Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

2.3. Con người nhiều tật xấu với kiểu nhân vật tha hoá và kiểu nhân vật bi hài

Bản thân con người có thể hướng thiện, gạt bỏ cái xấu giữ lấy điều tốt, nhưng phải thừa nhận rằng, chúng ta không thể loại bỏ bằng hết cái xấu khỏi đời sống này. Vì vậy, chúng ta cần có khả năng nhận thức về điều tốt đẹp và cả về cái xấu. Nhận thức về cái xấu được coi là dấu hiệu khởi đầu cho quá trình thanh lọc tâm hồn. Bằng niềm tin, Hồ Anh Thái nhìn thấy khát vọng và khả năng hướng thiện của con người, song niềm tin đó lại xuất phát từ một lý trí rất khắt khe của tác giả, cho nên Hồ Anh Thái cũng nhận ra đầy rẫy cái xấu trong con người. Văn xuôi Hồ Anh Thái viết nhiều về cái xấu, nhà văn này dường như có biệt tài nhìn ra hạn chế của con người và viết rất hấp dẫn về nó. Viết về cái xấu, cao hơn cả sự mổ xẻ hiện thực, Hồ Anh Thái muốn nói rằng: con người đầy thói xấu như vậy đấy, lo mà tránh xa, lo mà loại bỏ, đừng để nó vận vào mình!

Trong văn xuôi, Hồ Anh Thái luôn có ý thức tái hiện xã hội và con người trong những bước chuyển mình, từ xã hội thời chiến đến xã hội thời bình, từ xã hội thời bao cấp đến xã hội thời kinh tế thị trường, xã hội thời kinh tế thị trường với lối sống hiện đại nhiều pha tạp trong những năm gần đây. Ứng với mỗi bước chuyển đó, tác giả luôn nhận thấy những thói hư tật xấu, những căn bệnh của xã hội “đóng dấu” trong con người. Có điều đặc biệt, cái xấu của con người được nhìn từ hai góc độ, một của cái nhìn hiện thực và một của cái nhìn hài hước; dưới cái nhìn hiện thực là thói xấu đáng sợ với kiểu nhân vật tha hoá còn dưới cái nhìn hài hước là thói xấu đáng cười, đáng chê với kiểu nhân vật bi hài.

Rất nhanh, từ khi mới bắt đầu sáng tác, Hồ Anh Thái đã thấy những thói xấu đáng sợ của những con người, những thói xấu làm tổn hại đến xã hội, đến cộng đồng. Đó là sự ghen ghét đố kỵ, thói ích kỷ cá nhân, lối sống buông thả dâm ô,… và nhất là cái ác mà người ta đối xử với nhau. Người và xe chạy dưi ánh trăng là cuốn tiểu thuyết được Hồ Anh Thái viết khi 26 tuổi, bộc lộ niềm tin của tác giả trẻ vào thế hệ thanh niên trong cuộc sống mới mà nhân vật Toàn là đại diện, một chàng trai khát khao vươn lên với nhiều mơ ước mặc dù anh gặp nhiều khó khăn trong đời sống, trong công việc nhưng anh vẫn luôn giữ được tâm hồn trong sáng; song bên cạnh sự trong trẻo thánh thiện của Toàn, của Mỵ, bên cạnh sự hoàn lương của Khắc là tham vọng thái quá đến mức tàn nhẫn của Khuynh, là sự ích kỷ đến mức độc ác của Diệu, là thói ngổ ngáo vô giáo dục của Sa. Vợ chồng Khuynh – Diệu với đứa con là thằng Sa là những nhân vật tha hoá được Hồ Anh Thái bố trí trong một tuyến truyện chạy song song nhưng ngược chiều với tuyến chính (là sự vật vã vươn lên trong cuộc sống hàng ngày của Toàn, của Khắc), nhằm nhấn mạnh cho chủ đề của tiểu thuyết này. Khuynh là kẻ có năng lực nhưng không thật sự trong sáng, y chỉ sống cho bản thân mình. Khi có cơ hội tiến thân, Khuynh sẵn sàng từ bỏ tất cả, từ bỏ những người vì y mà đớn đau như vợ và đứa con gái y có khi tham gia quân đội; và cũng quá tham vọng, Khuynh sẵn sàng loại bỏ Toàn, là người có năng lực nghề nghiệp, để dành suất du học cho kẻ thân cận hơn. Diệu không có cái duyên dáng ở vẻ bề ngoài nhưng lại có cái tinh quái đến không ngờ của kẻ lắm mưu mô để chiếm đoạt những gì mình muốn, mưu mô đến mức ác độc. Khuynh, Diệu và thằng Sa là những nhân vật tha hoá, những con người đã đánh đổi mình cho thói ích kỷ tham vọng.

Rải rác trong nhiều truyện ngắn, Hồ Anh Thái nhìn ra lắm thói xấu của đời người. Cứu tinh phê phán sự tàn nhẫn của con người, chỉ vì một giấc mơ, người ta sẵn sàng ra tay hạ sát một ông lão ăn mày ốm yếu bệnh tật; Ai là quỷ dữ lại chỉ ra nhận thức sai lầm của con người trong mối quan hệ giữa lương tâm và tiền bạc, người ta cứ mù quáng tưởng rằng tiền sẽ “mua” lại được lương tâm, tiền sẽ chuộc lại được những lỗi lầm mà mình đã gây ra cho người khác; con hoang là cái nhìn hơi quá khắt khe nhưng cộng hưởng cùng Món tái dê thành lời cảnh báo về thói dâm ô sa đoạ như đã ăn vào máu của con người. Thật dễ lý giải tại sao một gã đàn ông đi nhận chín đứa con hoang về làm con nuôi thì cả chín đứa ấy đều được xác định là con đẻ của lão ta, mặc dù lão nhận chúng về từ nhiều nơi khác nhau và rất ngẫu nhiên, không hề chọn lựa (Lũ con hoang); và cũng đừng nên ngạc nhiên trước thái độ bình thản của vợ Hốt, của Diên và vợ Diên khi Diên biến thành dê vì xem phim tình dục (Món tái dê); bởi theo lời của vợ Diên thì bà đã thấy lão là một con dê dạn dĩ ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ, theo lời vợ của Hốt thì dê đầy trong xã hội này – dê đi xe đạp đi hon đa và ngồi cả ôtô nữa; còn Diên thì thản nhiên như sự đã rồi, chỉ mong sao nó đừng ảnh hưởng đến công việc!

Thói xấu đáng sợ khi được đẩy lên cực điểm sẽ trở thành cái ác. Điều này thể hiện rõ trong cuốn tiểu thuyết làm xôn xao dư luận của Hồ Anh Thái: Cõi người rung chuông tận thế. Cho tới nay, Cõi người rung chuông tận thế vẫn là tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái, một tiểu thuyết để lại đầy dư ba trong người đọc. Lấy phục thiện làm cảm hứng xuyên suốt, Hồ Anh Thái đã thông qua tiểu thuyết này để nói lên khát vọng về lòng người, về tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội hiện đại đầy phức tạp bằng cách tạo ra sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, để cho cái xấu lấn át cái tốt qua đó nhấn mạnh sự trỗi dậy của thiên lương con người. Ở toàn bộ tác phẩm, Hồ Anh Thái đã tái hiện lại một xã hội, một cuộc sống xấu xa tàn ác đến nghẹt thở; cái ác, nó không chỉ là sự bạo tàn của chiến tranh trong quá khứ, mà nó còn ẩn hiện dưới muôn hình vạn trạng qua cách mà người ta ứng xử với nhau trong đời sống hiện đại. Đó là sự thao túng của kẻ có tiền có quyền (nhân vật Thế là ông chủ khách sạn nhưng có thể vươn tay dẫn dắt được nhiều người đi theo ý mình). Đó là sự xuống cấp về nhân cách đạo đức của một bộ phận thanh niên trong xã hội hôm nay, họ sống thực dụng, buông thả với những ham muốn điên loạn đến mức bạo tàn. Cốc, Bóp, Phũ, Yên Thanh,… thực sự là những nhân vật tha hoá về nhân cách. Hành động, lối sống của họ đều bị sai khiến bởi bản năng sa đoạ. Đó còn là những bất công trong đời sống, bất công cho những con người nhỏ bé nghèo khổ, “Mạ cháu chỉ bị ruột thừa, có tiền thì mạ cháu không chết” là kết luận của cậu bé 12 tuổi trước cái chết của mẹ khi bác sĩ vô trách nhiệm trước mạng sống của con người – thêm một biến tướng của cái ác - đã chẩn đoán đau ruột thừa thành viêm túi mật! Cõi người rung chuông tận thế là cuốn tiểu thuyết ngắn, khiêm tốn về dung lượng trang viết nhưng lại dồn nén vào đó được thật nhiều cái ác độc của con người. Tuy nhiên tiểu thuyết này không chỉ đơn thuần nói về cái ác.

Như đã nói ở trên, kẻ nhiều niềm tin là kẻ dễ thất vọng. Cái xấu, cái ác cùng những nhân vật tha hoá xuất hiện đầy rẫy trong văn xuôi Hồ Anh Thái là hệ quả của niềm tin rất lớn mà tác giả đã đặt vào con người. Nhiều nhưng không thất vọng. Bởi cái xấu, cái ác chỉ đóng vai trò là phản đề trong tác phẩm của Hồ Anh Thái, để thông qua đó tác giả thêm một lần nữa đóng đinh câu rút vào bản tính thiện của con người, kiểu như Đông (Cõi người rung chuông tận thế) là kẻ đứng trong cái ác, đồng loã với cái ác nhưng vẫn có thể sám hối; kiểu như Khuynh (Người và xe chạy dưới ánh trăng) phải trả giá cho những hành vi sai lầm của mình để rồi hối hận trong muộn màng;… Cái xấu, cái ác cùng với nhân vật tha hoá trong văn xuôi Hồ Anh Thái là cái nhìn hiệu quả đối với lòng tin mà tác giả đặt vào thiện tâm của lòng người, cho dù cách làm này rất hao tâm tổn lực của người viết và cả người đọc.

Hồ Anh Thái còn là nhà văn tinh nhạy trong việc phát hiện những thói xấu đáng cười, đáng chê của con người, hay chính xác hơn là tác giả vạch ra thói xấu của con người dưới cái nhìn hài hước. Nhưng cái cười trong văn xuôi Hồ Anh Thái sâu sắc quá, đến mức cười xong thì thấy ưu tư xa xót, thậm chí giật mình chợt nghĩ: khéo ta vừa mới cười chính ta! Đại diện cho con người nhiều thói xấu đáng cười trong văn xuôi Hồ Anh Thái là nhân vật bi hài, bởi đằng sau tiếng cười ấy đều ngẫm ra một bi kịch, một thân phận, ngẫm ra rồi sẽ không thể cất nổi tiếng cười.

Hai tập truyện dày dặn Tự sự 265 ngàyBốn lối vào nhà cười cùng một số truyện ngắn trước và sau đó như Cuộc đổi chác, Nham!, Diễn, Lọt sàng xuống nia,… đều lấy cảm hứng trước thói xấu đáng cười của con người mà tác giả phải là người tinh tế lắm mới nhìn ra được, bởi nó thường trực thường xuyên, hiện hữu hàng ngày xung quanh ta, thậm chí trong ta.

Tự sự 265 ngày là cách tự truyện của tác giả về 265 ngày đi làm ở công sở, sau khi đã trừ đi 100 ngày nghỉ theo chế độ 2 ngày trong 1 tuần. Với 265 ngày ấy, bao nhiêu thói xấu của công chức, của con người trong xã hội qua cái nhìn của công chức được bày lên trang viết. Đây là tập truyện được viết theo lối liên hoàn, một cách làm việc nghiêm túc của nhà văn, vạch ra chủ đề, ý tưởng trước rồi viết từng truyện theo những ý tưởng sẵn có đó; do vậy, theo dõi từ đầu đến cuối tập truyện này cũng như theo dõi một cuốn tiểu thuyết. Ngay đầu tiên, người đọc đã giật mình với Phòng khách, nơi được xem là trường đại học, là lò luyện tinh hoa, hàng loạt người chen lấn xô đẩy nhau mong lọt vào được cái phòng ấy để được gặp gỡ, để được làm quen, để được giới thiệu mong kiếm một suất đi nước ngoài; và tỷ lệ đỗ là… 100%, tức là những kẻ bước chân vào đấy đều được đến sứ quán để điền vào Tờ khai visa, người ta trắc nghiệm vào 35 ô phỏng vấn mà chẳng hiểu gì và cũng chẳng cần gì phải hiểu, miễn sao qua lọt để ra Sân bay đến nước ngoài mà sống, cư xử với nhau như những Bóng ma trên hành lang, hoặc không như thế thì cũng “dẫm phải bả” của Tây, đến khi ân hận nhận ra thì đã quá muộn, đành phải Vẫn tin vào chuyện thần tiên để mong được trở lại làm người Việt đầu đen mũi tẹt da vàng! Men theo hành trình vọng ngoại ấy, Hồ Anh Thái đan vào đó, hay đúng hơn là để cho những kẻ vọng ngoại tự bộc lộ, tự tố cáo, tự “vạch áo cho người xem lưng” hàng loạt những thói xấu mang màu sắc công chức của mình. Vì mục đích duy nhất là ra nước ngoài không phải với tham vọng học hành mà, nói theo cách “bình dân vỉa hè”, là để “giải quyết khâu oai” (!), người ta sẵn sàng nói xấu nhau, ám hại nhau, lợi dụng nhau như trường hợp “chị viện phó em khó nhằn, nhưng nhằn mãi cũng bùi cũng béo. Chị em cắp nhau đi hội thảo nước ngoài” (Sân bay), hay như gã nghiên cứu viên xuất thân bảo vệ nghĩ ra cách nhìn trộm lão viện trưởng hú hí với ả thư ký để chụp ảnh tố cáo tống tiền đổi lấy một suất thực tập nước ngoài, không biết có phải thực tập hay không mà gã đi mang theo bao nhiêu thứ tạp nham và sẵn sàng ngả ra bày bán trên đường phố nước bạn (Sân bay)? Và khi ra được nước ngoài rồi bao nhiêu thói xấu “made in Viet Nam” ăn sâu trong máu chẳng thể nào thay đổi được để học hỏi điều hay, vẫn bon chen nhỏ nhen ích kỷ sợ người khác hơn mình (Bóng ma trên hành lang), vẫn “chuyện trò nhốn nháo, gọi nhau í ới” ở những nơi công cộng (Sân bay); ở nước ngoài trở về thì như được khoác chiếc áo văn minh của xứ người, trước một kiến trúc nhố nhăng, tạp giao, anh chàng “Tây dởm” gọi đó là kiểu Pháp tức thì cả hội đồng thẩm định nhất loạt kêu lên: “Kiểu Pháp, đúng rồi, kiểu Pháp” (Vẫn tin vào chuyện thần tiên). Con người ta sùng ngoại vậy đó, thích nghe tây hơn ta!

Các truyện ngắn còn lại của tập truyện này: Chạy quanh công viên mất một tháng, Mây mưa mau tạnh, Chim anh chim em, Tự truyệnChín Triệu, Ba Triệu, Hai Triệu và Bóng Rổ, Hồ Anh Thái lại đặt công chức trong tương quan hướng nội chứ không phải vọng ngoại như các truyện trên kia. Và cái xấu cũng chẳng kém cạnh chút nào. Công chức cũng lê la buôn chuyện, làm vui nhau bằng những nụ cười rẻ tiền, nói xấu nhau và chẳng bao giờ thực sự hiểu nhau; đánh giá về vai trò của mấy anh chuyên viên hàng ngày “mài đũng quần” ở công sở, Hồ Anh Thái trào lộng: “Không có cánh nghiên cứu chẳng chết ai. Nhưng cứ thử không có người bán gạo hai ngày mà xem…” (Tự truyện), thậm chí vắng mặt hẳn một tháng trời cũng chẳng ai đoái hoài, cũng chẳng làm xáo trộn cuộc sống của ai (Chạy quanh công viên mất một tháng).

Đến Bốn lối vào nhà cười, nụ cười trước cái xấu của con người được Hồ Anh Thái “chăm chút” đào sâu mở rộng hơn, do vậy ngẫm ra cay đắng chua chát hơn. Cái cười trước thói xấu ở đây khá rộng, nó không còn bó hẹp trong công chức, trí thức mà vươn tới bao trùm hầu hết nhiều dạng người trong xã hội, nhiều lứa tuổi, nhiều lĩnh vực của đời sống: anh xe ôm, cô giúp việc, dân thường, thương nhân, nhà báo, văn nghệ sĩ,… tất cả đều tìm thấy bóng mình trong tập truyện này.

Tập truyện được cấu trúc liên hoàn theo Tứ đại khổ của nhà Phật. Lý giải điều này, tác giả nói: “Sinh, Lão, Bệnh, Tử được coi là bốn nỗi khổ lớn nhất của kiếp người. Bể khổ buồn quá, chính vì thế mà ta phải cười” [70]. Tập truyện là nụ cười buồn của Hồ Anh Thái trước thói xấu của đời người hiện đại. Cuộc sống con người với một chữ Sinh được Hồ Anh Thái “lật tẩy” ra nhiều điều “bát nháo”. Qua cái miệng như tép nhảy của Anh xe ôm một chặng đường núi là nền giáo dục bộc lộ nhiều nhược điểm, là những công trình khoa học vô bổ vẫn được sản sinh hàng ngày, kiểu như đề tài có sự “giao duyên” giữa tâm lý học cộng với xã hội học cộng với giáo dục học được đề xuất bởi một gã lái xe: Thử tìm hiểu tính cách người Việt thông qua những biểu hiện và cách xử lý khi tham gia giao thông để từ đó tìm một xu hướng cho giáo dục nhân cách và hành vi. Hay là sự nhem nhuốc xấu xí của nền nghệ thuật chợt một hôm giật mình phát hiện ra lâu nay đã bỏ quên một đối tượng khá phong phú là cái xấu liền tìm về tôn vinh mà tô mà vẽ mà hát hò đóng phim diễn kịch (Trại cá sấu). Hay sự lên ngôi của văn nghệ bình dân rẻ tiền, nhà nhà văn nghệ, người người văn nghệ, đeo trong mình thói háo danh, bệnh vĩ cuồng rồi thực lòng tin với nhau đó là nghệ thuật đích thực, xem văn hoá nghệ thuật như trò chơi (Trại cá sấu, Tin thật lòng, Chơi,…). Hay cuộc sống đô thị đang chuyển mình gắng gượng tiếp nhận lối sống của nhiều người về đây kiếm sống; làm thêm, kiếm sống nhưng lại mong được đổi đời, mong nhảy lên địa vị làm chủ bằng cách định cướp cả chồng người ta, không được thì quay ra nói xấu (Bến Ôsin)… Tuổi già (Lão), bệnh tật (Bệnh), cái chết (Tử) dưới con mắt của Hồ Anh Thái cũng chẳng có gì khá hơn. Con người ngày nay về già chưa hẳn đã nghỉ ngơi, mà còn bận bịu với đủ loại hoạt động xã hội cộng đồng: sinh hoạt câu lạc bộ thơ ca nhạc hoạ, vẫn yêu đương như tuổi trẻ, và cũng có lắm sai lầm như chưa từng được trải qua (Cây hoàng lan hoá thành cây si); xã hội thêm lắm thứ hỗn tạp, đến cơ quan thì loé xoé buôn chuyện, ra đường thì ối kẻ rình rập ám hại nhau, xã hội như cái chợ, xã hội đang mắc “bệnh” (Chợ); con người ta sống không yên ổn thì chết cũng chẳng được an lành, cái chết của người này lại là niềm vui của kẻ khác, người ta lợi dụng cái chết để tố cáo vạch mặt nhau làm bàn đạp thăng tiến (Cả một dây theo nhau đi);… Xã hội thật lắm cái tức cười, lắm éo le tồn tại trong những nhân vật bi hài.

Vậy hoá ra Hồ Anh Thái nhẫn tâm cười cợt cả tuổi già, bệnh tật, cái chết của đồng loại? Anh giải thích: “Tôi không cười người bệnh, người già, người chết mà cười cái phù du bấp bênh của mọi số phận, tưởng may mắn được tạo hoá ban cho một đời sống làm người, hoá ra “ông tạo” cũng thâm, ông ấy đòi lại, “hành” cho bằng bệnh tật, bằng tuổi già, bằng cái chết. Một khi hiểu được như vậy mà con người vẫn chán chường với đời sống hoặc tự cho mình may mắn mới được làm người, thế thì chẳng hoá ra con người vẫn còn mê tối và đáng cười lắm sao?” [70]. Thì ra là vậy! Anh cười sự mê tối của con người. Xin tiếp tục dẫn lời nhà văn để hiểu hơn mục đích của tiếng cười này: “Cuộc đời đúng là một nhà cười, chỉ có điều con người lại có xu hướng đi vào đó, đối diện với gương mặt mình và khóc… Tôi chỉ muốn đưa ra trước người đọc một tấm gương lồi để họ tự soi vào và tự hỏi: đấy là ta hay không phải là ta? Tôi không muốn làm cho ai phải khóc. Chỉ vì đối với tôi cuộc đời nhiều khi buồn quá, buồn quá thì phải cười” [70]. Vậy ra anh cười cái xấu để thức tỉnh nhiều hơn là giễu nhại. Một tiếng cười có ý nghĩa nhân văn.

Nhìn thấy nhiều cái xấu trong con người và xã hội, viết về nó bằng cả cái nhìn khắt khe lẫn nụ cười của cái hài, nhưng vượt lên trên luôn là niềm tin và tinh thần thức tỉnh của Hồ Anh Thái dành cho con người.

Tóm lại, chúng tôi dành toàn bộ chương 2 để điểm ra những quan niệm về con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái cùng các kiểu nhân vật tương ứng theo từng quan niệm. Qua đó, thấy được Hồ Anh Thái có cái nhìn khá rộng về đời sống con người; thẳm sâu trong mỗi con người đều là những bi kịch, và cho dù con người có xấu xa, có tha hoá, có đáng cười đi chăng nữa, thì đâu đó vẫn có những con người khát khao vươn lên hoàn thiện nhân cách của mình. Cao hơn cả, đằng sau mỗi quan niệm nghệ thuật về con người luôn là tấm lòng Hồ Anh Thái gửi gắm vào đó, tấm lòng của một nhà văn luôn luôn ưu ái, luôn luôn có niềm tin song cũng đòi hỏi rất khắt khe ở con người.



Chương 3.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và giọng điệu trần thuật của văn xuôi Hồ Anh Thái
Trở lên, ở chương 1 chúng tôi đã trình bày quan niệm nghệ thuật về con người và vai trò của nó đối với sáng tác và tiếp nhận văn chương, ở chương 2 chúng tôi trình bày con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái và các kiểu nhân vật tương ứng. Biết rằng “quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản, then chốt nhất của một chỉnh thể nghệ thuật, chi phối toàn bộ tính độc đáo của chỉnh thể nghệ thuật ấy” [43;59], do đó ở chương 3, chúng tôi lấy quan niệm về con người của Hồ Anh Thái làm xuất phát điểm để đi sâu tìm hiểu sự chi phối cũng như biểu hiện của nó đến nghệ thuật sáng tác trong văn xuôi Hồ Anh Thái, trên các mặt: nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và giọng điệu trần thuật.

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Không có một công thức chung cho việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng, miêu tả nhân vật trong văn học, bởi vì “các phương tiện thể hiện nhân vật hết sức đa dạng. Văn học đa dạng đến đâu các phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng đến đó” [44;83]. Người ta có thể tìm hiểu sự miêu tả thể hiện nhân vật qua chân dung, ngoại hình, hành động, ngôn ngữ hay tâm lý,… Dưới đây là cảm nhận chủ quan của chúng tôi về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Hồ Anh Thái.



3.1.1. Xây dựng nhân vật bằng chi tiết gợi bản chất

Để tạo được sự đa dạng sống động cho hình tượng, nhà văn phải xây dựng nó bằng những chi tiết nghệ thuật. Chi tiết nghệ thuật là các “tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” [17;51]. Chi tiết nghệ thuật rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng nhân vật và thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn; qua chi tiết, ta có thể nhìn thấu suốt được đối tượng, bởi “chi tiết nghệ thuật tạo thành những điểm nhìn vào đối tượng, thể hiện cái nhìn và quan niệm về đối tượng,… chi tiết chính là điểm nhìn thể hiện quan niệm nghệ thuật về đối tượng, thể hiện tâm hồn của tác giả cảm nhận về đối tượng ấy” [42;82]. Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật theo những quan niệm của mình, Hồ Anh Thái rất chú ý đến sử dụng chi tiết. Tác phẩm của Hồ Anh Thái nhiều chi tiết đến nỗi nhà văn Ma Văn Kháng phải thốt lên: “Truyện nào của Hồ Anh Thái cũng ăm ắp chi tiết, đọc vừa sướng vừa lo: phải mình khéo kiệt sức mất” [50;327]; có khi là chi tiết về ngoại hình, về hành động hay về ngôn ngữ của nhân vật, nhưng một nét chung thấy được, chi tiết trong tác phẩm Hồ Anh Thái có ý nghĩa gợi bản chất của nhân vật rất rõ.

Nhìn chung nhân vật của Hồ Anh Thái ít được khắc hoạ đầy đặn về diện mạo ngoại hình, anh không thích xây dựng nhân vật theo phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, nhân vật là kẻ hiển hiện trong tác phẩm, do vậy, khi cần thiết Hồ Anh Thái vẫn điểm cho nhân vật những chi tiết khá đắt để làm bật nó lên theo dụng ý nghệ thuật của mình.

Đọc Người và xe chạy dưi ánh trăng, độc giả sẽ khó hình dung về diện mạo của Toàn. Với nhân vật này, Hồ Anh Thái muốn nói khả năng vươn lên hoàn thiện của con người là có thể thực hiện được; từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành là hành trình vật vã để Toàn vươn lên hoàn thiện mình, anh trải qua bao mất mát, bao khó khăn, đứng trước bao ngả đường của đẹp đẽ và xấu xa, của thiện và ác, của chân thực và giả dối nhưng anh luôn giữ cho mình được phẩm chất trong sáng. Được như vậy không dễ, quan trọng là bản thân phải biết ý thức và gạt bỏ điều xấu. Để bổ sung cho hành trình hoàn thiện của Toàn, Hồ Anh Thái ngợi ra một chi tiết rất nhỏ về nhân vật này cho độc giả cảm nhận, đó là cái mụn cơm ở mu bàn tay trái. Với Toàn, “nó gây cảm giác bực bội dai dẳng như một giọt mực rơi vào cái áo trắng, mỗi lần giở ra mặc lại phải nhìn thấy”, và Toàn luôn mong loại bỏ nó như loại bỏ “sự dư thừa bất hợp lý, một điểm chưa hoàn thiện của con người”. Một chi tiết tưởng như không đâu nhưng lại có khả năng khái quát trúng tính cách của Toàn; và rồi ai cũng có thể có một mụm cơm, một khiếm khuyết chưa hoàn thiện như thế, vấn đề là ở chỗ ta có tự ý thức để rứt bỏ nó đi hay không mà thôi!

Người đọc cũng bắt gặp nhiều cú lẩy chi tiết về ngoại hình nhân vật thật ngoạn mục trong nhiều truyện ngắn của Hồ Anh Thái. Ở tập truyện Tự sự 265 ngày, tác giả chủ yếu xoáy vào đời sống công chức nhiều cái xấu dưới cái nhìn khôi hài, cho nên có những lúc Hồ Anh Thái buông ra một vài chi tiết vừa đủ cho người đọc hình dung về nhân vật, đủ cho thấy cái kệch cỡm giữa nội dung và hình thức của những con người này. Một sự “lệch pha” khá rõ khi võ sư cao 1 mét 55, “dắt cái xe máy đi là không rõ người dắt xe hay xe dắt người" (Phòng khách); hay gã nghiên cứu viên “… mặt to, chân to. Một thứ trẻ con tồ tồ tẹt tẹt, lớn xác 1mét 82 nhưng đầu óc vĩnh viễn là của một thằng phụ hồ mất dạy tuổi mười bảy” (Sân bay). Kiểu chấm phá nhân vật như thế này còn được Hồ Anh Thái tiếp tục ở tập Bốn lối vào nhà cười còn khôi hài hơn nhiều lần Tự sự 256 ngày; hai cô Cá Sấu thì “một mắt nhìn núi Đôi một mắt nhìn sông Nhị (…) răng cửa phi nước đại răng hàm phi nước kiệu”. (Cần lưu ý: Trại cá sấu là trường hợp đặc biệt. Việc miêu tả hai cô Cá Sấu của Hồ Anh Thái có nét “tự nhiên chủ nghĩa” nhưng mục đích không phải để cười cợt cái xấu về hình thức của con người, mà anh chủ định nhấn mạnh cái xấu đó để hướng tới chê cười cái ngược đời, sự hỗn độn pha tạp của nền văn nghệ hiện đại khi chọn cái xấu làm đối tượng, cũng để nói về sự “lem luốc” của nghệ thuật hiện nay!).

Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, nói theo cách cổ điển, là khúc tráng ca ca ngợi sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác. Đây là tác phẩm đậm màu sắc luận đề nhất mà Hồ Anh Thái đã có cho tới nay. Để nhấn mạnh luận đề của tác phẩm, khẳng định giá trị của sự sám hối, giác ngộ của con người, Hồ Anh Thái đã khắc hoạ những cái xấu và cái ác trong thế đối lập qua những nhân vật tha hoá đến mức khủng khiếp. M. Kundera có nói: “Tiểu thuyết là sự chiêm nghiệm về cuộc đời thông qua các nhân vật tưởng tượng” [25;86], đúng những nhân vật này là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của tác giả, nhưng phải nói rằng, độ chân thực mà nó có được tạo nên bởi các chi tiết táo tợn song rất hợp lý có thể ai đó đã gặp trong đời thực; chúng là hình chiếu của loại thanh niên sa đoạ về nhân cách đầy rẫy trong xã hội hôm nay. Sau đây là thống kê của chúng tôi về những chi tiết đặc trưng mà Hồ Anh Thái đã dành để gọi đúng hồn cốt nhân vật của mình trong tiểu thuyết này:

Với thằng Cốc: “Đêm nay em đừng về khách sạn, về nhà anh mà ngủ. Khiếp, nói năng trắng trợn thế? Vậy phải nói thế đéo nào? Số 12 kinh hồn, không ngờ một siêu sao thanh lịch và cao quý trên màn bạc lại phát ngôn như thế. Có hay không, nói ngay? Một luồng hơi nước cáu kỉnh ập vào mặt số 12. Không! Có muốn thành hoa hậu á hậu hay thành thương binh? Cốc giẫm một cú phủ đầu lên số 12… Nói ngay, có muốn thành con què lê bước qua sân khấu hay không, nói? Vâng, thôi thì em đi với anh”

Với thằng Bóp: “Nó buông cặp sừng trên đầu con dê, luồn đôi bàn tay quanh cái cổ đen nhánh. Thoạt đầu có vẻ giống như một cử chỉ âu yếm. Thình lình con dê giật nảy lên. Bốn chân khua khoắng.

Thế là thằng Bóp đã bắt đầu bóp.

Thằng Bóp đang bóp.

Thằng Bóp đã bóp xong.

… thằng Bóp hét một tiếng cực khoái hoang dã, cùng lúc thân người vạm vỡ của nó rung lên xuất dương lực”

Với thằng Phũ: “Sau khi thằng Phũ chết, tôi thấy trong tủ quần áo của nó có một chiếc ca táp Nhật (…) trong chiếc cặp có 101 chiếc quần lót phụ nữ. Vậy là trong khoảng thời gian ngắn ngủi chín năm làm đàn ông (theo tiểu thuyết này thì tính từ năm y 14 tuổi – chú thích của tác giả luận văn), ông mãnh này đã sống bằng cuộc đời của 101 người đàn ông đạo đức suốt đời chỉ biết có một người đàn bà”.

Và để cho đủ “bộ tứ bình” của của lối sống thác loạn đang bị khuyết một vế, tác giả đưa thêm vào nhân vật Yên Thanh, “một gương mặt đức mẹ đồng trinh không thể nào bắt bụi trần tục” nhưng thực sự gây “sốc” khi tuyên bố: “các anh đã chiêu đãi hoa khôi thì bây giờ đến lượt hoa khôi chiêu đãi các anh”, và sau đó “một mình hoa khôi chiến đấu cùng lúc với ba gã con trai trần trụi mà vẫn thừa ra hai gã”.

Sau 4 trích dẫn trên, một chi tiết về lời nói của kẻ được xem là thanh lịch và cao quý (những đoạn được gạch chân), hai chi tiết hành động thoả mãn bản năng của hai kẻ bệnh hoạn và một chi tiết về sự thác loạn cũng bệnh hoạn không kém của đứa con gái mang gương mặt hoa khôi, thiết nghĩ không phải bình luận gì thêm, như vậy là quá đủ để hiểu nhân vật; và ở chừng mực nào đó, cũng đủ cho thấy sức mạnh của chi tiết đối với việc biểu hiện nhân vật.

Hồ Anh Thái quả là nhà văn rất giàu và tiêu tốn chi tiết khá hiệu quả cho việc thể hiện nhân vật. Điều này càng được củng cố khi khảo sát những truyện ngắn mang màu sắc bi hài của anh. Với cái nhìn hài hước trước những con người mang thói xấu, Hồ Anh Thái không xây dựng họ thành những nhân vật toàn vẹn với diện mạo, tính cách… mà chủ yếu phác thảo một vài nét sơ lược nhưng rất điển hình. Như một hoạ sĩ vẽ chân dung âm bản, không cần sự rườm rà của màu sắc và đường nét để phủ kín khoảng trống của bức tranh, Hồ Anh Thái chỉ cần một vài phác hoạ đơn mảnh. Đây là cách xây dựng nhân vật anh rất ưa sử dụng. Cuộc đổi chác là tiếng cười của Hồ Anh Thái trước hành trình “đi tắt” về phương Đông của những người châu Âu, họ cứ tưởng rằng thay đổi tên gọi, thay đổi cách sống theo người Ấn là đã chiếm lĩnh được văn hoá Ấn Độ. Hồ Anh Thái đã có chi tiết rất vui để vạch ra cái bi hài của anh chàng người Đức Heinrich nhưng đổi tên Ấn Độ là Amar Dip, mặc đồ Ấn và nói tiếng Hindi: “Amar Dip ơi, làm ơn cho tao mượn cuốn sách mới, nhưng: này Heinrich, trong hộp thư trên phòng giáo vụ có thư gửi cho mày đấy. Đến mức ấy thì anh chàng chối bỏ cái tên Heinrich vẫn phải hộc tốc chạy đi nhận thư”. Anh chàng Heinrich – Amar Dip này đúng là bi kịch của kẻ “chạy trời không khỏi nắng”!

Nói theo cách dân gian, văn xuôi Hồ Anh Thái còn nêu ra thói “dốt còn hay khoe chữ” của con người hiện đại. Xã hội mở cửa, người ta ào ra nước ngoài, người ta sính ra nước ngoài để “mở mang đầu óc” mà không biết rằng cũng cần phải mở mang đầu óc trước khi đặt chân lên máy bay, cái đầu tiên phải là ngoại ngữ - nỗi sợ của không ít người. Hồ Anh Thái nhìn thấy điều này qua chi tiết điền tờ khai visa: “Sex: Male / Female. Sex thì rõ ràng là người ta muốn bà khai rõ chuyện tình dục, không dưng hỏi chuyện tình dục, chắc là để ngăn ngừa chuyện chung chạ bừa bãi trên đất nước bạn. Còn Male / Female là Giống đực / Giống cái, chuyện tế nhị mà bám sát hỏi ráo riết thế, lại còn khai báo sinh hoạt với đối tượng nào. Vậy thì bà đây giống phượng giống công, danh gia vọng tộc, lá ngọc cành vàng, bà quyết liệt hạ bút vào ô Sex: No. Không. Bậy bạ không. Dứt khoát không. Triệt để không. Giống đực cũng không mà giống cái cũng không” (Tờ khai visa). Thật khó mà không cười trước sự dốt nát đến ngớ ngẩn của con người này, người ta yêu cầu khai giới tính lại nghĩ sang chuyện tình dục, chắc do quá ám ảnh lối sống hiện đại, để rồi hạ bút: No. Không!

Hồ Anh Thái chú trọng tái hiện nhân vật qua chi tiết đến mức có những chi tiết trở thành biểu tượng xuyên suốt tác phẩm, góp phần vào việc thể hiện quan niệm của tác giả đối với con người, thể hiện chủ đề của tác phẩm. Xin dẫn ra đây hai dẫn chứng tiêu biểu cho nhận định này, một ở truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước và một ở tiểu thuyết Người và xe chạy dưi ánh trăng. Điều mà Hồ Anh Thái muốn nói đến ở Người và xe chạy dưi ánh trăng là sự vươn lên hoàn thiện và giữ tâm hồn trong sáng trong đời sống thông qua nhân vật Toàn. Hành trình trưởng thành của Toàn gắn chặt với chiếc xích lô - phương tiện đã giúp anh vượt qua những ngày khó khăn để nỗ lực học tập, hình ảnh Toàn và chiếc xích lô trôi trong đêm trăng đã trở thành biểu tượng có nét vừa hiện thực, vừa lãng mạn, thậm chí đôi lúc hư ảo thể hiện rõ cho ý chí và tâm hồn của Toàn: “Những lần đạp xe trong đêm trăng. Cỗ xe vàng như mải miết trôi trong không trung, như chẳng còn biết đến giới hạn của không gian và thời gian. Người và xe trôi trong những khao khát rộn rực thẳng hướng về tương lai”. Sau này trong cuộc sống, những lúc gặp khó khăn bất trắc, trong Toàn thường hiện ra một cỗ xe chở nặng chạy dưới ánh trăng. Sẽ không quá khó hiểu khi hình ảnh người và xe chạy dưới ánh trăng được tác giả lấy làm tiêu đề cho tiểu thuyết này.

Truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước là khúc ca ai oán về bi kịch của phụ nữ Ấn Độ xoay xung quanh thân phận Nilam. Trong truyện ngắn này hình ảnh cây kim tước xuất hiện nhiều lần như một sự nhấn mạnh, điểm tô cho nhân vật Nilam. Khi còn là một cô gái xinh đẹp làm say mê bao trai làng, Nilam đẹp như rừng cây kim tước vào mùa hoa, “những chùm hoa kim tước rủ xuống như những chùm nho vàng tươi trong suốt, cả một vườn kim tước bừng sáng xoã ra như mái tóc vàng của người đẹp ngủ trong rừng”. Và cây kim tước gắn bó với cuộc đời Nilam như định mệnh. Sinh con gái, bị nhà chồng ruồng bỏ, cô đã sát hại con gái mình và tự vùi chôn Nilam của ngày xưa để lột xác thành người giải thoát cho những bé gái sơ sinh trong làng. Mỗi nấm mồ chôn bé gái được đánh dấu bằng một cây kim tước. Chẳng mấy chốc cả quả đồi phủ toàn kim tước, cũng có nghĩa rải đầy trên đó là những thân phận đớn đau không được làm người; lúc này Nilam là nỗi sợ hãi của những sản phụ và cây kim tước cũng không còn vẻ đẹp của ngày xưa mà đầy ai oán với “màu vàng hấp him nhợt nhạt hết sức thiểu não”. Cây kim tước trở thành biểu tượng cho thân phận Nilam, nó mang vẻ tươi sáng của cô thời con gái, mang vẻ buồn đau não nề của cô khi bị ruồng bỏ và nó cũng gục ngã khi cô chết đi, Nilam nằm trong cái huyệt tự đào, “một thảm hoa vàng phủ lên che lấp cả gương mặt (…) cách đó không xa, có một người đàn ông buông rơi cây sáo, đang ôm lấy một cây kim tước mà than khóc”.

Đúng như định nghĩa, chi tiết nghệ thuật quả là những tiểu tiết so với tác phẩm, nhưng nó có sức chứa lớn về tư tưởng và cảm xúc. Những chi tiết mà Hồ Anh Thái sử dụng trong tác phẩm đều có sức lột tả bản chất của nhân vật rất mạnh. Do vậy, qua chi tiết nghệ thuật của Hồ Anh Thái, người đọc không chỉ hiểu về nhân vật mà sâu xa hơn còn hiểu được quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả ẩn trong nhân vật và những chi tiết đó. Nắm bắt điểm mạnh này, Hồ Anh Thái đã dùng chi tiết rất hiệu quả trong nghệ thuật biểu hiện nhân vật, hầu như nhân vật của anh đều tự phơi mình qua chi tiết. Do vậy, để hiểu nhân vật của anh, không nên rập khuôn cách hiểu về nhân vật theo phương pháp truyền thống, mà hãy nên khảo sát một vài “tiểu tiết” cụ thể.




1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương