Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang4/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

3.1.2. Xây dựng nhân vật qua tình huống có giá trị nhận thức

Nhân vật của Hồ Anh Thái không tĩnh tại, đứng im, chết cứng mà luôn có sự vận động. Để thể hiện sự vận động biến chuyển trong nhân vật của mình, Hồ Anh Thái xây dựng nó qua tình huống truyện. Phan Cự Đệ trong sách Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại viết: “Để phơi bày được tính cách thật của một con người, điều quan trọng là tìm cho được những tình huống đặc trưng mà trong đó một tính cách nhất định được thể hiện ra một cách đầy đủ và thích hợp nhất” [13;651]. Theo chúng tôi, tình huống không chỉ thể hiện tính cách mà còn thể hiện cả sự vận động biến đổi trong tính cách của con người mà trong truyện là của nhân vật. Với cách hiểu này, chúng tôi nhận thấy nhân vật của Hồ Anh Thái “lộ” mình khá nhiều trong các tình huống. Bởi đó đều là những tình huống có tác động lớn đến nhận thức của nhân vật, là những tình huống mà khi trải qua thì ngay sau đó nhân vật đã sống một đời sống hoàn toàn khác so với trước, là những tình huống có thể làm cơ sở để phân chia cuộc đời nhân vật của Hồ Anh Thái làm hai chặng: trước và sau khi xảy ra tình huống. Đây cũng là một thành công của tác giả trong việc xây dựng nhân vật.

Trên kia chúng tôi có nói đến quan niệm nghệ thuật về con người vươn tới sự hoàn thiện và kiểu nhân vật thức tỉnh trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Khẳng định khả năng hồi tỉnh của con người, Hồ Anh Thái thường “thả” nhân vật của mình vào trong tình huống để cho nhân vật tự ý thức, tự đấu tranh mà nhận ra cái có ý nghĩa cần phải chọn lựa. Có thể bắt gặp cách làm này ngay trong những sáng tác đầu tiên của anh. Những chàng thanh niên trong tác phẩm của anh thời kỳ này mang rất nhiều băn khoăn về tình yêu, sự nghiệp, về các mối quan hệ gia đình và xã hội khi bước chân vào đời; những băn khoăn ấy thực sự được tháo bỏ khi những nhân vật này trải qua “tình huống đặc trưng”. Đó là Khải trước và sau khi bị phát hiện “tiểu xảo” trong vai trò cầu thủ bóng đá (Chàng trai ở bến đợi xe), là Hiếu trước và sau khi vào bộ đội (Nằm ngủ trên ghế băng), là Kim trước và sau khi được các bạn giới thiệu cho gặp gỡ các cô gái (Những cuộc kiếm tìm),… Khải là chàng trai ưa những gì dễ dãi và ngại tìm kiếm hay đúng hơn là thích những gì dễ dãi và ngại khó khăn. Chính cách sống ấy khiến cho Khải chỉ nhận được những thất bại, những dở dang; sau khi bị bại lộ vì đã nhờ người sắm vai mình để chơi bóng thuê cho xí nghiệp nọ, Khải nhận ra “chẳng có gì thành công mà lại dễ dàng cả”, anh nhận ra chưa có cái gì là của riêng mình, mà mình chỉ như cái đèn phản quang, “cái đèn ấy không tự sáng. Nó chỉ sáng lên khi có ánh sáng từ nơi khác chiếu vào”. Khải đúng là chàng trai ở bến đợi xe, chỉ biết chờ đợi mà không biết lựa chọn để rồi bỏ lỡ quá nhiều chuyến xe vào đời. ý thức được như vậy về bản thân, Khải sẵn sàng chọn một lối đi mới cho mình, anh nhớ lại bức ảnh của em trai chụp ở công trường đầy khói bụi và thấy “cảnh ấy có vẻ đẹp riêng của nó”. Cũng với cách làm này, Hồ Anh Thái đã thành công khi để cho Kim nhận ra đâu là tình yêu đích thực, Hiếu nhận ra tác hại của lối sống ưa sức mạnh và ý nghĩa của tình cảm gia đình, cha con.

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Phật và Anguli Mala trong truyện ngắn Kiếp ngưi đi qua cũng là tình huống làm nổi bật được đặc điểm nhân vật, chuyển tải được quan niệm của tác giả đối với. Tướng cướp Anguli Mala với tên chào đời là Ahimsaka vốn là một thanh niên tinh thông kinh sách và võ nghệ, anh minh sáng láng hơn người, điều này đã làm đụng chạm đến lòng ghen tỵ của những kẻ đồng môn, và anh bị chúng ám hại, không bằng sức mạnh, không bằng trí thông minh mà bằng lời đồn đại xấu xa, từ đó anh trở thành nạn nhân của lòng ghen ghét đố kỵ và sự độc ác của người đời; sự thành kiến, kỳ thị của xã hội đối với kẻ bị thầy đuổi học, bị cha từ bỏ đã khiến anh căm thù con người và trượt dài vào con đường tội lỗi giết chóc. Tưởng như không thể hoàn lương nhưng cuộc gặp gỡ với Đức Phật vào đúng ngày anh ta đi săn lùng mạng người thứ 1000 để sưu tập đủ bộ dây chuyền làm bằng 1000 ngón tay út của những nạn nhân xấu số đã làm thay đổi cuộc đời con người này. Đây là tình huống của thiện tâm trước cái ác; lời nói nhẹ nhàng nhưng thấm thía cùng niềm tin vào bản tính thiện mà Phật tổ dành cho Anguli Mala đã khiến anh tin tưởng vào cuộc đời, quy y trước cái thiện: “Làm việc thiện bỏ điều ác thì không bao giờ là quá muộn. Biển khổ thật mông mênh, song hễ quay đầu lại là tự khắc sẽ thấy được bờ bến (…). Kể từ giờ phút này con đã được phục sinh trong đạo pháp của lòng yêu mến con người”. Kiếp người đi qua là một trong số vô vàn sự tích của đạo Phật kể về tấm lòng từ bi tuyệt vời của Đức Phật được Hồ Anh Thái chọn kể lại với niềm tin vào khả năng sám hối của cái ác trước cái thiện. Anguli Mala là một nhân vật hướng thiện, quá trình hướng thiện của anh được thể hiện rõ qua tình huống trên, từ Ahimsaka thông minh tài giỏi trở thành Anguli Mala tàn ác rồi trở thành Ahimsaka quy y Phật pháp là những lần khoác vào và cởi bỏ chiếc áo tội lỗi rồi lại khoác một chiếc áo khác, bền vững hơn, chiếc áo thiện tâm của kẻ tu hành mãn ý.

Nếu như cuộc gặp giữa Aguli Mala và Đức Phật là tình huống sám hối của cái ác trước sức mạnh của cái thiện thì tình huống sám hối của nhân vật Đông trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế là một tình huống nhận thức tự thân. Thêm một mức độ cao hơn về niềm tin của Hồ Anh Thái đối với khả năng hướng thiện của con người. Ba gã trai Cốc, Bóp, Phũ tự tạo ra cái ác và tự đón nhận cái chết cho mình, Đông là người ruột thịt với ba gã kia, trực tiếp chứng kiến những cái chết đó, cứ theo mạch truyện của ba chương đầu và mạch logic của tâm lý đơn thuần, Đông sẽ đi trả thù, sẽ gây tội ác và sẽ chết. Một tình huống bất khả kháng đối với kẻ thứ tư còn sống sót là Đông? Nhưng Đông đã không làm như vậy. Logic đơn thuần đã bị phá vỡ. ý nghĩa của tiểu thuyết tập trung tất cả ở logic tâm lý bất thường này của Đông. Đông không trả thù vội mà bình tâm xem xét điều bí ẩn của ba cái chết, quá trình đó đã cho Đông sự thấu hiểu nguyên nhân của cái ác mà con người gây ra cho nhau chính là lòng hận thù và lòng hận thù trong Đông cũng bị triệt tiêu khi anh rõ vấn đề; cái tâm thiện đã loại bỏ được cái tâm ác, Đông thoát khỏi vòng hận thù luẩn quẩn mà ba đứa cháu đã mắc phải. Cách tạo tình huống và “thả” nhân vật vào sống trong tình huống kiểu này đã thể hiện rất sinh động và chân thực khả năng thức tỉnh hướng thiện của nhân vật, đồng thời qua đây Hồ Anh Thái cũng nhấn mạnh được chủ đề của tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế và cũng là quan niệm của anh trong cuộc đời: Hận thù phải được hoá giải trong một nhãn quan yêu thương và bao dung.

Như vậy, theo cách nói của lý luận văn học truyền thống thì xây dựng tình huống chính là tạo hoàn cảnh để thử thách tính cách nhân vật, bởi vì “tính cách văn học thường biểu hiện ở phương thức hành vi ổn định, lặp đi lặp lại trong các tình huống khác nhau của nhân vật” [17;287]. Với Hồ Anh Thái, tính cách nhân vật không phải là nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động biến đổi, do vậy anh thường chú ý xây dựng những tình huống có ý nghĩa nhận thức rất đặc trưng, để từ đó khảo sát sự vận động trong ý thức của nhân vật. Qua những tình huống kiểu này, qua những tình huống tác giả đã để cho nhân vật của mình trải nghiệm, người đọc hoàn toàn thấy được chiều sâu suy tư của văn xuôi Hồ Anh Thái, chủ yếu là những suy tư trăn trở về xã hội và nhân tình.

Trên đây chúng tôi mới chỉ đề cập đến tình huống thực, tức là những tình huống có thể xảy ra trong đời thực. Thực tế trong sáng tác của Hồ Anh Thái còn khá nhiều tình huống ảo, được tác giả xem như một giả định trước cuộc đời, vừa để xây dựng nhân vật, vừa để khảo sát đời sống một cách thoải mái, linh hoạt và hiệu quả hơn. Trong văn xuôi Hồ Anh Thái xuất hiện khá nhiều tình huống ảo như thế. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau, khi khảo sát về cốt truyện kỳ ảo ở tác phẩm của Hồ Anh Thái.

3.1.3. Sự đc đáo của tên nhân vật

Nếu trong cuộc đời, tên người chỉ có ý nghĩa đánh dấu một kỷ niệm, thể hiện một niềm tin của người đặt tên và người được mang tên, thì trong văn học lại khác, tên nhân vật là cả một vấn đề. Tên nhân vật là một trong những yếu tố làm nên nhân vật; xây dựng nhân vật, nhà văn không thể không dành cho nó một cái tên. Trong đời sống, tên người không gắn liền hoặc ít gắn liền với đặc điểm tính cách của người mang tên; còn tên của nhân vật, về đại thể, lại thể hiện cả những đặc điểm, tính cách của nhân vật, bởi khi đặt tên cho nhân vật, nhà văn đã cài vào đó quan niệm của mình về con người, nhất là đối với những nhân vật “có vấn đề”. Do vậy, có thể nói, tên nhân vật là một ước lệ, một hoán dụ về chính nhân vật ấy.

Có thể tìm ra nhiều điều độc đáo, thú vị qua tên nhân vật của Hồ Anh Thái. Nếu không kể những cái tên đẹp, những cái tên bình thường hay những cái tên Ấn Độ, trong văn xuôi Hồ Anh Thái xuất hiện rất nhiều những cái tên xấu xí, thậm chí cả những cái tên không thể gọi là tên, bởi chúng chỉ như là ký hiệu của tác giả dành cho đối tượng đó. Chúng tôi hướng sự chú ý tới dạng tên nhân vật như vậy.

Hồ Anh Thái bắt đầu “trò chơi” về tên nhân vật như thế này khá sớm (có dấu hiệu từ con hoang viết năm 1990, với cái tên Mèo Đực dành cho một nhân vật nam giới hay đi tán tỉnh phụ nữ), nhưng rộ lên nhất kể từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế qua tập truyện Tự sự 265 ngày, phát triển ở tập Bốn lối vào nhà cười và còn tiếp tục trong một số truyện ngắn mới đây. Sau đây là thống kê của chúng tôi:

Trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế: thằng Cốc, thằng Bóp, thằng Phũ.

Trong tập Tự sự 265 ngày với các truyện ngắn:

- Phòng khách: võ sư, ông sử, bà sử,…

- Tờ khai visa: ông Số Một, bà Số Hai, cô Số Ba, anh Số Bốn,…

- Sân bay: bà phó, ông viện trưởng, gã chuyên viên, cô viện sĩ,…

- Vẫn tin vào chuyện thần tiên: Nguyễn Toàn Thích, Nguyễn Thị Dăm Bông, Nguyễn Thị Xúc Xích, Nguyễn Thị Sâm Banh

- Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ: Chín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu, Bóng Rổ, ông Việt kiều

- Bãi tắm: nghiên cứu viên Một, nghiên cứu viên Hai, cô Thỏ Lon, bà Bạch Cốt Tinh, củ tam thất,…

- Mây mưa mau tạnh: Bạo, Bi Bi

- Chim anh chim em: Số Một, Số Hai, Số Ba, Số Bốn

- Tự truyện: Cô Hăm Bốn, Cô Hăm Sáu, Cô Hăm Chín,…

- Chạy quanh công viên mất một tháng: thằng Phập, thằng Rú, quý tộc Pháp.

Trong tập Bốn lối vào nhà cười với các truyện ngắn:

- Anh xe ôm một chặng đường núi: anh xe ôm, cô phóng viên,

- Trại cá sấu: Cá Sấu 1, Cá Sấu 2, Hoạ Sĩ, Đạo Diễn, Đồng Cô,

- Bến Ôsin: Lâm Nhất Nhất, Khuất Nhị Nhị, Lý Tam Tam, Đàm Tứ Tứ

- Tin thật lòng: Trạng Thị, tống giám đốc ta, phó tổng giám đốc tây, gã nhà văn, chàng thi sĩ,

- Chơi: chị nhà văn, chàng thư ký,

- Cây hoàng lan hoá thành cây si: chàng, nàng, ông Dê To, ông A, ông Bê, ông Xê,

- Bên đường tàu có ngôi nhà cổ: Quẹt, Mánh,

- Cả một dây theo nhau đi: ông Nhạc Nhẹ, bà nữ công, ông công đoàn, cậu đoàn thanh niên,

Trong một số truyện ngắn mới đây:

- Diễn: kỹ thuật viên, phó giáo sư, cô kim kim, Nghệ sĩ, Diễn viên,

- Lọt sàng xuống nia: nữ thi sĩ, ông chánh, ông nhà thơ, ông sáng tác, nữ dịch giả, cô tạp vụ,

- Sắp đặt: người đàn ông, người đàn bà, cô dọn phòng,

- Nham!: galacdan, thucphamoan,

Kiểu đặt những cái tên rất xấu cho nhân vật hay gọi nhân vật như những ký hiệu bằng các đặc điểm nổi bật, trước Hồ Anh Thái đã có người làm. Chắc hẳn chúng ta chưa quên những Typn của Vũ Trọng Phụng; Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận,… của Nam Cao; hay AQ, cu D của Lỗ Tấn; Josep K, K của Kafka;… Vậy chúng ta thấy gì qua những cái tên “có vấn đề” như vậy? Theo chúng tôi, nên xem xét chúng từ hai khía cạnh: thể hiện nhân vật và thể hiện quan niệm về con người của nhà văn.

Có những cái tên thể hiện rất rõ bản chất, đặc điểm của nhân vật, như: Cốc, Bóp, Phũ, Bạo, Rú, Phập hay Dăm Bông, Xúc Xích, Sâm Banh,… Chỉ với những cái tên ấy, mọi cái xấu xa tức cười của nhân vật đã hiện ra trong hình dung của người đọc. Cách làm này có vẻ trừu tượng nhưng đạt hiệu quả không hề thua kém việc khắc hoạ qua ngoại hình hay qua ngôn ngữ của nó. Hãy nghe nhà văn giải thích về cái tên Cốc: “Nó tên là Công. Lũ bạn gọi nó là Cốc. Cốc đọc chệch đi thì được một cái tên Mỹ – Cock. Cock là con gà trống, vừa có nghĩa là cái vật ngọ nguậy giữa đôi chân một gã trai. Cả hai đều đúng với thằng Cốc” (Cõi người rung chuông tận thế); tương tự, thằng Bóp tên là Bắc nhưng nó tìm khoái cảm lúc bóp cổ một con vật, một con người nên được gọi thành Bóp; thằng Phũ tên là Phúc nhưng khá phũ phàng với phụ nữ nên không còn được gọi bằng cái tên đầy ước muốn mà cha mẹ đã đặt cho nó khi sinh ra;… Còn những cái tên mang màu sắc thực phẩm như Sâm Banh, Xúc Xích, Dăm Bông là xuất phát từ ao ước tầm thường của những kẻ sính ngoại đến mê muội: “vào cái thời tem phiếu bao cấp, phải ăn bánh mỳ nắp hầm nên lấy đồ ăn của Tây đặt tên con cho đỡ thèm” – một nhân vật trong Vẫn tin vào chuyện thần tiên đã tự giải thích như vậy. Khả năng tự biểu hiện của những cái tên này rất cao. Trước những cái tên đó, chưa cần đi sâu vào chi tiết hay hành động của nhân vật, người đọc đã có thể nhận ra được đặc điểm nổi bật thuộc về tính cách, lối sống của chúng.

Như không hề giấu diếm nụ cười hài hước trước nhiều thói xấu của con người, Hồ Anh Thái không ngần ngại khi gọi tên nhân vật bằng những ký hiệu lấy ra từ những đặc điểm thuộc về nghề nghiệp, tuổi tác hay chức vụ chức danh, thậm chí cả bằng ngoại hình, kiểu như: ông sử, võ sư, kỹ thuật viên, Hoạ Sĩ, Đạo Diễn…; Cô Hăm Sáu, Cô Hăm Chín…; ông viện trưởng, phó giáo sư, bà viện phó…; Cá Sấu 1, Cá Sấu 2… Có người gọi đấy là những nhân vật vô danh [50;251], chúng tôi không tán thành lối định danh này. Gọi nhân vật bằng những ký hiệu cũng có nghĩa đó đã là tên của nó trong tác phẩm của nhà văn, như vậy nó hữu danh rồi còn gì! Có chăng cái danh ấy dễ tan hoà, không có bản sắc, nhưng lại có tính chất đại diện cho một loại người nào đấy trong xã hội. Đây chính là dụng ý của tác giả khi xây dựng nhân vật.

Những nhân vật mang tên theo dạng ký hiệu ấy của Hồ Anh Thái có sức khái rất lớn. Đó là những nhân vật không ra nhân vật, những con người không ra con người, nó thể hiện cho tất cả những gì rối ren, nhố nhăng phức tạp của đời sống hiện đại. Qua tên nhân vật kiểu này, người đọc cảm nhận được bóng dáng của “người Việt xấu xí” trải dài trên nhiều loại từ bình dân đến trí thức; trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, báo chí, và chủ yếu là văn hoá nghệ thuật với cả điện ảnh, ca nhạc, hội hoạ, thời trang…; trên nhiều lứa tuổi, có trẻ có già…

Xin được dẫn lời của M. Proust để kết thúc cho những lạm bàn về tên nhân vật trong tác phẩm của Hồ Anh Thái: “Nếu Thượng đế tạo ra các sự vật bằng cách đặt tên cho chúng thì người nghệ sĩ tái tạo các sự vật bằng cách tước bỏ tên gọi của chúng hoặc trao cho sự vật cái tên khác” [11;60]. Chừng như Hồ Anh Thái đã “quán triệt” quan điểm của M. Proust trong cách đặt tên nhân vật, bởi xem ra chúng đã bị “trao cho những cái tên khác”. Lấy cái hư vô để nói về cái hữu hình, lối định danh nhân vật kiểu “giương đông kích tây” này của Hồ Anh Thái có tác động lớn bởi nó thực sự đã “chạm” đến nhiều con người trong xã hội, đến nhiều đọc giả. Song chớ nên giận dữ! Phải hiểu rằng đấy là cách làm của một nhà văn có trách nhiệm với cuộc đời. Hồ Anh Thái muốn nêu ra những tấm gương để cho người đọc soi mình vào đấy và trắc nghiệm xem đấy là ta hay không phải là ta mà sửa chữa, né tránh.

Trên đây, chúng tôi khảo sát ba dấu hiệu đáng chú ý thuộc về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Bằng chi tiết có khả năng bộc lộ bản chất, qua tình huống có giá trị nhận thức đối với nhân vật và đặt cho nó những cái tên “độc”, Hồ Anh Thái đã tái hiện tương đối đầy đủ phẩm chất cho nhân vật của mình, đồng thời biểu hiện được rất rõ những cảm nhận, suy nghĩ của anh về con người.



3.2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

Nói đến kết cấu là nói đến việc xây dựng tác phẩm thành một bức tranh sinh động, thành một thế giới nghệ thuật hoàn chỉnh có sức khái quát cao về những cảm nhận đánh giá của nhà văn trước các vấn đề của con người và đời sống. Tổ chức cốt truyện là một trong những tiêu điểm của nghệ thuật kết cấu, do vậy, nó cũng không đi chệch mục đích của kết cấu, tổ chức cốt truyện cũng là thao tác quan trọng giúp cho nhà văn thể hiện được quan niệm về con người của mình.

Khái niệm cốt truyện đạt được sự thống nhất cao trong cách hiểu. Sách 150 thuật ngữ văn học ghi: cốt truyện là “sự phát triển hành động; tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm” [4;113]; sách Từ điển thuật ngữ văn học thì diễn đạt rõ ràng hơn: cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức vận động của tác phẩm văn học” [17;88]. Trên cơ sở đó thấy rằng, cốt truyện chính là cái lõi của truyện, không có cốt truyện sẽ không thành truyện và cái lõi của cốt truyện chính là sự kiện.

Xin lưu ý: khái niệm cốt truyện mà chúng tôi đang bàn đến đây là cốt truyện nghệ thuật, trong sự phân biệt với cốt truyện tự nhiên; cốt truyện nghệ thuật là hệ thống sự kiện, biến cố đã được lựa chọn sắp xếp theo ý đồ của người sáng tạo, khác với cốt truyện tự nhiên là một chuỗi các sự kiện biến cố liên tục, nối tiếp nhau theo trình tự thời gian tuyến tính; vì vậy điểm mở đầu và kết thúc của cốt truyện nghệ thuật nhiều khi không trùng khít với điểm mở đầu và kết thúc của cốt truyện tự nhiên.

Cốt truyện được cấu thành bởi các sự kiện trong tác phẩm, “sự kiện là những đổi thay, hành động, việc làm của nhân vật” [43;141]. Toàn bộ việc tổ chức hệ thống các sự kiện lại với nhau đều nhằm vào việc thực hiện hai chức năng chính của cốt truyện, đó là: bộc lộ tính cách và tái hiện các xung đột xã hội [17;88]. Theo quan niệm truyền thống, việc tổ chức sự kiện trọn vẹn trong tác phẩm sẽ làm nên một cốt truyện có đủ bốn thành phần thắt nút, phát triển, cao trào và mở nút; ngoài ra cốt truyện còn có thể có thêm phần trình bày và vĩ thanh để giới thiệu, bổ sung làm rõ cho cái cốt chính. Sự kiện là cơ sở của cốt truyện, tuy nhiên không phải sự kiện nào cũng làm thành cốt truyện; sự kiện với tư cách là cơ sở của cốt truyện phải là những sự kiện “có giá trị thông tin trong một phạm vi quan niệm nhất định” [43;141] của nhà văn. Do sự kiện chỉ có ý nghĩa khi nó xảy ra trong phạm vi một quan niệm cho nên nó là biểu hiện của một giá trị tinh thần nào đó, vì vậy chính tính quan niệm của sự kiện sẽ đưa lại tính quan niệm cho cốt truyện, ẩn dưới cốt truyện bao giờ cũng là quan niệm của nhà văn. Từ đó, cái quan trọng của việc tìm hiểu cốt truyện không nằm ở việc tìm và chỉ ra đâu là thắt nút, phát triển hay đâu là cao trào, mở nút mà nằm ở chỗ lý giải nó tại sao lại được tác giả cấu trúc như vậy; hơn nữa là tìm ra quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống nằm trong sự vận động của các sự kiện diễn tiến trong truyện. ý nghĩa của cốt truyện nằm nhiều ở đây.

Về việc phân loại cốt truyện. Trước đến nay người ta vẫn chia làm hai dạng chính là cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến. Trong đó, cốt truyện đơn tuyến là loại cốt truyện mà “hệ thống sự kiện được tác giả kể lại gọn gàng và thường là đơn giản về số lượng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một vài nhân vật chính, có khi chỉ là một giai đoạn của cuộc đời nhân vật chính” [17;88–89]; còn cốt truyện đa tuyến là loại cốt truyện “trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp, nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống ở một thời kỳ lịch sử, tái hiện con đường diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật” [17;89]. Đây là cách phân chia này có ưu điểm là tạo nên cái nhìn rõ ràng về các mạch phát triển của cốt truyện, song không phải khi nào cũng có thể rập khuôn cách phân chia này.

Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người để tìm hiểu văn xuôi Hồ Anh Thái, chúng tôi căn cứ vào những nét trội của cốt truyện Hồ Anh Thái để phân chia thành bốn dạng sau: cốt truyện vay mượn sự tích, cốt truyện sinh hoạt – tâm lý, cốt truyện kỳ ảo và cốt truyện phân mảnh. Tuy nhiên giới hạn của chúng nhiều khi chỉ là tương đối.

3.2.1. Cốt truyện vay mượn sự tích

Cốt truyện vay mượn không phải là điều mới trong văn học. Trước Hồ Anh Thái đã có người làm. Thiết nghĩ đây là điều không phải bàn thêm. Đáng nói là ở chỗ vay mượn và kể lại cốt truyện ấy, người kể đã thay đổi thêm bớt, xáo trộn trật tự vốn có của nó theo ý định nghệ thuật của mình như thế nào, hay bổ sung thêm cho nó những tầng nghĩa gì cho cốt truyện cũ, có để lại được dấu ấn cá nhân của mình trong đó hay không.

Cốt truyện vay mượn xuất hiện trong văn xuôi Hồ Anh Thái không nhiều nhưng nó buộc người đọc phải chú ý, bởi nó đều là những truyện tích nhà Phật. Nói đến Phật giáo là nói đến tình thương, từ bi hỷ xả, nói đến việc bỏ ác hướng thiện của con người. Vay mượn sự tích của đạo Phật, Hồ Anh Thái cũng dành để nói về những điều đó; hơn nữa truyện tích nhà Phật không phải là cái gì quá xa lạ với người Việt. Đây vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn cho Hồ Anh Thái; thuận lợi ở sự đồng cảm còn khó khăn ở việc tạo ra nét mới. Song Hồ Anh Thái đã làm được, anh đã tạo ra được những “cổ tích mới” trên cái nền xưa cũ, tiêu biểu là: Chuyện cuộc đi Đức Phật, Đến muộn Kiếp ngưi đi qua. Cả ba đều là truyện ngắn.

Vay mượn các sự tích này, Hồ Anh Thái vẫn tôn trọng trật tự vốn có của nó nhưng tổ chức lại theo cách riêng của mình, cũng như thêm vào đó rất nhiều đối thoại nhằm bộc lộ tâm lý nhân vật - điều mà ở sự tích không thực sự rõ nét. Chuyện cuộc đời Đức Phật, đúng như tên gọi của nó, là truyện kể về toàn bộ cuộc đời của Phật tổ, từ khi Ngài sinh ra, tìm đường cứu khổ, cứu độ chúng sinh cho tới khi viên tịch. Tôn trọng trật tự đó nhưng cuộc đời của Đức Phật được Hồ Anh Thái bố trí thành hai tuyến chính, một là hành trình tìm đường chấm dứt mọi khổ đau cho chúng sinh và một là nhân cách tuyệt vời của Ngài (như một sự hiện thực hoá giáo lý của đạo Phật). Trên hai mạch chính ấy, Hồ Anh Thái tập hợp vào đó khá nhiều các sự tích vốn rời rạc trong kinh sách nhà Phật hay ở dân gian, giai thoại, tạo thành một cốt truyện hoàn chỉnh, sinh động về 80 năm tại thế của Phật. Vì vậy, cho dù đã ít nhiều được biết nhưng người đọc vẫn bị theo từng bước chân của Phật Thích Ca được Hồ Anh Thái tái hiện trong Chuyện cuộc đi Đức Phật.

Đức Phật là nhân vật trung tâm phát sáng cho toàn bộ truyện ngắn này, phát sáng bằng hàng loạt sự kiện thu phục nhân tâm. Sự kiện đầu tiên phải kể đến là việc hoàng tử Siddhartha xuất gia và đắc đạo trở thành Buddha; hoàng tử của một vương quốc giàu mạnh sẵn sàng từ bỏ tất cả chỉ vì một câu hỏi giản đơn nhưng không phải ai cũng quan tâm và không phải ai quan tâm cũng có thể trả lời được, trước Siddhartha cả ngàn ẩn sĩ đã không thể giải đáp nổi: Làm sao để chấm dứt mọi khổ đau cho chúng sinh? Hiểu ra căn nguyên của khổ đau và tìm ra con đường diệt khổ, trở thành bậc đại giác ngộ cũng là một sự kiện lớn nhưng xem ra không ấn tượng bằng những sự kiện mà Buddha đã gặp trên con đường hành đạo của mình: Một người mẹ ôm xác con đến nhờ Người làm cho sống lại, thu phục tướng cướp Anguli Mala, cư xử bằng tình thương trước tội lỗi của em họ Devadatta gây ra cho mình,… Người chết không thể sống lại, sinh tử là quy luật vô thường của đời người; tình thương dành cho kẻ biết sám hối; tình thương diệt trừ mọi oán hận,… là những ý nghĩa ẩn đằng sau cách giải quyết trước các tình huống gặp phải trên kia của Đức Phật.

Chuyện cuộc đi Đức Phật là cách tổ chức liên hoàn, móc nối nhiều cốt truyện vay mượn từ sự tích Phật giáo theo cùng một chủ đề. Cách tổ chức này không chỉ là một câu chuyện biên niên về cuộc đời Đức Phật mà còn là sự diễn giải mộc mạc, sinh động các giáo lý cơ bản của nhà Phật (thông qua hành trình tìm kiếm và đắc đạo của Phật tổ) và là sự cụ thể hoá các giáo lý ấy qua những tình huống cụ thể trong đời sống (thông qua các ứng xử của Phật tổ trên đường hành đạo). Qua đây, Hồ Anh Thái không chỉ dựng nên một nhân cách hoàn thiện trọn vẹn của Đức Phật mà hơn nữa còn muốn phát biểu quan niệm nhân sinh của mình; và cũng rất dễ thấy, quan niệm nhân sinh của tác giả ảnh hưởng trực tiếp từ nhân sinh quan Phật giáo với hiện thân cụ thể là Đức Phật: “Khi một người làm điều xấu thì tương lai người đó sẽ đau khổ, còn một khi hành động với tình yêu thương thực sự thì người đó sẽ gặt hái được niềm vui và hạnh phúc”, “khi không còn hận thù, trái tim con người chỉ còn tràn đầy lòng yêu thương. Và “chính lòng từ bi này sẽ đem đến bình yên và hạnh phúc”, “chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán. Lấy oán trả oán thì oán còn”,… là những giá trị nhân bản rút ra từ truyện ngắn này.

Nếu như Chuyện cuộc đi Đức Phật là “giới thuyết chung” về đạo Phật và Đức Phật thì ở Đến muộnKiếp ngưi đi qua, Hồ Anh Thái cụ thể hoá “giới thuyết” đó vào từng nhân vật, từng số phận cụ thể, từng tình huống cụ thể, cho dù căn bản vẫn dựa trên cốt truyện của sự tích. Đến muộn là quy luật nghiệp báo luân hồi và sự sám hối, Kiếp ngưi đi qua là sự hướng thiện, quy y của cái ác trước tình yêu thương.

Truyện về hoàng tử Ajatasatru (A-xà-thế) trong Đến muộn được kể khá rõ trong truyện tích nhà Phật, Hồ Anh Thái hầu như không phải sáng tạo thêm sự kiện, tình huống mà chỉ thay đổi trật tự tuyến tính và đi vào miêu tả tâm lý thông qua ngôn ngữ của mẫu hậu và của Ajatasatru, qua đó cho thấy được những chuyển biến rất rõ trong ý thức của Ajatasatru về hành động sai trái của mình. Truyện bắt đầu bằng cao trào: Ajatasatru quyết định giết chết vua cha sau nhiều ngày cầm tù bỏ đói mà vẫn không chết, sau đó trở lại phần thắt nút: mẫu hậu kể về tình thương của vua cha đối với Ajatasatru khi nhỏ cho y nghe, rồi mở nút: Ajatasatru sám hối trong muộn màng, khi vua đã chết và phần vĩ thanh nhấn mạnh nghiệp báo mà Ajatasatru phải gánh chịu: tám năm sau y bị chính con trai của mình cướp ngôi và tống giam cho tới chết. Đây là truyện ngắn có ý nghĩa cảnh báo rất lớn về cái ác của con người, gieo nhân ác sẽ gặt được quả ác. Ajatasatru cướp ngôi, giết cha về sau cũng bị chính con trai mình đối xử như vậy.

Đối lập với Đến muộnKiếp ngưi đi qua. Đây là truyện ngắn dựa trên sự tích khá ngắn gọn của Phật giáo, kể về việc tướng cướp Anguli Mala giác ngộ khi gặp gỡ Đức Phật. Hồ Anh Thái đã thực sự sáng tạo trên cốt truyện sự tích đơn giản nhưng ý nghĩa này. Để khắc hoạ sự thức tỉnh của Anguli Mala, tác giả đã tạo ra những biến cố trong cuộc đời của nhân vật này trước khi gặp Đức Phật, những biến cố đã biến Ahimsaka thông minh tài giỏi thành Anguli Mala tàn bạo: vì giỏi giang hơn người, Ahimsaka bị nhiều kẻ ghen ghét đố kỵ, bị thầy đuổi ra khỏi thiền viện là hậu quả anh phải gánh chịu từ sự ghen ghét đó và cơn nóng giận mù quáng của người thầy; giáo lý Bà La Môn không cho phép người bị thầy đuổi học, bị cha từ bỏ trở lại cuộc sống đời thường; quay ra thù ghét con người, Ahimsaka trở thành Anguli Mala và đã đi quá xa trên con đường đẫm máu. Nhưng khi được Đức Phật thuyết giảng về sự sống và cái chết, về cái thiện và cái ác, Anguli Mala đã tìm lại được niềm tin của mình trong cuộc đời và sẵn sàng tái sinh trong đạo pháp của tình thương. Phật có nói rằng: “Trên thế gian có hai loại người có thể có hạnh phúc chân chính: một là người tu thiện pháp không tạo tội, hai là người tạo tội biết sám hối” [7;125], nếu cứ theo đó mà suy ra, Anguli Mala đã trở thành người hạnh phúc ngay khi thức tỉnh lương tri, bởi anh “tạo tội biết sám hối”.

Kiếp ngưi đi qua tuân thủ trật tự tuyến tính thời gian, các sự kiện diễn biến liền mạch và có sự liên kết với nhau, đây là cốt truyện lý tưởng theo quan niệm truyền thống, nhưng đáng chú ý là việc sáng tạo ra biến cố để thể hiện quan niệm về con người của tác giả: lòng ghen tỵ và sự thành kiến có thể đẩy con người vào cùng đường là rơi vào tội ác; song tội lỗi và cái ác có thể hoàn lương nếu có được tình yêu thương và sự tha thứ, “làm việc thiện, bỏ điều ác không bao giờ là quá muộn”.

Nói chung, vay mượn sự tích Phật giáo, tổ chức lại theo sáng tạo chủ quan của mình, Hồ Anh Thái đã xây dựng nên những cốt truyện mới thể hiện niềm tin vào khả năng thức tỉnh hướng thiện của mỗi con người, từ đó khẳng định tình thương yêu mà con người dành cho nhau là rất cần thiết, đó là giá trị vĩnh hằng. Cảm hứng này còn theo Hồ Anh Thái ở nhiều dạng cốt truyện nữa chứ không chỉ riêng ở cốt truyện vay mượn sự tích như thế này.



1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương