nữa, muốn vươn lên thành tiểu thư trong tranh nhưng cô không biết rằng đó là bức tranh vẽ một cô hầu gái. Oái oăm hơn là Khuất Nhị Nhị. Lên thành phố đem theo thói ranh mãnh nanh nọc nơi quê nhà; giúp việc là công việc chính không làm, chỉ lo học đòi ăn diện theo bà chủ và tham vọng cướp cả chồng của bà chủ. Không cướp được, bị đuổi việc lại quay ra nói xấu về họ, khiến cho “ánh mắt hàng phố thương cảm cho một cặp vợ chồng cầm tù lẫn nhau mà không buông được nhau ra”! Lý Tam Tam chỉ mới 17 tuổi nhưng luôn luôn lú lẫn, quên quên nhớ nhớ, nấu cá thì cá cháy, đi chợ mua thịt thì mua sang ốc, vì có máu “mê giai” và kết quả là cái bụng gần bốn tháng với thằng thợ xây! Đàm Tứ Tứ lại có thói tắt mắt, “vài bữa đóng gói một lần ra bưu điện gửi về quê” nào quần nào áo, còn “thìa đĩa bát mang ra chợ bán lẻ”. Bốn cô ôsin là bốn tính cách, bốn kiểu người giúp việc không điển hình cho người giúp việc đang xuất hiện quá nhiều ở đô thị nhưng lại là những cá biệt đáng lưu ý được Hồ Anh Thái đặt cạnh nhau trong một cốt truyện phân mảnh, làm nên sự đa dạng đến phức tạp của đời sống thành thị khi có những cô ôsin và lối sống “tự nhiên nhi nhiên” của họ.

Cũng với cách tổ chức cốt truyện tương tự như vậy, ở Trại cá sấu là khoảnh khác đổi đời của hai cô gái cá sấu khi được tôn vinh trong nền văn nghệ lấy cái xấu làm đối tượng, qua đó thấy cái ảo tưởng của con người cùng với sự xuống cấp (hay dở chứng?) của nghệ thuật hiện đại; hay Cây hoàng lan hoá thành cây si là đời sống của con người khi về già vẫn không chịu nghỉ ngơi mà còn tưng bừng đầy hoạt động…

Qua một số cốt truyện phân mảnh trong truyện ngắn Hồ Anh Thái thấy được sức mạnh của tính ẩn dụ, biểu tượng mà nó có được là rất lớn. Chủ yếu tác giả thông qua những sự kiện riêng lẻ để khái quát nên những vấn đề có tính chất xã hội. Cách viết này tưởng như đơn giản bởi nhà văn không phải băn khoăn tìm mối liên kết để tạo thành một cốt truyện với các bước phát triển hoàn chỉnh, không phải chú tâm xây dựng nhân vật một cách toàn diện có đầy đủ tính cách nội tâm; song kỳ thực, cốt truyện phân mảnh đòi hỏi trình độ cao của người viết trong việc bao quát đời sống để xây dựng nhiều tình huống, nhiều sự kiện, bởi nếu không cốt truyện kiểu này sẽ chẳng còn gì; hơn nữa phải làm sao để giữ được sắc thái khách quan của tình huống sự kiện, vì chúng là những mảng màu của bức tranh xã hội, những mảnh vỡ của đời sống, trên hết nó cần độ chân thực. Hồ Anh Thái luôn có ý thúc làm mới văn mình. Thừa nhận rằng cốt truyện phân mảnh là tìm tòi mới của Hồ Anh Thái và anh đang khá thành công với loại truyện ngắn mảnh vỡ này, đây là nơi thể hiện rõ phong cách và giọng điệu của anh trong thời gian gần đây: tinh tế, hài hước sâu cay.

Trên đây là những khảo sát của chúng tôi về nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong văn xuôi Hồ Anh Thái trên bốn loại cốt truyện tiêu biểu là cốt truyện vay mượn sự tích, cốt truyện sinh hoạt – tâm lý, cốt truyện kỳ ảo và cốt truyện phân mảnh. Thấy rằng quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái về con người đã chi phối mạnh vào việc tổ chức cốt truyện, do vậy cốt truyện của Hồ Anh Thái vừa thể hiện được khả năng vươn tới sự hoàn thiện, vừa thể hiện được bi kịch của những thân phận và cả những thói xấu của con người. Đặc biệt, cốt truyện phân mảnh là một cách tân theo hướng hậu hiện đại của Hồ Anh Thái. Anh đã phá vỡ giới hạn của cốt truyện truyền thống bằng cách tổ chức những mảnh vỡ đời sống vốn dĩ rời rạc nằm cạnh nhau, tạo nên cái nhìn đa chiều về cuộc sống, thể hiện những cảm nhận của anh về nhân sinh trong giai đoạn hiện nay, một cuộc sống thiếu sự cố kết bền chặt và chỉ là tập hợp rời rạc của những cá nhân riêng lẻ, một cuộc sống xô bồ, đầy nhiễu loạn bất an.




1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương