Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

Chương 2.

Con ngưi trong văn xuôi Hồ Anh Thái và các kiểu nhân vật
Quan niệm nghệ thuật về con người về con người trong văn học tồn tại ở cả hai cấp độ, có quan niệm về con người của cả giai đoạn văn học và cũng có quan niệm về con người của riêng mỗi nhà văn. Con người trong quan niệm riêng của mỗi nhà văn là những thành tố thể hiện sự đa dạng, làm nên cái chung trong cách đánh giá cảm nhận về con người cho cả một thời kỳ văn học.

Văn xuôi Hồ Anh Thái là dòng chảy có những vận động riêng đã góp mình làm nên dòng chảy chung của văn xuôi đương đại Việt Nam. Hồ Anh Thái bắt đầu sự nghiệp văn xuôi của mình khá sớm, từ năm 17 tuổi, tới nay Hồ Anh Thái là nhà văn có thành tựu, anh nằm trong số không nhiều các cây bút xuất hiện sớm, nhanh chóng trưởng thành và để lại dấu ấn trong văn xuôi Việt Nam kể từ Đổi mới đến nay. Với số lượng tác phẩm dày dặn, Hồ Anh Thái đã chứng tỏ là người nắm bắt rất tinh tế nhịp sống thời đại trên cả bề nổi cũng như mạch ngầm. Anh đã trải ra trên trang viết nhiều kiếp người, cảnh người ở nhiều thời điểm, nhiều tình huống khác nhau, qua đó thể hiện những cảm nhận của sâu sắc của mình về nhân sinh. Trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái, người đọc sẽ bắt gặp những con người nhiều trăn trở trước các vấn đề muôn thuở của đời sống: vô nghĩa - có ý nghĩa, thiện - ác, lý trí - bản năng,... để vươn lên hoàn thiện bản thân; sẽ bắt gặp những thân phận mang trong mình không ít bi kịch, có thể là bi kịch của cá nhân, có thể là bi kịch xã hội “kết tinh” trong từng số phận; đồng thời cũng gặp những con người mang trong mình thói xấu của xã hội hiện đại, có thói xấu đáng cười và cả những thói xấu đáng sợ.

Đến với con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái, người đọc sẽ luôn phải đương đầu với nhiều phân vân do tác giả tạo ra, bởi ở chỗ này anh dành cho con người sự cảm thương sâu sắc, ở chỗ khác thì tràn trề niềm tin nhưng cũng không ít chỗ con người hiện ra dưới ngòi bút của anh thật đáng thất vọng. Hồ Anh Thái là nhà văn đặt nhiều niềm tin nhiều hy vọng vào lòng người; do vậy, dưới muôn hình vạn trạng của sự đa dạng trong thể hiện luôn là tấm lòng ưu ái của tác giả dành cho con người, dù đâu đó có đôi chỗ buồn chán.

Các quan niệm lâu nay đều tạo được sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm về “nhân vật văn học”. Sách Lý luận văn học viết: “Nhân vật văn học là con người được thể hiện bằng phương tiện văn học” [29;63]; sách 150 thuật ngữ văn học xem nhân vật văn học là “hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [4;241]; sách Một số vấn đề về thi pháp học hiện đại cho rằng: “Nhân vật là hình thức miêu tả con người một cách tập trung” [42;26]. Như vậy, các quan niệm đều có chung một luận điểm: Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong tác phẩm văn học. Điều này không có gì phải bàn cãi. Cũng như một vấn đề thường được nói tới khi bàn về nhân vật văn học, đó là mối quan hệ giữa nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Theo đó, “nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu ra là để khái quát và biểu hiện tư tưởng thái độ đối với cuộc sống” [42;26], hơn nữa, “nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy’’ [4;242] và “quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học nhưng biểu hiện tập trung nhất ở nhân vật” [43;46]; do vậy, “muốn khám phá sự cảm nhận con người tới mức độ nào thì cần khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu tả nhân vật” [42;29].

Thực tiễn sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học đã nêu lên nhiều kiểu nhân vật khác nhau ứng với từng tiêu chí phân loại khác nhau. Dựa vào thể loại thì có nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình; dựa vào vị trí, vai trò của nó đối với cốt truyện thì có nhân vật chính, nhân vật phụ; dựa vào đặc điểm tính cách và nhiệm vụ truyền đạt lý tưởng cho nhà văn thì có nhân vật chính diện, nhân vật phản diện; còn dựa vào cấu trúc hình tượng thì có nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng tuân thủ theo từng ấy cách phân chia. Nhân vật văn học gắn với quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người cho nên nó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư tưởng chủ đề của tác phẩm. ở trường hợp văn xuôi Hồ Anh Thái, căn cứ vào quan niệm nghệ thuật về con người và tư tưởng chủ đề tác phẩm, chúng tôi phân chia thế giới nhân vật này thành các kiểu tương ứng sau: nhân vật thức tỉnh, nhân vật thân phận, nhân vật tha hoá và nhân vật bi hài.

Dưới đây là quan niệm nghệ thuật của Hồ Anh Thái về con người và một số kiểu nhân vật được Hồ Anh Thái xây dựng trong văn xuôi của mình xuất phát từ những quan niệm đó.



2.1. Con người vươn tới sự hoàn thiện với kiểu nhân vật thức tỉnh

“Nhân vô thập toàn”. Kết luận có từ lâu này không phải để bao biện cho những thiếu sót thường có ở con người, mà là một sự khẳng định: Con người khó có thể toàn vẹn. Thiếu hoàn hảo, chưa hoàn thiện là lẽ tự nhiên của con người. Vậy nhưng không phải ai cũng ý thức được điều đó. Xét ra, chỉ những ai thức nhận được thiếu sót của bản thân, người đó mới có thể vươn tới sự hoàn thiện.

Có một mô hình về kiểu người như thế trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Ban đầu đó là những người có suy nghĩ, hành động không phù hợp với đạo đức xã hội, với cộng đồng, với chính mình nhưng dần dần, qua những va chạm trong đời sống họ mới ý thức được đâu là cái đích thực nên giữ nên chọn nên theo đuổi và đâu là cái không đích thực nên loại bỏ. Đó là một trong những cách Hồ Anh Thái nhìn con người theo quan niệm của mình: Cho dù có lầm lỡ, nếu ý thức được, con người hoàn toàn có thể vươn tới hoàn thiện mình. Cũng từ đây, Hồ Anh Thái đã xây dựng những nhân vật khá tương thích với cách đánh giá này về con người của anh, đó là kiểu nhân vật thức tỉnh.

Cần phải nói ngay rằng, con người vươn tới sự hoàn thiện không phải là “sản phẩm” riêng có của nhà văn Hồ Anh Thái. Hướng thiện là một nhu cầu lớn của con người. Từ truyện cổ tích của văn học dân gian qua truyện Nôm của văn học trung đại rồi văn xuôi cận hiện đại luôn luôn có mặt những con người biết sửa chữa lỗi lầm, biết chọn lựa đúng sai trong vô vàn giá trị của đời sống mà hoàn thiện nhân cách của mình. Với Hồ Anh Thái, vấn đề con người vươn tới sự hoàn thiện được anh nêu ra rất sớm, ngay từ những sáng tác đầu tiên và trở đi trở lại nhiều lần trong văn xuôi của anh. Có thể coi đây là một trong những vấn đề trung tâm của văn xuôi Hồ Anh Thái, dù tiểu thuyết hay truyện ngắn, dưới góc nhìn này hay góc nhìn khác, dưới giọng điệu hài hước hay cảm thương, Hồ Anh Thái luôn kiếm tìm ở con người nhiều điều tốt đẹp. Anh đã tìm và thấy!

Với khát vọng hoàn thiện mình, con người được Hồ Anh Thái nhìn nhận trong tương quan với những giá trị đối nghịch của cuộc sống, nhân vật của Hồ Anh Thái sống trong tương tác của những giá trị đó để rồi trăn trở dằn vặt mà nhận chân ý nghĩa đích thực của cuộc sống, mà chọn lấy cái tốt đẹp, có ý nghĩa cho mình. Thức tỉnh trở thành một cấu tứ xuyên suốt văn xuôi Hồ Anh Thái. Cảm hứng thức tỉnh và kiểu nhân vật thức tỉnh là biểu hiện rõ nhất cho quan niệm của Hồ Anh Thái về con người vươn tới hoàn thiện.

Con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái thường trăn trở để lựa chọn giữa cái vô nghĩa và cái có ý nghĩa. Cuộc sống mỗi người chịu ảnh hưởng của nhiều mối quan hệ, của nhiều giá trị vật chất lẫn tinh thần. ảnh hưởng đó có tốt và có xấu. Xét cho cùng, lối sống của con người là lối sống trong những ảnh hưởng và vì những ảnh hưởng. Do vậy, không ít người tiếp nhận ảnh hưởng xấu mà chạy theo những cái vô nghĩa, đánh rơi giá trị đích thực, đánh rơi bản chất thực của con người mình. Ngay từ những tác phẩm đầu tiên, người trẻ tuổi viết cho tuổi trẻ, Hồ Anh Thái đã nhìn ra cái băn khoăn bỡ ngỡ của tầng lớp thanh niên khi đặt chân vào đời - thời điểm nhạy cảm, thời điểm cần có sự lựa chọn đúng đắn nhất để tạo dựng một con đường vào đời có ý nghĩa của mỗi người. Kim trong Những cuộc kiếm tìm, Hiếu trong Nằm ngủ trên ghế băng, Khải trong Chàng trai ở bến đợi xe, Toàn và Khắc trong Người và xe chạy dưi ánh trăng,... là những nhân vật biết ý thức về giá trị tốt đẹp của đời sống sau khi họ đã trải qua sai lầm, đã từng sống trong những điều vô nghĩa, nhưng trên hết, ở họ có tâm hồn khao khát cái đẹp, có khát vọng tìm kiếm cái đích thực cho mình và họ đã vượt qua được để mà hướng tới. Kim thực sự đã trải qua những cuộc kiếm tìm, đã được giới thiệu gặp những cô gái “ấn tượng” bởi sự táo tợn, chua ngoa để rồi ý thức được rằng tình yêu đích thực chỉ có được khi mình phải tự tìm kiếm lấy; môi trường quân đội đã làm thay đổi Hiếu, từ một chàng trai ương bướng ngỗ nghịch, thích dùng sức mạnh – hậu quả của việc dạy con bằng kỷ luật chứ không phải bằng tình thương của người bố nhà binh – đã nhận ra đâu là cái cần thiết trong cuộc đời, đó là tình yêu, sự cảm thông thấu hiểu lẫn nhau, người ta tôn trọng nhau, quý mến nhau vì vậy chứ không ở sự sợ hãi trước sức mạnh; Khải lại là một chàng trai không có chí tiến thủ trong đời sống, anh luôn chờ đợi những gì dễ dãi nên đã để lỡ quá nhiều chuyến xe vào đời, cũng thật may, thất bại khiến anh ý thức được bản thân vô nghĩa của mình và cuối cùng cũng xác định được một con đường vào đời có ích; Khắc mới thực sự là một nhân vật thức tỉnh về ý nghĩa của đời mình, từ một kẻ tù tội, sống lắt lay nơi chợ trời, kiếm ăn qua ngày bằng cách lừa đảo, trước sự trong sáng của Mỵ và lòng tin của cô Hậu, anh đã thực sự hoàn lương để bắt đầu một cuộc đời mới có ích cho mọi người; còn Toàn lại là một trường hợp đặc biệt, ở anh có sự trong sáng thánh thiện đến vô cùng, cho dù cuộc đời bao khó khăn mất mát xảy ra cho mình, anh vẫn cố gắng vươn lên bằng ý chí của bản thân, cho dù bị chèn ép ganh tỵ, anh cũng chỉ coi là những sự cố nhỏ trong đời, luôn luôn vươn lên hoàn thiện là phương châm sống của anh, bởi anh biết chính điều đó mới làm cho cuộc sống có ý nghĩa.

Quan tâm đến con người vươn tới hoàn thiện, Hồ Anh Thái chú ý nhiều đến cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong mỗi con người. Thiện - ác là vấn đề muôn thuở của đời người. Thiện và ác như những hạt mầm ủ sẵn trong mỗi chúng ta, do vậy, quan trọng là ở chỗ mỗi người có biết nuôi dưỡng mầm thiện, làm thui chột và chiến thắng mầm ác cũng không ngừng nảy sinh trong mình hay không? Cái thiện chiến thắng cái ác là biển hiện rõ nhất cho một tâm hồn hướng thiện và mong muốn được hoàn thiện. Văn xuôi Hồ Anh Thái xây dựng nhiều con người hướng thiện thông qua kiểu nhân vật biết thức tỉnh lòng thiện trước cái ác, biết ăn năn hối cải để chuộc lại những điều ác mình đã làm, định làm bằng chính cái thiện. Sử dụng tích truyện của đạo Phật, Hồ Anh Thái đã thể hiện niềm tin của mình vào bản tính thiện của con người thông qua chùm truyện ngắn: Chuyện cuộc đi Đức Phật, Đến muộn, Kiếp ngưi đi qua. Chùm truyện ngắn mang màu sắc Phật giáo Ấn Độ này thể hiện rất rõ sức mạnh của cái thiện trước cái ác; Phật tổ là hiện thân của cái thiện, toả sáng và thu phục nhân tâm, cải huấn cái ác, khơi dậy mầm thiện còn sót lại trong những con người tưởng chừng đã ngập sâu trong tội lỗi bằng quan niệm: “Chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán. Lấy oán trả oán thì oán còn” (Chuyện cuộc đời Đức Phật). Truyện ngắn Đến muộn kể về sự sám hối của Ajatasatru, kẻ đã cướp ngôi và giết cha đẻ của mình. Đó là một tỗi lỗi quá lớn mà đạo làm con không thể nào được phép, nhưng dường như y đã bỏ qua điều này, chỉ đến khi được nghe mẫu hậu kể về tình thương của vua cha dành cho y lúc nhỏ thì mới vỡ lẽ song đã quá muộn. Đúng là tình thương có thể là làm thức tỉnh con người, nhưng tội ác của Ajatasatru quá lớn và cái giá y phải trả không chỉ là cái chết của cha mà còn ở nghiệp báo y phải gánh chịu: tám năm sau y bị chính con đẻ cướp ngôi và bỏ đói trong hang cho đến chết! Truyện ngắn Kiếp ngưi đi qua thì viên mãn hơn về ý nghĩa. Anguli Mala là kẻ cướp giết người tàn bạo, cuộc đời y tưởng như chìm trong giết chóc và tội ác, không thể trở lại với cõi người nhưng chính tình thương vô lượng của Đức Phật đã tái sinh y trở lại với sự lương thiện. Kể từ sau cuộc gặp gỡ định mệnh với Phật tổ, Anguli Mala trở lại là một Ahimsaka quy y hành thiện.

Tư tưởng từ bi của Phật giáo cộng với quan niệm “ác giả ác báo” của dân gian và gợi ý từ khúc Khải huyền trong Kinh thánh Tân ước đã trở thành động cơ để Hồ Anh Thái viết nên tác phẩm đậm tính luận đề có tên Cõi người rung chuông tận thế. Hướng thiện là cảm hứng chủ đạo của tác phẩm này. Hàng loạt cái ác nối đuôi nhau trong vòng tròn luẩn quẩn của tội lỗi: tội ác - chết - trả thù - tội ác – chết..., chỉ đến khi có quá nhiều tội lỗi, có quá nhiều cái chết, con người đứng mấp mé bên bờ của sự sống và cái chết, thì người ta mới ngộ ra rằng sự sống là quan trọng, “tôi cần phải sống” (lời của nhân vật Đông trong Cõi người rung chuông tận thế).

Cái ác tràn ngập trong xã hội, có sẵn trong mỗi con người. Phải làm gì để loại trừ nó ra khỏi bản thân? Hồ Anh Thái đã nêu ra một “giải pháp tối ưu” qua tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế rằng, chỉ có lòng thương, sự bao dung mới có thể hoá giải, diệt trừ tận gốc cái ác. Đó mới là quá trình hướng thiện cao đẹp.

Cảm hứng phục thiện thể hiện trước hết ở con người hướng thiện. Đông là nhân vật thức tỉnh cái thiện trước cái ác rất điển hình mà Hồ Anh Thái đã xây dựng được. Nhằm nhấn mạnh quá trình phục thiện của Đông, Hồ Anh Thái đã đưa ra hàng loạt cái ác và cái chết. Những cái chết kinh sợ đầy bí ẩn. Cái chết trước dọn đường cho cái chết sau, ba cái chết theo nhau mà đi như đã được soạn sẵn. Đầu tiên là cái chết của Cốc. Cốc chết vì hành vi dục tính của mình trong một lần tắm biển đã dở trò sàm sỡ với cô gái mới gặp. Đó là sự trả giá cho dục vọng thái quá, ham muốn vô độ của kẻ chỉ biết ăn chơi, hưởng lạc bất chấp với ai, khi nào, ở đâu. Sau đó là hai cái chết của Bóp và Phũ. Bóp vì muốn trả thù cho Cốc mà chết, Phũ vì muốn trả thù cho Cốc và Bóp mà chết. Cả Bóp và Phũ đều khẳng định bạn mình chết vì người con gái ấy nên tìm cách giết cô, nhưng họ đã chết khi chưa kịp thực hiện tội ác và chết bằng chính hành động mà họ định thực hiện với cô gái; Bóp chết vì bị treo cổ, Phũ chết “giống hệt như một gã đua xe chết bỏ”. “Ác giả ác báo” là như vậy, kẻ làm ác sẽ bị trừng phạt bằng chính điều ác mà chúng định gây ra. Nhưng con người không thể sống mãi trong những hận thù liên tiếp, sống mãi trong cái vòng luẩn quẩn mà hận thù gây ra. Đông là người thân thích với ba gã trai trên kia, là người chứng kiến lần lượt ba cái chết trước mắt mình, do vậy không thể không bừng lên khát vọng trả thù. Song anh ta hơn ba đứa cháu mình ở chỗ biết bình tâm nhìn nhận sự việc trước khi hành động. Đông luôn đứng giữa lằn ranh giới của thiện và ác. Hồ Anh Thái đã bứt ra khỏi cách viết đơn giản một chiều của tiểu thuyết truyền thống để thể hiện cuộc sống hiện đại, kể về câu chuyện thiện ác, vấn đề muôn thủa của lòng người, trong thế đan cài, pha trộn những dằn vặt trăn trở day dứt của nhân vật. Đông thấy rằng “con người quả thực hèn yếu khi khoanh tay ngồi nhìn người thân lần lượt bị tiêu diệt”, và anh ta quyết định sẽ trừng phạt cô gái ấy. Nhưng kèm theo khát vọng trả thù là linh cảm về kết cục thảm khốc phải gánh chịu nếu thực hiện tội ác. “Tôi đã lựa chọn cái chết cho mình mà không hay biết”, anh ta nghĩ như vậy và cảm thấy “tôi muốn sống... Tôi bỗng thèm sống hơn bao giờ hết”. Mạng sống đã khiến Đông ý thức về điều mà mình định làm, anh đã nhận ra được bản chất, căn nguyên của cái ác chính là lòng sân hận trong mỗi con người. Sau những trăn trở nội tâm, Đông đã dẹp trừ được cái ác trong tâm trí mình, cái tâm thiện đã chế ngự được cái tâm ác, anh đã thoát khỏi vòng hận thù luẩn quẩn mà ba đứa cháu của mình mắc phải.

Và sám hối không bao giờ là muộn. Đông lo sợ sẽ bị trả giá cho khi tìm gặp Mai Trừng nhưng thay vì nhận một kết cục tàn khốc như ba đứa cháu, anh đã rất yên bình khi gặp cô; qua đó Hồ Anh Thái muốn nói rằng: “Kẻ làm ác vẫn còn cơ hội được giác ngộ, được đón nhận trở lại cõi người chứ không phải bao giờ cũng bị trừng phạt”. Viết ra điều ấy, Hồ Anh Thái đã thể hiện rõ dấu ấn của nhân sinh quan Phật giáo trong tác phẩm của mình. Nhà Phật có câu: “Phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật”. Có nghĩa là ai cũng có thể giác ngộ, chỉ cần còn một chút thiên lương, con người vẫn có thể làm lại tất cả, mà bắt đầu bằng việc từ bỏ hành động xấu, giống như người đồ tể biết vứt bỏ con dao vậy!

Bản thân mỗi con người cần có sự tự hoàn thiện mình. Phục thiện là tự giác chứ không phải là kết quả từ một sự trừng phạt. Nhân vật Mai Trừng của Hồ Anh Thái đã nói lên điều đó. Bốn chương đầu, Mai Trừng xuất hiện đầy bí hiểm như trong truyện truyền kỳ; về sau, theo quá trình thanh lọc tâm hồn của Đông, thân phận cô dần dần hiện rõ. Ở cô, ta bắt gặp hình ảnh của một thiên sứ giáng trần để tận diệt cái ác, mọi điều ác người ta định làm với cô đều bị trả giá. Về cuối truyện là hành trình Mai Trừng ngược lại quá khứ để hoá giải lời nguyền đầy thù hận của người mẹ để lại cho con gái trước khi chết, và linh hồn cha mẹ cô nơi núi rừng đã cho cô toại nguyện. Cô được trở lại cõi người như bao người bình thường khác. Cùng với sự sám hối thành công của Đông, việc Mai Trừng giải được lời nguyền cho thấy rằng nếu mỗi người đều có sự thanh lọc tâm hồn bỏ qua hận thù để trở về với điều thiện thì tự thân cái ác sẽ không còn. Trừng phạt chỉ là giải pháp. Cõi người sẽ bình an, không cần tới một Mai Trừng nếu ai cũng có một anh chàng Đông ở trong mình. Thiện hoá tâm hồn, thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn oán hận - trả thù - oán hận... bằng tình thương yêu là điều cần ở mỗi chúng ta. Như có lần Hồ Anh Thái đã viết trong một truyện ngắn trước đó: “Chỉ có tình thương mới diệt trừ được hờn oán. Lấy oán trả oán thì oán còn” (Chuyện cuộc đời Đức Phật).

Hồ Anh Thái quan niệm tiểu thuyết là một giấc mơ dài. Với Cõi nời rung chuông tận thế, anh đã mơ một giấc mơ dài trên nền tảng của xã hội hiện đại. Nhưng đây là giấc mơ có cơ sở để trở thành sự thực, bởi “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Lấy cảm hứng phục thiện làm chủ đạo, Hồ Anh Thái đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cõi người hãy thanh lọc hết hận thù, đừng để cái ác ngự trị trong tâm hồn, hãy biết bao dung và yêu thương đồng loại. Sám hối không bao giờ là quá muộn!

Con người là một thực thể toàn vẹn và sinh động, sống bằng cả lý trí và bản năng. Lý trí cho ta khát vọng vươn lên trong đời sống, còn bản năng luôn luôn trực chờ chỉ cần ta lơ đãng buông cương sẽ lồng lên như con ngựa bất kham. Hồ Anh Thái xem đấu tranh giữa lý trí với bản năng cũng là sự thể hiện ý chí khát khao hoàn thiện của con người. Văn xuôi của anh xuất hiện nhiều những người biết kìm hãm bản năng để theo đuổi ước mơ. Tiểu thuyết Ngưi đàn bà trên đảo (với cái tên của lần đầu ra mắt: Vót mãi một ngon roi) là minh hoạ sinh động cho quan niệm này. Ở đây, Hồ Anh Thái đã có cái nhìn rất rộng về hiện thực xã hội Việt Nam sau chiến tranh, trong khoảng giữa những năm 80, rồi lồng vào đó nhiều vấn đề có tính chất thời sự: khát vọng làm mẹ của các cô gái thanh niên xung phong, khát vọng vươn lên làm giàu cho đất nước của thanh niên thế hệ mới, đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến cuộc chiến đấu chống lại bản năng của con người, cụ thể là bản năng tính dục, nói như W.Karlin khi giới thiệu tiểu thuyết này ở Mỹ năm 2001 thì “Tính dục trong cuốn tiểu thuyết trở thành biểu tượng của tất cả những phức tạp lộn xộn của nhân cách, những ham muốn của con người không thể tuỳ tiện định nghĩa, chế ngự, hạ thấp, hoặc đơn giản hoá thành một lý tưởng trong sáng, cho dù lý trưởng đó là cách mạng, chiến tranh, công bằng xã hội hay thành tựu kinh doanh” [48;397]. Hoà là nhân vật được Hồ Anh Thái chọn để truyền đạt trọn vẹn chủ đề của tác phẩm này. Anh tiêu biểu cho thanh niên thế hệ mới, những người làm nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, đầy mơ ước và khát vọng làm giàu cho đất nước; thực hiện mơ ước ấy, Hoà hầu như đã từ bỏ mọi điều riêng tư của mình, hay đúng hơn là nén nó xuống tận những góc khuất cùng. Tuy nhiên, cực đoan sẽ dễ thành tai hoạ, Hồ Anh Thái quá hiểu điều đó khi bao bọc Ngưi đàn bà trên đảo bằng huyền thoại về nghĩa quân Tần Đắc, những người phải từ bỏ bản năng để sống chỉ cho một mục đích là giết giặc. Tường là chàng trai sống quá nghiêng về bản năng tự nhiên, là một “hoạ sĩ dâm đãng”, những bức tranh khoả thân anh vẽ chỉ là những hình vẽ đồi truỵ chứ chưa thể đạt đến nghệ thuật; tờ lịch treo trong phòng Tường luôn được đánh dấu các ngày giao hoan thích hợp để sinh trai hay gái. Hoà và Tường đã gặp nhau, Hoà cưu mang Tường. Cuộc sống hai người đã bổ sung cho nhau, Hoà nhận ra bản thân mình cũng có những phút trỗi dậy của bản năng, tiếng còi xe cấp cứu cùng tiếng vó ngựa của nghĩa quân Tần Đắc từ ngàn xưa vọng về là những cú nhấn cuối cùng để Tường nhận ra mình đã ngập chìm quá lâu trong bản năng đó. Đã đến lúc phải dừng lại. Cả Hoà và Tường cuối cùng đều ý thức được điều cần phải làm cho xã hội và cho cả bản thân mình, đều là những điều rất có ý nghĩa.

Trên đây là quan niệm con người vươn tới hoàn thiện trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Thực ra, ba biểu hiện đó được thể hiện khá thống nhất ở nhân vật của anh; bằng khát vọng chiến thắng bản năng người ta mới có thể lựa chọn được cái có ý nghĩa trong muôn vàn cái vô nghĩa của cuộc đời, có nhận thấy đâu là cái vô ích đâu là cái hữu ích thì người ta mới dần dần thanh lọc tâm hồn hướng về cái thiện mà loại trừ cái ác ra khỏi đời sống. Nói con người hoàn toàn có khả năng vươn tới sự hoàn thiện, bên cạnh việc “thả” nhân vật vào nhiều tình huống để nó trải nghiệm mà “ngộ” ra lẽ đúng sai, Hồ Anh Thái còn xây dựng trong tác phẩm nhiều mẫu chuẩn về nhân cách hoàn thiện để cho những người đang khao khát hoàn thiện soi vào. Đó là Đức Phật, người luôn thu phục lòng người bằng thiện tâm; đó là chú Chỉnh, tấm gương về việc chế ngự bản năng của Hoà và Hoà là tấm gương cho Tường cũng về vấn đề ấy (Người đàn bà trên đảo); hay như cô Hậu, em Mỵ là niềm tin, chỗ dựa cho hành trình tìm lại mình của Khắc (Người và xe chạy dưới ánh trăng);…

Bao trùm lên quan niệm về con người vươn tới hoàn thiện với kiểu nhân vật thức tỉnh là niềm tin rất lớn của Hồ Anh Thái đối với con người. Sai lầm ai cũng có thể mắc phải, khó mà tránh cho được, nhưng sai lầm mà được ý thức để sửa chữa mới là đáng quý. Chỉ có những con người ham muốn hoàn thiện mình mới làm được điều đó.



2.2. Con người bi kịch với kiểu nhân vật thân phận

Thời gian của mỗi kiếp người chỉ là một khoảnh khắc của thời gian vũ trụ. Chỉ một chút đó thôi cũng chất chứa bao nhiêu trầm luân khổ ải, dằng dặc buồn đau. Chỉ một khoảnh khắc đó mà mọi điều có thể xảy ra: sống – chết, buồn – vui, sướng – khổ,… Dám khẳng định rằng không ai không có những đau thương u uất của riêng mình, có khác nhau chăng là ở mức độ. Con người sống cùng với những bi kịch như một hiển nhiên. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Hồ Anh Thái đã nói: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để cho nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” [69]. Bi kịch của đời người cũng là một trong những vấn đề nhạy cảm đó. Hồ Anh Thái không ngần ngại đặt bút mổ xẻ bi kịch nhân sinh bằng cái nhìn chân thực nhất. Nói như nhà Phật, đời là bể khổ, sinh ra trên cõi đời là chịu nghiệp báo của kiếp trước đã là khổ, thì mỗi con người đều là một thân phận bi kịch. Trong văn xuôi Hồ Anh Thái có khá nhiều nhân vật thân phận. Đó là cách gọi của chúng tôi cho những con người mang bi kịch trong tác phẩm của nhà văn này.

Nói về Hồ Anh Thái trong những năm sống và sáng tác ở Ấn Độ, nhà văn Vũ Bão viết: “Anh không đứng xa nhìn vào từng mảnh đời với đôi mắt dửng dưng của một du khách. Anh hoà mình vào miền đất lạ, theo dõi mạch đời, lần tìm nỗi niềm của từng số phận khác nhau. Anh không chuộng lạ ghi chép những mảnh đời phương xa, anh đã suy nghĩ về lẽ đời…” [47;316]. Cách sống này đã khiến Hồ Anh Thái nhìn ra bi kịch của người Ấn bị phong toả trong lề thói tập tục cũ. Nhiều năm sống và viết trên đất Ấn Độ, cái nôi của Phật giáo, tưởng như đây phải là nơi con người được tắm mình trong những điều tốt đẹp nhất, sống trong thiện tâm của đồng loại. Nhưng không. Ấn Độ là đất Phật và Ấn Độ cũng là đất nước ngàn năm bám rễ của đạo Bà La Môn – một tôn giáo rất đề cao sự phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, tuổi tác và đặc biệt là phân biệt giới. Tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” của Nho giáo chưa là gì so với Ấn giáo. Vì có sự phân biệt giới cho nên người phụ nữ sinh ra trên đất Ấn phải sống trong biết bao tập tục khắc nghiệt, oan trái khổ đau, đến mức có thể hiểu: sinh ra một cô gái đồng nghĩa với việc sinh ra một bi kịch!

Phong tục, tập quán, tín ngưỡng đâu đâu cũng có, nó làm thành nét riêng cho mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng. Con người hiện đại sống trong vòng pháp luật nhưng cũng không thể sống bên ngoài vòng vây của phong tục. Có khi như vô thức. Vậy nhưng phong tục cũng mang nhiều hạn chế, biết thế nhưng con người muốn quẫy đạp, phá tung, rứt bỏ để thoát ly song rất khó, càng quẫy đạp càng bị thít chặt. Đạo Bà La Môn quy định con gái về nhà chồng phải có của hồi môn đem theo. Sinh ra một bé gái cũng đánh dấu một chặng đường cha mẹ vất vả làm lụng để dành của hồi môn. Bi kịch bắt đầu từ đó. Không ai muốn sinh bé gái. Truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tước là tiếng kêu đau xót của Hồ Anh Thái trước hiện tượng này. Truyện kể về bất hạnh của người phụ nữ Ấn Độ, kể về nỗi đau không được làm người của những bé gái sơ sinh. Câu chuyện đưa người đọc vào nhiều trường đoạn hãi hùng, đầy chết chóc. Nilam và các bé gái mới sinh là những thân phận trong xã hội ấy, những thân phận mang bi kịch của món hồi môn không thể kham nổi của nhiều gia đình nghèo khó. Nilam là cô gái sinh đẹp và trong sáng. Nhưng những bản chất ấy đã mất đi khi cô sinh con gái đầu lòng sau một đám cưới nhiều cay đắng vì khoản hồi môn chưa đầy đủ. Sinh con gái, cô bị nhà chồng ruồng bỏ. Từ thân phận đường cùng, cô trở thành người giải thoát cho những bé gái vừa mới cất tiếng khóc chào đời. Người ta lo sợ sinh con gái đến mức: “Các sản phụ giấu sẵn ở đầu giường một chai rượu. Sinh con trai người ta trả cho chị một món tiền nhỏ và biếu chị chai rượu mừng cháu. Sinh con gái người ta chỉ dúi cho chị chai rượu và nhờ mang đứa bé đi”. Và đau buồn thay, Nilam đã làm công việc này bằng nỗi thương đau đến mức vô hồn: “Có lần người ta quên mất thủ tục, kèm theo theo đứa bé gái và chai rượu còn đưa thêm mấy đồng rupi. Nilam dứt khoát trả lại, khi làm phúc có ai nhận tiền bao giờ”! Nilam coi hành động của mình là làm phúc, xã hội đó cũng chấp nhận như thế. Vậy những bé gái được giải thoát hay bị sát hại?

Rừng kim tước trong truyện ngắn này được Hồ Anh Thái dụng công thành một hình ảnh tượng trưng nhiều sức gợi đến thê thảm. Mỗi bé gái lìa đời được Nilam đánh dấu bằng một cây kim tước, “thấm thoát cả một quả đồi phủ đầy kim tước, mỗi cây là một trinh nữ được đưa về trời từ lúc lọt lòng mẹ… Cả một vùng đồi sáng bừng lên hắt ánh vàng rực xuống làng khiến cho những cánh đồng hoa cải chỉ còn là một màu vàng hấp him nhợt nhạt hết sức thiểu não”. Đó là ánh sáng của rừng kim tước hay là cái nhìn ai oán của những sinh linh bé bỏng không được làm người?

Đi khỏi thung lũng mới đến nhà lại là một bi kịch khác của người phụ nữ. Phong tục, tôn giáo có thể đưa một cô gái lên đến tột đỉnh vinh quang bằng địa vị nữ thần nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ cô như thứ bỏ đi khi không còn cần thiết, hay đúng hơn là không còn phù hợp với tập tục tín ngưỡng. Lúc đó, trở về với cuộc sống đời thường lại càng khó khăn hơn, bao nhiêu cạm bẫy rình rập, và nữa, vinh quang của những ngày là nữ thần đồng trinh giờ được thay bằng sự lạnh nhạt của gia đình, sự sợ hãi của người đời, không ai dám lấy nữ thần đồng trinh làm vợ vì như vậy sẽ bị chết trẻ! Sabana là bi kịch của nữ thần thất sủng trong một xã hội tôn thờ niềm tin tôn giáo như thế.

Phong tục, tôn giáo còn nuôi dưỡng trong con người niềm tin mù quáng, khiến người ta sống trong đó không thể thoát ra được. Theo cách nói của K.Pandey khi nhận xét về truyện ngắn viết về Ấn Độ của Hồ Anh Thái trên báo The Hindustan Times thì truyện ngắn Ngưi đứng một chân chính là “mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ” [47;321]. Ananda là sự kiên định mù quáng của kẻ mộ đạo, niềm tin vào thần quyền đưa anh vào cuộc đấu tranh dai dẳng và phải trả giá bằng cái chết – một nghịch lý của niềm tin. Cũng chính cái chết của Ananda lại đưa những người khác vào cái vòng luẩn quẩn ấy. Đúng như Hồ Anh Thái đã băn khoăn: “Triệu triệu ngôi đền trên cái đất Ấn Độ thừa thần thánh mà thiếu người sung túc này vẫn chưa đủ hay sao?” (Người đứng một chân). Đó là những con người chịu bi kịch của sự mê muội, kiểu như dân làng Choti “suốt đời quẩn quanh trong thung lũng, sinh con đẻ cái trong thung lũng, rồi chết luôn trong thung lũng… Chưa một lần họ vượt núi để ra khỏi thung lũng, ra với thế giới bên ngoài” (Đi khỏi thung lũng mới thấy nhà), cho dù bên ngoài đầy biến động, những thánh thần, những nhà chứa, những cuộc cách mạng vô bổ, nhưng không ai có thể vượt ra khỏi mà nhìn thấy đường chân trời.

Có điều, Hồ Anh Thái viết về bi kịch, về nỗi đau của người Ấn bằng cái nhìn sắc lạnh, trung thực không phải của một kẻ dửng dưng ngoài cuộc mà anh đã viết bằng cả tấm lòng tràn ngập tình thương, thế nên, qua mỗi thân phận, Hồ Anh Thái không chỉ thấy khổ đau mà anh còn tin tưởng để dựng lên trên nỗi đau đó một niềm tin, Hồ Anh Thái không chỉ xót thương mà luôn luôn hy vọng; như thể trận cuồng phong được góp bằng tiếng thở phào của tất cả những người đàn bà sinh con gái trong làng đã quật ngã rừng kim tước – “bằng chứng và dấu vết mà họ vẫn nơm nớp lo lắng bấy nay” - để vĩnh biệt một quá khứ cay đắng, tang thương và bi thảm; như thể Sabana tìm thấy cuộc sống của mình khi đi khỏi thung lũng và thấy “sang hẳn bên kia núi là đến một đồng bãi phì nhiêu. ở đó có đường chân trời…” (Đi khỏi thung lũng mới thấy nhà);…

Bi kịch của những người Ấn trong văn xuôi Hồ Anh Thái là bi kịch của xã hội lạc hậu lắm hủ tục. Bên cạnh đó, Hồ Anh Thái còn viết về những “bi kịch mới” – lời của Hồ Anh Thái trong một lần trả lời phỏng vấn [57] – tức là bi kịch của người Việt trong cuộc sống mới, cuộc sống sau chiến tranh và gần hơn là cuộc sống đương đại nhiều phức tạp.

Cũng như các nhà văn khác, Hồ Anh Thái quan tâm đến số phận của những người phụ nữ đi ra từ chiến tranh. Không chua xót đến mức như Người sót lại của rừng Cười (Võ Thị Hảo) hay Bến không chồng (Dương Hướng) nhưng những thân phận nữ của Hồ Anh Thái cũng đớn đau không kém. Hãy nghe anh viết trong Mảnh vỡ của đàn ông: “Người đàn bà goá là mảnh vỡ của người đàn ông đã mất. Người thì cam chịu số kiếp của một mảnh vỡ, âm thầm nơi riêng khuất, dù vẫn dai dẳng một ước mong tìm được những mảnh vỡ khác để hàn gắn lại. Người thì làm mảnh vỡ lăn lê ra đường đi lối lại mà đâm mà cứa vào những bàn chân may mắn, trả thù cho số phận hẩm hiu của mình”. Trong truyện ngắn này, Hồ Anh Thái tìm thấy rất nhiều “mảnh vỡ” như vậy ở cuộc sống. Đó là Tính luôn sống với hoài niệm, kỷ vật của người chồng đã mất và sống không thể lìa xa vật báu còn sót lại là người con trai duy nhất; đó là mẹ của Duyên, lúc nào cũng “muốn đè bẹp, muốn giẫm nát những gì đã làm cho mình bất hạnh”; đó còn là chị Thạch, suốt đời lao ra xã hội mà chắt chiu buôn bán để rồi cuối cùng thất vọng “không tin là ở đời có người tốt” và thấy mình là người bỏ đi…

Ở tiểu thuyết Ngưi đàn bà trên đảo, Hồ Anh Thái lại chú ý đến một bi kịch khác của người phụ nữ, đó là khát khao làm mẹ làm vợ đến cháy bỏng của những cô gái gần như bị lãng quên nơi lâm trường heo hút. Tác giả cho họ phát ngôn những lời táo tợn: “Tôi giữ thân cho ai nữa, trinh tiết cho ai, khi mà chỉ còn một mình cô đơn? Tập thể có thể làm cho tôi có ý chí, có thể làm cho tôi khuây khoả đôi chút, nhưng tập thể không thể cho tôi hạnh phúc riêng”. Cái “hạnh phúc riêng” ấy là khát vọng chính đáng của người phụ nữ nhưng không dễ dàng thực hiện được ở thời điểm đó, xã hội bấy giờ chưa cho phép phụ nữ có con ngoài giá thú, trong khi đội sản xuất số 5 “có ba mươi tám phụ nữ, tuổi từ hăm mốt đến bốn mươi tư, nhưng mỗi mình mình cô Thắm tốt số có chồng”! Đi vào khai thác bi kịch này, Hồ Anh Thái tâm sự: “Tôi mong rằng cuốn sách của mình sẽ có chút đóng góp cho công cuộc cải cách” [48;407]. “Cải cách” ở đây là thay đổi quan niệm có cho phép hay không người phụ nữ sinh con ngoài giá thú. Đến 1986, sau khi tiểu thuyết này ra đời một năm, điều luật mới đã cho phép điều này, người phụ nữ đã được sống với khát khao bấy lâu phải chịu đựng. Có chăng đóng góp của Hồ Anh Thái trong vấn đề này? Chắc là có!

Trên kia chúng tôi có nói đến con người khát vọng trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Đúng là văn xuôi Hồ Anh Thái đưa ra rất nhiều con người lắm ước mơ khát vọng, nhưng đồng thời tác giả cũng cho người đọc hiểu rằng không phải cứ có ước mơ khát vọng, cứ có năng lực, quyết tâm là có thể thực hiện được. Cuộc sống không dễ dàng như vậy. Hồ Anh Thái nhìn ra bi kịch của con người trong cuộc sống mới bị kìm hãm khát vọng ước mơ. Hai tiểu thuyết Ngưi đàn bà trên đảoNgười và xe chạy dưi ánh trăng xoáy vào bi kịch này. Hoà (Người đàn bà trên đảo), Toàn và Hiệp (Người và xe chạy dưới ánh trăng) ở một khía cạnh nào đó, họ là những thân phận bị kìm hãm ước mơ. Họ là những thanh niên trẻ tuổi, sinh ra trong chiến tranh và trưởng thành ở thời bình, ở họ ngập tràn ước mơ cống hiến cho đất nước bằng chính sức trẻ của mình. Vậy nhưng… Trong chiến tranh, Toàn đã mất đi những người thân yêu, mất cả sự hồn nhiên của tâm hồn tuổi trẻ, anh tưởng rằng mình sẽ không còn bị mất gì nữa nhưng anh đã bị thói ích kỷ, tham lam của những kẻ lãnh đạo hãnh tiến tước mất khát vọng được đi học ở nước ngoài. Anh cay đắng nhận ra rằng: “Con người ta ai mà chẳng muốn vươn tới, muốn đi về phía trước. Nhưng chỉ một chút trục trặc nhỏ... thế là phải chậm chễ, phải rớt lại đằng sau”. Hiệp, bạn thân của Toàn, lựa chọn một hướng đi khác để làm giàu cho đất nước là làm kinh tế theo hướng kinh doanh mới: xuất khẩu, nhưng cách làm hiệu quả của anh lại làm khó chịu những kẻ bảo thủ và chúng đã tìm cách giết anh, anh chết khi bao nhiêu dự định vì đất nước đang còn dở dang; Hoà trong Người đàn bà trên đảo cũng như Hiệp, anh muốn kinh doanh làm giàu trên vùng hải đảo heo hút nhưng những cái đầu quan liêu già cỗi thiếu phẩm chất vẫn là vật cản trên con đường anh đi. Chỉ ra bi kịch con người bị kìm hãm khát vọng, Hồ Anh Thái không chỉ vạch ra những nét xấu xa người ta dành để đối xử với nhau, thấy có người tiến bộ hơn mình là bực bội khó chịu, mà còn muốn cảnh báo rằng: hãy cẩn trọng, những kẻ “chọc gậy bánh xe” luôn nấp sẵn bên đường!

Xây dựng những nhân vật thân phận để nói về con người bi kịch, Hồ Anh Thái đã thể hiện rất sắc khả năng bao quát hiện thực xã hội, đồng thời bộc lộ rất sâu tấm lòng nhân ái của mình đối với con người. Sau mỗi câu mỗi chữ là cái đau đớn xót xa, là tình cảm của tác giả dành cho những thân phận đáng thương. Mà cuộc đời hỏi mấy ai không đáng thương?



1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương