Võ anh minh văn xuôi hồ anh thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con ngưỜi chuyên ngành: Lý luận văn học



tải về 1.78 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu29.10.2017
Kích1.78 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯNG ĐẠI HỌC VINH

------------------

ANH MINH

VĂN XUÔI HỒ ANH THÁI

NHÌN TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32
Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn

Ngưi hướng dẫn khoa học:

TS. Lê Văn Dương


Vinh - 2005

MỤC LỤC

Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3. Lịch sử vấn đề

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Đóng góp của luận văn

6. Cấu trúc luận văn

Chương 1. Quan niệm về con người và vai trò của nó đối với những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

1.1. Con người và quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

1.2. Những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người

Chương 2. Con ngưi trong văn xuôi Hồ Anh Thái và các kiểu nhân vật

2.1. Con người vươn tới sự hoàn thiện với kiểu nhân vật thức tỉnh

2.2. Con người bi kịch với kiểu nhân vật thân phận

2.3. Con người nhiều tật xấu với kiểu nhân vật tha hoá và kiểu nhân vật bi hài Chương 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và giọng điệu trần thuật của văn xuôi Hồ Anh Thái

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.1. Xây dựng nhân vật bằng chi tiết gợi bản chất

3.1.2. Xây dựng nhân vật qua tình huống có giá trị nhận thức

3.1.3. Sự độc đáo của tên nhân vật

3.2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

3.2.1. Cốt truyện vay mượn sự tích

3.2.2. Cốt truyện sinh hoạt – tâm lý

3.2.3. Cốt truyện kỳ ảo

3.2.4. Cốt truyện phân mảnh

3.3. Sự đan cài trong giọng điệu trần thuật



Kết luận

Tài liệu tham khảo



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người là tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm văn học. Cảm nhận tác phẩm chính là cảm nhận cái nhìn của tác giả về con người thể hiện trong tác phẩm. Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người còn được xem là nhân tố cơ bản, là xuất phát điểm cho mọi sáng tạo của nhà văn; các phương tiện, thủ pháp nghệ thuật được nhà văn sử dụng trong tác phẩm, từ xây dựng nhân vật, tổ chức kết cấu cốt truyện hay giọng điệu trần thuật,… đều chịu sự chi phối và góp phần thể hiện con người theo quan niệm của tác giả. Do vậy, xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người để tìm hiểu tác phẩm văn học nên được xem là một trong những biện pháp tối ưu để có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp sáng tác của mỗi nhà văn cũng như về một giai đoạn văn học.

1.2. Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đến nay đã có những bước chuyển mình rõ rệt cả về nội dung và hình thức. Khởi nguồn của vấn đề này phải kể đến hàng đầu là việc đổi mới cách nhìn nhận đánh giá về con người của nhà văn. Chọn một tác giả tiêu biểu, có đóng góp cho văn xuôi Việt Nam giai đoạn này để xem xét sáng tác của họ từ góc nhìn quan niệm nghệ thuật về con người thiết nghĩ cũng là việc làm có ý nghĩa.

1.3. Hồ Anh Thái thành danh khá sớm. 17 tuổi bước vào làng văn với truyện ngắn Bụi phấn gây ấn tượng cho những người biên tập bởi sự từng trải của nó, 24 tuổi đoạt giải thưởng văn xuôi 1983 - 1984 của báo Văn nghệ với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe, 26 tuổi nhận giải thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng,… Tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra (1987), Ngưi đàn bà trên đảo (1988), tập truyện Mảnh vỡ của đàn ông (1993),… là những tiếng vang anh tạo được tiếp liền sau đó. Bước sang những năm 2000, Hồ Anh Thái không ngừng làm mới mình bằng phong cách khác so với quãng thời gian trước, và tiếp tục gây dư luận bằng tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày (2001), đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng tác giả từ chối không nhận (!), đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế (2002) với những vấn đề cốt tử của đời sống con người, hay như tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười (2004), cùng một series các tác phẩm được tái bản. Cho đến nay, Hồ Anh Thái là tác giả của hơn 20 đầu sách bao gồm cả tiểu thuyết và truyện ngắn. Tác phẩm của anh, từ rất sớm, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và giới thiệu bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, cả châu Á, châu Âu, châu Mỹ – một trường hợp hiếm hoi của văn xuôi đương đại Việt Nam! Thậm chí có cả những tác phẩm được giới thiệu ở nước ngoài trước khi đến với bạn đọc trong nước, đó là chùm truyện ngắn viết về Ấn Độ trong những năm Hồ Anh Thái học tập và công tác trên đất nước Gandhi. Một vài thống kê trên đây đủ để khẳng định Hồ Anh Thái là nhà văn có thành tựu. Anh là một trong số không nhiều những cây bút xuất hiện sớm và để lại dấu ấn trong văn xuôi đương đại Việt Nam. Tác phẩm của anh tái hiện nhiều kiếp người, cảnh người trong nhiều thời điểm nhiều tình huống để qua đó nói lên cảm nhận sâu sắc về nhân sinh. Hơn nữa, Hồ Anh Thái là người có nhiều tìm tòi cách tân thể loại nhằm tạo sự phù hợp, hiệu quả trong thể hiện con người theo cảm quan của mình. Nêu vấn đề “Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người” thiết nghĩ cũng là việc làm phù hợp với một tác giả ngày càng thu hút được chú ý của dư luận song chưa được đánh giá toàn diện như nhà văn Hồ Anh Thái.

(Nhân đây cũng xin nói rõ hơn về tên đề tài: Về mặt phương pháp, đặt vấn đề “Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người”, không có nghĩa là xem xét văn xuôi Hồ Anh Thái từ quan niệm về con người một cách chung chung hay quan niệm về con người của một ai khác, mà chúng tôi lấy ngay quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Hồ Anh Thái, xem đó là điểm nhìn để tìm hiểu tác phẩm của chính nhà văn này. Tương tự như vậy, ở chương 1 cũng là một vài thành tựu cách tân nghệ thuật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi giai đoạn này).

2. Đi tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

Lấy văn xuôi Hồ Anh Thái, gồm tiểu thuyết và truyện ngắn, làm đối tượng nghiên cứu, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học nói chung và vai trò của quan niệm nghệ thuật về con người đối với những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975.

- Tìm hiểu con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái.

- Lấy quan niệm về con người của văn xuôi Hồ Anh Thái làm điểm tựa để đi sâu tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật được Hồ Anh Thái sử dụng nhằm tái hiện con người trong tác phẩm của anh.

3. Lịch sử vấn đ

3.1. Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm tương đối ổn định trong cách hiểu. Về cơ bản, “Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu như là các nguyên tắc cắt nghĩa về con người bằng các phương tiện nghệ thuật, phản ánh giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời, phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật” [24;8].

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù của thi pháp học. Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ XX, vận dụng thi pháp học trong nghiên cứu văn học trở thành khuynh hướng chủ đạo, mang lại những kiến giải mới mẻ và thực sự có cơ sở. Tính đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu văn học từ góc độ quan niệm nghệ thuật về con người, chẳng hạn: “Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” [67] của Lê Thị Dục Tú, hay gần đây là “Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945-1975” của Phùng Ngọc Kiếm [24],… và rất nhiều tiểu mục bàn đến quan niệm nghệ thuật về con người trong các công trình nghiên cứu thi pháp tác giả, như: thi pháp thơ Tố Hữu, thi pháp Truyện Kiều,… Như vậy đủ để khẳng định tìm hiểu văn học từ quan niệm nghệ thuật về con người không phải là một hướng đi mới, nhưng là một hướng đi có nhiều ưu thế.

3.2. Sáng tác của Hồ Anh Thái tuy không tạo sự ồn ào như một vài hiện tượng khác của văn xuôi đương đại Việt Nam nhưng nó đã thực sự thu hút được dư luận, cả trong và ngoài nước. Song, theo những gì mà chúng tôi tiếp cận được, việc nghiên cứu tác phẩm của nhà văn này lâu nay chỉ dừng lại ở dạng bài viết cho từng tập truyện, từng tiểu thuyết, hay từng truyện ngắn và nhìn chung, những đánh giá đó thiên về việc phát biểu cảm xúc của người viết trước vấn đề mà Hồ Anh Thái đặt ra trong tác phẩm của anh. Chẳng hạn:

Về những truyện ngắn Hồ Anh Thái viết về Ấn Độ, nhà văn Ngô Thị Kim Cúc viết: “Hành trình đi vào những thân phận người bất hạnh luôn đưa tới những tiếng thở dài sâu tận bên trong, nhất là khi trong những hình ảnh được phản chiếu kia dường như thấp thoáng gương mặt của chính mình, gương mặt Việt Nam (…). Dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái, những chân dung Ấn Độ hiện lên sắc nét và gần gũi khiến ta ngạc nhiên” [47;318 – 319],… Nhưng xem ra nhận xét của tiến sĩ văn học người ấn K. Pandey là “kinh điển” hơn cả: “Những dòng chữ của Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt tính cách Ấn Độ” [47;322].

Các tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, Trong sương hồng hiện ra, hay Ngưi đàn bà trên đảo cũng có được nhiều cảm nhận kiểu này.

Về tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, một bức phù điêu bằng chữ đắp nổi gương mặt của những anh công chức, có khá nhiều lời bình luận, nhà văn Vũ Bão viết: “Nhà văn đã đưa người đọc lần lượt qua 11 ngưỡng cửa của cuộc đời, quan sát rồi suy ngẫm về thân phận anh viên chức đang cố trườn mình ngoi lên từng nấc thang danh vọng. Đáng buồn hơn nữa khi càng ngày càng nhìn rõ những gương mặt quen thuộc trong trang sách lại là những trí thức thường mạo nhận là tinh hoa của đất nước” [53;241],…

Với tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái thực sự đã tạo nên làn sóng trong đời sống văn học. NXB Đà Nẵng, nơi nhiệt tình đón nhận tác phẩm này đã có lời giới thiệu như sau: “Với tác phẩm này, lại một vấn đề của con người – nhân loại được đề cập: Thiện - ác. Tác giả chọn cách đứng trên cỗ xe của cái ác: gần gũi, tòng phạm, hoá thân của cái ác… nên đã chỉ ra căn nguyên sâu xa hình thành cái ác… Sự cảnh báo nghiêm khắc là cần thiết, bởi nếu cỗ xe chở điều ác còn mù quáng lăn bánh, còn gây ra thù hận chồng chất, thì cuộc sống, nhân loại sẽ rơi vào thảm cảnh. Rung một tiếng chuông cảnh báo, liệu có chậm không?… Có thể nói tác phẩm đã góp một tiếng nói đầy tâm huyết, trăn trở, cùng ý nghĩa cảnh báo cần được nhìn nhận, mổ xẻ nghiêm túc”[50;5– 6]. Xung quanh tác phẩm này có hàng loạt bài viết, xoay quanh các vấn đề như chủ đề thiện ác, giọng điệu đa thanh, nhân vật xưng tôi, màu sắc huyền ảo, tính chất luận đề,…

Bên cạnh đó cũng có một vài bài viết đi sâu hơn vào nghệ thuật văn xuôi của Hồ Anh Thái. Tiêu biểu trong số đó là Nguyễn Đăng Điệp khi nhìn thấy một “Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc” [50;345]. Đây là bài viết có nhiều đánh giá trúng, có ý nghĩa gợi mở cho những ai quan tâm tìm hiểu văn xuôi Hồ Anh Thái. Trước đây, Nguyễn Đăng Điệp đã từng đánh giá về Hồ Anh Thái: “Sức hút của văn phong Hồ Anh Thái còn nằm ở chỗ anh biết phủ lên thế giới nghệ thuật của mình những màu sắc tượng trưng, siêu thực và gắn với nó là khả năng tổ chức nhiều kiểu giọng điệu khác nhau: khi hài hước châm biếm, khi lạnh lùng soi xét, khi u uất trĩu buồn… Vượt qua lối miêu tả hiện thực giản đơn, Hồ Anh Thái đã tạo được nhiều biểu tượng, nhiều ẩn dụ nghệ thuật giàu sức gợi. Cũng bởi thế, văn anh có độ mở, gây được dư âm lâu dài trong lòng người đọc” [47;338]. Đến bài viết này, nhận xét ấy như được cụ thể hơn, với lý giải “hình dung cuộc sống như những mảnh vỡ”, “trước một hiện thực đa dạng như thế, giữ nguyên một chất giọng sẽ có cơ làm mòn cảm hứng và thu hẹp khả năng bay lượn của trí tưởng tượng”, Nguyễn Đăng Điệp đề cập đến sự đa dạng và hiện tượng đan cài trong giọng điệu Hồ Anh Thái và hướng tới tính đa cấu trúc trong tác phẩm của nhà văn này: “Xuất phát từ quan niệm coi cuộc đời như những mảnh vỡ, bản thân mỗi một con người lại mang những mảnh vỡ, những xung lực khác nhau trong trăm ngàn mảnh vỡ kia đã trở thành nét chính trong quan niệm về cuộc sống của Hồ Anh Thái. Chính quan niệm này sẽ tạo nên tính đa cấu trúc trong các tác phẩm của anh” [50;350]. Mặc dù không hoàn toàn nhất trí với cách hiểu này của Nguyễn Đăng Điệp, song chũng tôi cũng nhận thấy ở đây phương pháp lấy quan niệm nghệ thuật về con người để lý giải nghệ thuật văn chương mà tác giả bài viết đã sử dụng, mặc dù nó cũng chưa thực sự rõ nét.

Khó có thể điểm hết ra đây những bài viết về văn xuôi Hồ Anh Thái, nhưng qua những gì được tiếp cận, chúng tôi chắc chắn được hai điều: Thứ nhất, chưa có công trình nào nghiên cứu văn xuôi Hồ Anh Thái một cách toàn diện, hệ thống. Thứ hai, chưa có công trình nào nghiên cứu văn xuôi Hồ Anh Thái từ quan niệm nghệ thuật về con người.

Trước thực tế đó, xem xét văn xuôi Hồ Anh Thái từ quan niệm con người có thể xem là bước đi ban đầu hợp lý, hướng tới việc thẩm định một cách toàn diện thế giới nghệ thuật văn xuôi của tác giả này.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiến hành, luận văn sử dụng một số phương pháp: Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích, chứng minh,…



5. Đóng góp của luận văn

Đây là lần đầu tiên văn xuôi Hồ Anh Thái được xem xét tương đối hoàn chỉnh. Khẳng định quan niệm về con người là nhân tố có vai trò quan trọng trong sáng tác văn chương, lấy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái làm điểm tựa nghiên cứu, luận văn không chỉ tìm hiểu con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái, hơn nữa còn lấy đó làm xuất phát điểm lý giải các biện pháp cũng như phương tiện nghệ thuật được Hồ Anh Thái sử dụng để tạo dựng con người trong tác phẩm. Qua đó có cái nhìn bao quát cả về nội dung và hình thức của văn xuôi Hồ Anh Thái.



6. Cấu trúc của luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ đề ra, ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn triển khai trên 3 chương:

- Chương 1. Quan niệm về con người và vai trò của nó đối với những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975.

- Chương 2. Con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái và các kiểu nhân vật.

- Chương 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện và giọng điệu trần thuật của văn xuôi Hồ Anh Thái.

Chương 1.

Quan niệm về con người và vai trò của nó đối với những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
1.1. Con người và quan niệm nghệ thuật về con ngưi trong văn học

1.1.1. Đối tượng của văn học là gì? Đứng ở vị trí trung tâm của văn học là vấn đề nào? Sau nhiều bàn luận, câu trả lời khái quát nhất và chính xác nhất là: Con người.

Không có ranh giới nào được đem ra làm hạn định cho phạm vi phản ánh của tác phẩm văn học. Với đặc thù nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng dung chứa thật nhiều những phạm vi của tự nhiên, xã hội, khả năng diễn đạt tư duy của con người. Nhưng phản ánh gì đi nữa cũng chỉ để thể hiện cái nhìn của tác giả về con người. Phạm vi phản ánh đó có thể là toàn bộ thế giới khách quan, song phải là thế giới khách quan được nhìn nhận trên bình diện các quan hệ đời sống của con người. Nhà văn nhận thức về hiện thực đời sống trong mối quan hệ với con người, lấy con người làm phương tiện để đánh giá hiện thực và qua đánh giá hiện thực nhằm mục đích tìm hiểu con người. Như vậy, con người là đối tượng đặc trưng nhất và luôn giữ vị trí trung tâm trong sáng tác văn học của mọi thời đại.

Lấy con người làm đối tượng phản ánh, khác với các khoa học khác, văn học không chia nhỏ con người ra theo từng tiêu chí để “nghiên cứu” trong những vùng kiến thức, vượt lên trên điều đó, văn học nhìn con người trong “tính chất tổng hợp và toàn vẹn của cuộc sống mà nhà văn tái hiện với tất cả bộ mặt cụ thể – cảm tính, cá biệt” [17;107]. Thật vậy, con người trong sáng tác văn học không hoàn toàn trùng khít với con người ngoài cuộc đời, nó vừa phải là con người của đời sống nhưng đồng thời phải cao hơn con người của đời sống; con người ngoài cuộc đời luôn tồn tại ở dạng thô mộc nhất, đa dạng nhất để khi vào tác phẩm sẽ chuyển hoá thành con người dưới cấp độ hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật, cụ thể là hình tượng con người, là sự tái hiện có chọn lọc từ con người ngoài đời sống thông qua sáng tạo của nhà văn để sao cho “vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt, không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ” [17;123].

“Quan niệm”, theo Từ điển tiếng Việt, là “hiểu, nhận thức thế nào đó về một vấn đề” [68;800]; theo Từ điển Bách khoa triết học, là “cách hiểu, cách cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó” [44;127]. Vậy, có thể xem “Quan niệm” là cách nhận thức của chủ thể đối với khách thể.

Quan niệm của nghệ sĩ - đó là cái không thể thiếu khi soi chiếu con người từ đời sống vào tác phẩm, cho dù nó có được nhà văn ý thức rõ ràng hay không khi sáng tác đi chăng nữa. Con người vừa là đối tượng vừa là vấn đề trung tâm của văn học, cho nên tác phẩm kể chuyện là kể chuyện về con người trong cách hiểu và cảm nhận của người kể; do đó, sau mỗi chuyện người đọc bao giờ cũng bắt gặp một quan niệm, ít nhất là quan niệm của người kể. Đó là một hiển nhiên. Nhà văn không thể đưa con người vào tác phẩm mà không gắn theo đó một cách hiểu của riêng mình, không xem đó là phương tiện để chuyển tải quan niệm của mình về cuộc đời. Từ đó, ngẫm cho cùng, “con người trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con người được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong các bình diện con người được miêu tả, trong các hệ thống các hình ảnh tượng trưng, trong tương quan với không gian, thời gian và trong các nguyên tắc miêu tả tính cách, tâm lý… Người ta gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con người” [30;44].

1.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm tương đối thống nhất trong cách hiểu, mặc dù không có một diễn đạt chung nhất. Trần Đình Sử trong sách Dẫn luận thi pháp học đã viết: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật” [43;41]. Cũng Trần Đình Sử, trong sách khác lại viết: “Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mĩ về con người nằm ẩn sâu trong cách miêu tả, thể hiện, chứng tỏ chiều sâu chiếm lĩnh con người của tác phẩm” [42;41].

Căn cứ vào đó, ta có thể hiểu: Quan niệm nghệ thuật về con người là các nguyên tắc, các cách của mỗi nhà văn trong quá trình nhìn nhận, phát hiện, đánh giá và miêu tả con người thông qua các phương tiện nghệ thuật trong tác phẩm văn học.

Cũng cần phải nói ngay rằng, quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm của lý luận văn học hiện đại. Trước khi có nó, nhà văn vẫn sáng tác với những quan niệm của riêng mình, và tác phẩm vẫn là những cảm nhận đánh giá của họ về đời sống con người; những cách cảm nhận, cách hiểu ấy về con người vẫn chi phối đến sự sáng tạo của họ, chỉ có điều họ chưa biết, chưa xem, chưa gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con người mà thôi. Đến khi quan niệm nghệ thuật về con người đã được đúc rút thành lý thuyết, chưa hẳn tất cả các nhà văn đều định hình được cho mình một quan niệm, một cách hiểu về con người lúc sáng tác. Nhưng, dù trước hay sau khi có khái niệm, dù được ý thức rõ hay không được ý thức ở nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người vẫn là cái không thể thiếu và có vai trò quan trọng khi sáng tạo tác phẩm văn chương.

1.1.3. Tác phẩm văn học, nếu đơn thuần chỉ là sự sao chép sẽ không khác gì một cuốn tư liệu, thậm chí là một cuốn tư liệu tồi, bởi đã có các ngành khoa học khác đảm nhận công việc làm tư liệu xã hội tốt hơn văn học. Để xây dựng được thế giới nghệ thuật phù hợp với ý đồ của mình, nhà văn cần phải sáng tạo, cần phải tổ chức tác phẩm thành một chỉnh thể sao cho phù hợp với cách hình dung, cảm nhận của mình về con người và cuộc đời. Làm được điều này cũng có nghĩa nhà văn đã thể hiện qua các thành tố của tác phẩm một quan niệm, và tác phẩm trở thành nơi thể hiện quan niệm, chịu sự chi phối của quan niệm ấy.

I.Êrêmin từng viết: “Con người trong sự miêu tả của nhà văn là một trong những trung tâm điểm từ đấy toả ra các sợi dây chi phối cơ chế nghệ thuật của tác giả. Là một tiêu điểm mà qua đó phong cách nhà văn được thể hiện sáng rõ hơn bao giờ hết (…). Và cũng chính những nguyên tắc miêu tả con người ấy đã cung cấp chìa khoá để giúp ta hiểu được phương pháp sáng tạo của nhà nghệ sĩ” [67;14]. Đây là nhận xét chính xác và rất có ý nghĩa về mặt phương pháp đối với việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học.

Thứ nhất, quan niệm nghệ thuật về con người đóng vai trò quan trọng như là điểm tựa của sáng tạo văn học. Mọi sáng tạo đều bắt nguồn từ quan niệm và vì quan niệm. Thật vậy, Trần Đình Sử khi bàn về khái niệm “Quan niệm nghệ thuật” (là giới hạn rộng hơn nhưng gắn bó chặt chẽ với khái niệm Quan niệm nghệ thuật về con người) đã khẳng định: “Quan niệm” xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về sự quy chiếu, thể hiện tầm lý giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra sự chọn lựa, khái quát, nhào nặn tạo ra hình tượng nghệ thuật” [44;124]. Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người là “thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lý giải của con người” [44;126].

Trong một bài viết gần đây, Bùi Việt Thắng đặt ra vấn đề tìm tứ cho truyện ngắn, bởi “cấu tứ (hay tứ) chính là linh hồn của tác phẩm, tạo nên một thế đứng, thế nhìn và các cảm nhận của đời sống của nhà văn: cấu tứ là mô hình của tác phẩm, là quan niệm về thế giới và con người của nó” [59]. Qua đây thấy rằng, không riêng gì thơ, một truyện ngắn hay phải cần có tứ, và cái tứ đó không gì khác ngoài vấn đề đời sống, nó là cái nhìn là quan niệm của nhà văn về con người và cuộc đời được thể hiện một cách ấn tượng trong tác phẩm. Bùi Việt Thắng có điểm ra trong bài viết tứ của một số truyện ngắn, chẳng hạn: “Mỗi con người là một nốt nhạc. Mỗi nốt nhạc tuy có độ cao thấp khác nhau nhưng đều có giá trị riêng không thể đánh đổi” (Về truyện ngắn “Những nốt nhạc còn xanh” của Đỗ Tiến Thụy trên Văn nghệ quân đội, số 619, tháng 4-2005),… Chúng tôi nhận thấy rằng cái mà tác giả bài viết gọi là tứ không gì khác chính là quan niệm về con người của nhà văn. Như vậy, không có nhà văn nào sáng tác mà lại không có quan niệm nghệ thuật của riêng mình, chỉ có điều quan niệm ấy có được ý thức một cách nghiêm túc hay không mà thôi.

Trong tương quan với các thành tố còn lại của tác phẩm, quan niệm nghệ thuật về con người như là hạt nhân, quy định các thủ pháp nghệ thuật mà nhà văn chọn lựa để tổ chức tác phẩm, như cách tạo dựng nhân vật, xây dựng kết cấu cốt truyện, lựa chọn giọng điệu trần thuật… Bởi xét đến cùng, mọi trăn trở của nhà văn đều hướng đến con người, chiếm lĩnh và tái hiện con người trên toàn bộ cấu trúc của tác phẩm chứ không riêng ở một thành tố nào. Chẳng hạn, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mở ra cho độc giả cảm nhận về kiểu người không hoàn thiện của tác giả này. Không khó khăn gì để rút ra điều đó khi mà nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp thường là những người méo mó, khuyết tật về hình thể, như Lài trong ớng về hưu, Cún trong truyện ngắn cùng tên, Tốn trong Không có vua,…; hoặc là những người tha hoá về nhân cách, như Thuỷ (Tướng về hưu) kiếm tiền một cách tàn nhẫn với bộ mặt dửng dưng, hay như các nhân vật trong Không có vua, gia đình một người bố với 5 đứa con trai không biết họ cố kết với nhau bằng gì mà bố thì luôn miệng chửi rủa con, anh em tính toán với nhau từng đồng tiền, em chồng chỉ chăm chăm quấy rối tình dục chị dâu… và chuyện sống chết của ông bố được đưa ra bàn luận như biểu quyết bình bầu: “Ai đồng ý bố chết giơ tay…”; đặc biệt xuất hiện nhiều kiểu người ôm chứa nhiều khát vọng, xem đời mình là cuộc kiếm tìm không ngơi nghỉ, như Chương trong Con gái thuỷ thần, Nhâm trong Thương nh đồng quê,… Từ quan niệm về con người như vậy, kết cấu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường là kết cấu mở với nhiều kết thúc bỏ ngỏ, tạo nhiều khoảng trống như một băn khoăn khó khoả lấp khi tác giả để cho nhân vật về cuối truyện đứng trước những trước cuộc hành trình vào nơi vô định: “Chúng tôi cứ đi trên cái cầu vồng bảy sắc… Chúng tôi cứ đi, đi mãi… Tôi biết chắc chắn ở trước mặt tôi là cổng Trời, là cổng Thiên đường…” (Những người thợ xẻ); “Tôi cứ đi, đi mãi… Trước mặt tôi là dòng sông thao thiết. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng” (Con gái thuỷ thần); hay: “Tôi cứ đi, đi mãi. Mặt trời bao giờ cũng trước mặt tôi” (Những bài học nông thôn);… Những kết cấu kiểu này được thể hiện theo sự “chỉ đạo” của tác giả nhằm hướng tới thể hiện rằng con người là những thực thể không toàn vẹn và khó có thể hoàn thiện, cả về hình thức lẫn tâm hồn. Qua ví dụ trên đây, quả thực “Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật” [43;44].

Thứ hai, quan niệm nghệ thuật về con người quy định mức độ sâu sắc của phản ánh cũng như giải quyết đề tài, chủ đề mà tác phẩm nêu lên, do vậy nó cũng giữ vai trò quan trọng trong tiếp nhận tác phẩm văn học. I.Êrêmin đã nói, “chính những nguyên tắc miêu tả con người ấy đã cung cấp chìa khoá để giúp ta hiểu được phương pháp sáng tạo của nhà nghệ sĩ”. Có nghĩa quan niệm nghệ thuật về con người như là điểm tựa, là đường dẫn, là lối vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Với tư cách là giới hạn của tư duy nghệ thuật, giới hạn của cái phản ánh (là tác phẩm) và cái được phản ánh (là hiện thực cuộc sống), quan niệm nghệ thuật về con người “là cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của sáng tác nghệ thuật” [42;126]. Thật vậy, trên cơ sở quan niệm nghệ thuật về con người của một tác giả hay một giai đoạn văn học, người tiếp nhận có thể nắm bắt và lý giải tác phẩm trong sự đảm bảo của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức; có thể khám phá con người trong bề sâu của sự miêu tả thông qua hình tượng nghệ thuật, đồng thời cũng khám phá được những nguyên tắc thẩm mỹ chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng tác phẩm thành một thế giới nghệ thuật hoàn chỉnh. Trở lại ví dụ trên kia về một trong những quan niệm con người nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy chính quan niệm về con người không hoàn thiện đã quy định việc tác giả xây dựng kiểu nhân vật méo mó dị dạng, thiếu hụt từ thể xác cho tới tinh thần, quy định cách tổ chức tác phẩm rất thường gặp là kiểu kết cấu mở,… Và như hai mặt của một vấn đề, chính những dấu hiệu về nhân vật, kết cấu,… đó sẽ là nơi thể hiện cho quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn.

Vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là nhân tố quan trọng, nó vừa chi phối sự sáng tạo của nhà văn, vừa chi phối sự tiếp nhận của độc giả.

1.2. Những cách tân nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 nhìn từ quan niệm nghệ thuật về con người

Để tìm hiểu văn xuôi Hồ Anh Thái từ vấn đề quan niệm con người, thiết nghĩ trước hết nên có cái nhìn khái quát về văn xuôi Việt Nam sau 1975 để thấy được việc thay đổi trong cách nhìn con người của nhà văn đã có tác động sâu sắc như thế nào đến nghệ thuật văn xuôi. Qua đó, phần nào phác thảo nên diện mạo văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay, xem đấy là “khí quyển”, là “môi trường” mà văn xuôi Hồ Anh Thái đã hình thành và phát triển. Như vậy sẽ thấy được cái chung cũng như cái riêng của văn xuôi Hồ Anh Thái trong dòng chảy của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Chúng ta từng nghe quen câu nói của một tác giả người Đức J.Bêsơ: “Một nền văn học mới bao giờ cũng ra đời cùng lúc với con người mới” [24;3]. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, con người và thời đại có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó con người giữ vai trò chủ thể; thời đại mới sẽ xuất hiện khi con người mới xuất hiện; cũng như vậy, một nền văn học mới, một thời kỳ văn học mới sẽ ra đời khi “con người mới” ra đời. “Con người mới” ở đây nên hiểu không chỉ là chủ thể sáng tạo mới, hiện đại so với chủ thể sáng tạo cũ – con người cũ, mà cần hiểu thêm rằng “con người mới” còn là cách cảm nhận lý giải mới về con người, tức là xuất hiện quan niệm mới về con người so với trước đó. Có nghĩa là ở những thời điểm khác nhau, quan niệm nghệ thuật mới về con người sẽ là động lực bên trong thúc đẩy văn học chuyển mình; và dĩ nhiên, giai đoạn sau bao giờ cũng tiến bộ hơn, sâu sắc hơn giai đoạn trước đó trong cái nhìn về vấn đề con người. Lịch sử văn học đã chứng minh tính hợp lý của nhận định trên.

Chiến thắng 1975 được xem là dấu mốc chấm dứt giai đoạn chiến tranh vệ quốc triền miên, mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc và đồng thời cũng mở ra một chặng đường mới cho văn học Việt Nam. Hoàn cảnh đó đã đưa lại nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đổi thay quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam, điển hình là trong sáng tác văn xuôi.

Chiến tranh kết thúc đưa lại cuộc sống hòa bình, và rất nhanh, người ta nhận thấy ngay rằng đời sống hoà bình phức tạp hơn nhiều đời sống trong chiến tranh, chiến tranh ác liệt nhưng đơn giản trong các mối quan hệ. Chiến tranh đòi hỏi chủ nghĩa anh hùng, nghĩa là con người phải sống phi thường, cao cả; khi đó, bao nhiêu cái thường tình, bao nhiêu quan hệ cá nhân bình thường, phong phú, phức tạp đều bị cái phi thường ấy triệt tiêu hay đẩy rất xa về phía sau. Mọi quan hệ xã hội và con người thời chiến đều tập trung lại ở mối quan hệ duy nhất là sống – chết vì Tổ quốc, dân tộc. Khi đã xác định rõ như vậy, đắm mình trong mối quan hệ đó, con người ta sẽ cảm thấy cuộc sống thật đơn giản, cái người ta quan tâm là sống – chết sao cho xứng đáng với đất nước, với cộng đồng chứ không phải là cá nhân mình, do đó, mọi cái nhỏ nhen phức tạp trong đời sống hàng ngày đều khuất lấp vào trong thẳm sâu của lòng người, nếu như có nhen nhóm thì cũng bị ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy. Đời sống hoà bình thì khác hẳn. Hoà bình, con người phải đối mặt với chính mình, với chính cộng đồng mình, dân tộc mình chứ không phải đối diện với kẻ thù như trong cuộc chiến. Giờ đây, tất cả những gì bị chiến tranh vùi lấp được khơi dậy, con người lại sống trong tất cả những tốt đẹp, cao cả, thuần khiết trộn lẫn với những hẹp hòi, ích kỷ, đê hèn; cái tốt và cái xấu không còn rạch ròi mà nó đồng thời có mặt, ẩn chìm khuất lấp trong từng cá nhân… Nói chung, một cuộc sống hỗn tạp với muôn mặt đời thường, đích thực là cuộc sống đang bao bọc con người, và sự bỡ ngỡ của những người đi ra từ cuộc chiến như Hai Hùng của Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng), như ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu), hay như việc khó hoà nhập ở Vạn của Dương Hướng (Bến không chồng),… trước cuộc sống mới là hoàn toàn dễ hiểu. Bối cảnh xã hội đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, đòi hỏi được quan tâm, được khẳng định ở mỗi người. Điều này đã mở ra cho văn học những khám phá mới về con người cũng như các phương thức thể hiện.

Đổi mới của văn học sẽ khó thành hiện thực nếu không có sự hậu thuẫn có tính chất quyết định là xu hướng dân chủ hoá. Sau 1975, đặc biệt từ giữa những năm 80 trở lại, dân chủ hoá là xu thế lớn nhất của xã hội và đời sống tinh thần con người và nó cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm văn học Việt Nam. Xu hướng này được cụ thể trong đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng, sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và nâng cao trình độ quản lý văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới”, và trong cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện văn nghệ sĩ Việt Nam tại Hà Nội vào tháng 10 – 1987; tất cả những điều đó tạo thành luồng gió mát thổi vào đời sống văn học nghệ thuật nước ta, mở ra thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trên tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật”, tạo tiền đề tư tưởng cho xu hướng dân chủ hoá trong văn học được khơi thông và phát triển mạnh mẽ. Phải nói rằng, “tự do sáng tác” đã trở thành sức mạnh kích thích sự sáng tạo của nhà văn rất lớn, tình trạng như Nguyễn Minh Châu nói: “Viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh” đến nay đã không còn, đề tài được mở rộng không bị trói trong yêu cầu “tất cả vì tiền tuyến” như trước mà bao trùm tất cả lĩnh vực, từng ngõ ngách của đời sống. Chiến tranh cũng được nhìn nhận lại tới tận những góc khuất của nó. Chiến tranh trong văn xuôi lúc này không chỉ là mặt phải của tấm huân chương, rực rỡ và tươi sáng mà còn là mặt trái của nó với nhiều xù xì, góc cạnh, và chủ yếu được nhìn nhận từ số phận cá nhân, vấn đề cá nhân; trong số những đại diện tiêu biểu phải kể đến Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, hay Người sót lại của rừng Cười của Võ Thị Hảo,… Tinh thần dân chủ cũng đã cho nhà văn tư thế mới, là người phát ngôn cho ý thức xã hội nhưng dưới góc độ cá nhân, bằng tiếng nói của cá nhân mình, và tác phẩm văn học trở thành phương tiện tự biểu hiện, là nói nhà văn phát biểu tư tưởng, quan niệm của mình về xã hội và con người.

Có thể kể thêm một số điều kiện thuận lợi nữa, như: sự đổi mới trong đánh giá về vai trò, chức năng của văn học, về quan hệ giữa văn học và hiện thực, hay những tác phẩm văn học phương Tây (không kể văn học cổ điển châu Âu đã được giới thiệu từ trước) được dịch và giới thiệu rộng khắp,… cũng đưa lại cho văn học nhiều ảnh hưởng tích cực. Song chúng tôi vẫn cho rằng sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong đời sống mới và xu hướng dân chủ hoá trong sáng tác văn học là hai nhân tố chính đưa lại sự thay đổi về cách đánh giá và thể hiện con người của nhà văn; từ đó kéo theo sự thay đổi từ đề tài, chủ đề, kết cấu cốt truyện, nhân vật, cho đến ngôn ngữ, giọng điệu, cũng như xuất hiện một số thủ pháp nghệ thuật khác.

Văn xuôi giai đoạn 1945–1975 chịu sự chi phối của chiến tranh, chiến tranh như trở thành thi pháp quy định cái nhìn về con người trong tác phẩm thời kỳ này. Từ đó, văn xuôi 1945–1975 chú ý đến con người tập thể, con người cộng đồng; con người này sống, sinh hoạt trong tập thể trong cộng đồng, họ tìm thấy ý nghĩa của mình khi gắn bó với đời sống của tập thể cộng đồng. Nói chung, đó là con người xã hội, con người quần chúng. Sau 1975, lắng nghe những đổi thay của đời sống mới, văn xuôi đã có những cái nhìn khác, có cách thể hiện khác, mới mẻ hơn về con người so với trước đó. Tư duy tiểu thuyết đã thay thế cho tư duy sử thi, cảm hứng thế sự đời tư thay thế cho cảm hứng anh hùng, do vậy “quan tâm đến đời sống cá nhân của mỗi người, có trách nhiệm với mỗi người là yêu cầu phổ biến của đạo đức xã hội mà các nhà văn hiện nay hết sức quan tâm” [44;245]; các nhà văn hướng ngòi bút của mình vào thế giới tâm hồn, khám phá chiều sâu tâm linh để nắm bắt những trạng thái tinh thần, những tình cảm tự nhiên và cả những cảm xúc khó lý giải của con người; cho nên con người trong văn xuôi sau 1975 là những số phận bình thường trong cuộc sống bình thường, là con người cá nhân với tất cả những gì vốn có của nó trong các mối quan hệ xã hội. Tuy chú ý đề cao con người cá nhân nhưng con người cá nhân trong văn xuôi sau chiến tranh không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, mà những số phận ấy luôn nằm trong mối quan hệ với xã hội; đằng sau mỗi thân phận luôn là những vấn đề có ý nghĩa thời đại.

Với sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã có những cách tân trong nghệ thuật biểu hiện, nhằm tạo dựng con người trong tác phẩm như những nhân cách toàn vẹn giống với đời sống thực của nó.

Về nhân vật – hiện thân trực tiếp của quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học. Đối với văn xuôi thời kỳ này, yêu cầu sáng tác để cổ vũ chiến đấu và chiến thắng không còn là vấn đề gay gắt, sự thể hiện đời sống không còn bị hạn chế trong đề tài chiến đấu và sản xuất như trước đây mà mở rộng theo những đề tài tâm lý xã hội với tất cả lĩnh vực của đời sống con người, tất cả những mối quan hệ của con người trong cuộc sống mới nhiều phức tạp. Điều đó đã khiến cho nhà văn xây dựng con người trong tác phẩm của mình rất phong phú đa dạng. Nếu như con người trong văn xuôi giai đoạn 1945–1975 là những nhân vật đơn chiều, phân tuyến rõ ràng thiện - ác, địch – ta, nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm trong tính cách thì con người trong văn xuôi giai đoạn này là những nhân vật đa chiều, với nhiều phức tạp trong tâm hồn, và ít có sự nhất quán. Có thể lấy nhân vật nữ để chứng minh cho nhận xét vừa nêu. Phụ nữ bao giờ cũng là người nhạy cảm trước các vấn đề của cá nhân cũng như đời sống. Thấu hiểu điều này, các nhà văn hướng tới khai thác đời sống tinh thần của người phụ nữ với nhiều niềm vui và nỗi buồn, hy vọng và thất vọng, hạnh phúc và bất hạnh. Dường như bao nhiêu những biến thái tinh vi trong tâm hồn phái nữ đều được bày ra trang giấy. Với không gian xóm Chùa, Đoàn Lê đã chinh phục người đọc bởi những thân phận nữ mang nhiều mâu thuẫn trong hạnh phúc riêng tư. Giưng đôi xóm Chùa là một truyện ngắn như vậy. Đêm cuối cùng nằm bên chồng sau 28 năm chung sống, mặc dù đã xác định ra đi, hy sinh cho hạnh phúc mới của chồng, nhưng trong người vợ lúc này, bao nhiêu tiếc nuối day dứt thở than như đè nặng hơn, để rồi: “Gà gáy sáng. Một bàn tay tôi chạm vào tay anh. Tự nhiên những ngón tay tôi tìm xiết chặt lấy những ngón tay anh, đan vào nhau. Tôi thấy những ngón tay anh cũng từ từ riết chặt. Ngỡ chẳng bao giờ chúng ta lạc mất nhau phải không anh” [51;177]. Với Gió lay cửa Phật, Triệu Bôn lại chỉ ra cho độc giả thấy sợi dây liên hệ giữa tôn giáo và tình yêu, một quan hệ tưởng như không thể nhưng luôn hiện hữu ở nhà sư nữ Đàm Hồng: “Sở dĩ em gửi thân nơi cửa Phật chỉ cốt có đủ thời gian đợi chờ anh. Đừng bỏ em mà đi. Một mai lên tới cõi Niết bàn nhưng thiếu anh, một mình em lên đó để làm gì?” [51;563]. Và còn rất nhiều những dẫn chứng như vậy trong truyện của Lê Minh Khuê, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ,…

Trong Thương nhớ hoàng lan của Trần Thuỳ Mai có một đoạn như thế này: “Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật…” [51;575], chúng tôi cứ muốn lấy đó làm một khái quát về nhân vật trong văn xuôi hiện nay của chúng ta, những con người nhiều mâu thuẫn, lắm trăn trở, tốt xấu, thiện ác giao hoà! Những nhân cách đa chiều.

Đồng thời, sự xuất hiện của nhân vật xưng tôi được xem là biểu hiện rõ nhất của nhu cầu khẳng định bản thân trong quan niệm mới về con người của văn xuôi giai đoạn này. Từ nhân vật xưng tôi, nhiều vấn đề bình thường của con người, nhiều khía cạnh phức tạp trong cảm xúc được đưa lên trang viết, bởi nhân vật xưng tôi là sự sẻ chia kinh nghiệm, nhân vật xưng tôi là sự thể hiện đời sống từ cái nhìn bên trong. Hồ Anh Thái đã từng bộc bạch về nhân vật xưng tôi của anh như sau: “Tôi đẩy trí tưởng tượng của mình lên một bước nữa và thử hình dung, nếu mình là cái tôi ấy, mình sẽ nghĩ ngợi ra sao, xử sự ra sao, hành động ra sao. Thế là thêm một lần tôi được sắm những vai khác hẳn mình, thêm một lần trải nghiệm” [50;252]. Như vậy, với nhân vật xưng tôi, những vấn đề được đặt ra sẽ trở nên sâu hơn thực hơn. Vấn đề tình yêu, tình dục là ví dụ điển hình (Một đề tài bị lãng quên khá lâu, nay mới được khơi lại, thể hiện một cảm quan mới đối với vấn đề con người của văn chương và xã hội). Trước đây, tình yêu là tình yêu trong chiến tranh, do vậy màu sắc của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng bao trùm lên hầu khắp cái tình cảm riêng tư này và tình dục là một điều cấm kỵ. Bây giờ đã khác, tình yêu sau chiến tranh trở về với đúng nghĩa riêng tư, nhiều cung bậc đa dạng của nó. Và tất nhiên cũng có cái nhìn khác về tình yêu trong chiến tranh (Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Người sót lại của rừng Cười của Võ Thị Hảo,…). Tình dục, nhu cầu cá nhân của con người được đặt ra một cách trực tiếp, thẳng thắn, bạo liệt hơn qua những trải nghiệm, đòi hỏi của hàng loạt nhân vật xưng danh ở ngôi thứ nhất số ít; và dĩ nhiên nó gắn bó với tình yêu nam nữ, là một biểu hiện lành mạnh của tình yêu, của khao khát yêu đương. Truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu là một hiện tượng của tình dục trong văn xuôi những năm gần đây [10]. Mặc dù còn nhiều ý kiến trái ngược, song Bóng đèVu quy là hai truyện ngắn nói được rất nhiều khát vọng của con người thông qua chuyện tình dục, cụ thể là khát vọng tình yêu và sự thấu hiểu lẫn nhau của những người trẻ tuổi. ở đó, nhân vật nữ xưng tôi trực tiếp đứng ra tự sự về nỗi lòng của mình, nỗi lòng của một khát khao mạnh bạo về nhu cầu tình dục gắn chặt với tình yêu chưa được thoả mãn! Một lối thể hiện mạnh, táo tợn, bạo liệt.

Về kết cấu - cốt truyện. Văn xuôi hôm nay đã vượt lên trên kết cấu truyền thống trong xây dựng cốt truyện, tức là kết cấu theo mô hình kết thúc có hậu, trọn vẹn theo ý đồ của người sáng tạo, thay vào đó là kết cấu mở, tự do linh hoạt và uyển chuyển hơn với nhiều ưu thế trong việc diễn tả tính cách đa chiều của nhân vật. Nhà văn tổ chức tác phẩm theo diễn biến tâm lý của nhân vật nhiều hơn là theo tình tiết sự kiện. Con người lúc này sống trong những mối quan hệ chồng chéo, giằng xé, đan xen vào nhau, trong tác phẩm không chỉ có nhân vật chính diện, phản diện, quan hệ giữa các nhân vật không chỉ có quan hệ địch - ta; do vậy kết cấu tác phẩm cũng đa dạng, phức tạp và sinh động hơn. Theo đó, cốt truyện đầy đủ chi tiết, diễn tiến lùi xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho cốt truyện tâm lý tính cách; cốt truyện không giữ được trật tự tuyến tính như cốt truyện tự nhiên mà đã bị đảo lộn thành cốt truyện của nghệ thuật, cốt truyện của tâm lý nhân vật. Người và xe chạy dưi ánh trăng (Hồ Anh Thái), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cá voi trầm sát (Mai Ninh),… đều là những tiểu thuyết được tổ chức men theo tâm lý nhân vật; và cốt truyện cũng không còn đầy đủ các thành phần như quan niệm truyền thống nữa và gần đây xuất hiện nhiều cốt truyện phân mảnh – một loại truyện có cấu trúc phi cốt truyện, tức là các sự vật, chi tiết, tình huống riêng lẻ (thuật ngữ văn học hậu hiện đại gọi là những “mảnh vỡ”) được xếp cạnh nhau theo kiểu liệt kê mà không có bất kỳ một sự vận động chuyển hoá nào. Giờ đây độc giả khó khăn hơn khi muốn tóm tắt một tác phẩm. Nói chung, kết cấu – cốt truyện của văn xuôi hiện nay đều hướng đến khám phá, thể hiện tâm hồn sâu kín phức tạp của con người.

Về ngôn ngữ, giọng điệu. Cùng với sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, sau 1975, ngôn ngữ và giọng điệu của văn xuôi đã chuyển từ ngôn ngữ đơn giọng sang ngôn ngữ đối thoại, nhiều giọng, đa thanh; đồng thời có sự hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện; ngày càng xuất hiện nhiều hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất, nhân vật xưng tôi để kể về mình, về người khác. Với việc trao cho nhân vật nhiệm vụ trần thuật, giọng điệu, ngôn ngữ trong văn xuôi hiện nay trở nên phong phú hơn, nhiều mầu sắc hơn, bởi thay cho lớp ngôn ngữ trang nghiêm, quyền uy trước kia là lớp ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày với tất cả những nét xù xì gai góc bỗ bã suồng sã được lựa chọn đưa vào tác phẩm. Du nhập ngôn ngữ đời thường, tạo nên sự đa âm phức hợp của cuộc sống hàng ngày vào văn xuôi, các nhà văn đã chứng tỏ sự quan tâm đến con người đời thường trong các mối quan hệ, nhờ đó con người trong tác phẩm trở nên sinh động, nhiều chiều; từ đó, các nhà văn chú ý hơn đến ngôn ngữ nhân vật, chú ý đến việc cá tính hoá ngôn ngữ nhân vật thông qua đối thoại. Có thể nói, ngôn ngữ nhân vật của văn xuôi sau 1975 là ngôn ngữ được cá tính hoá cao độ, bởi thông qua đối thoại, nhân vật được trực tiếp bộc lộ mình, do vậy các trạng thái tâm lý tình cảm trở nên thật hơn, có chiều sâu hơn, và mang màu sắc của từng con người cụ thể cá biệt. Ngôn ngữ đối thoại hầu như chiếm toàn bộ văn bản truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Lời thoại của nhân vật Nguyễn Huy Thiệp nhanh, ngắn gọn, bộc lộ cá tính mạnh, chứng tỏ năng lực cao của tác giả trong miêu tả tâm trạng nhân vật thông qua ngôn ngữ. Trong Những bài học nông thôn, qua số lần rất ít để cho người bà của Lâm cất tiếng, nhưng chừng đó cũng đủ cho người đọc thấy nhiều ẩn ức chất chứa ngồn ngộn, những tâm sự không thể chia sẻ về thân phận của một người mà theo chính lời của bà là “…mang tiếng thuỷ chung đức hạnh, chẳng biết báu cho ai, chỉ biết về già sống lâu khổ con khổ cháu” [61;198]. Đây là ví dụ được “nhặt” một cách ngẫu nhiên trong vô vàn những đối thoại giàu cá tính của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhưng cũng có thể xem là tiêu biểu đối với nhận định trên. Bên cạnh tạo đối thoại giữa các nhân vật, độc thoại nội tâm cũng xuất hiện nhiều, góp phần quan trọng trong việc bộc lộ tâm trạng nhân vật từ bên trong, giúp nhân vật tự bộc lộ chính mình từ khía cạnh vô thức, tâm linh.

Văn xuôi sau 1975 cũng ghi nhận sự nở rộ của nhiều giọng điệu. Giọng điệu bắt nguồn từ cảm hứng. Trước nhiều vấn đề của đời sống con người, nhà văn vừa phản ánh đồng thời cũng tỏ thái độ của mình trước những cái được phản ánh bằng việc tạo dựng giọng điệu cho tác phẩm. Trong giai đoạn 1945–1975, văn xuôi của nền văn học sử thi luôn duy trì giọng điệu ngợi ca hào sảng, đến nay, văn học đạo đức thế sự không chỉ có ngợi ca mà có cả phê phán, không chỉ miêu tả cái cao thượng mà có cả cái thấp hèn,… Giọng điệu của tác phẩm do vậy cũng đa sắc màu hơn, ngoài giọng ngợi ca truyền thống, còn có thêm giọng điệu triết lý (Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,…), giọng điệu trong sáng lãng mạn (Nguyễn Ngọc Thuần,…), giọng điệu hài hước (Lê Lựu, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp,…), giọng điệu phê phán (Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, …), giọng điệu tâm tình (Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Thị Thu Huệ, …). Đặc biệt văn xuôi sau 1975 xuất hiện Hồ Anh Thái như một hiện tượng đa giọng điệu. ở nhà văn này luôn có sự đổi giọng theo từng đề tài, chủ đề. Chúng tôi sẽ đề cập riêng vấn đề này ở phần sau.

Như một hệ quả trực tiếp của việc trao nhiệm vụ trần thuật cho nhân vật, điểm nhìn trần thuật của văn xuôi sau 1975 cũng đã di chuyển vào bên trong văn bản và trở nên linh hoạt hơn so với điểm nhìn bên ngoài, cố định của lối trần thuật trước đó; nó xoá đi dấu ấn sáng tạo chủ quan của nhà văn, góp phần thể hiện đời sống trong tác phẩm chân thực hơn, thật như cuộc đời. Ai đã từng đọc tiểu thuyết Cá voi trầm sát của nhà văn hải ngoại Mai Ninh [37] sẽ thấy rõ điều này. Xem việc trần thuật như thể quay phim, ở mỗi đoạn của tác phẩm, nhà văn này đã giao máy quay cho từng nhân vật khác nhau để họ hướng ống kính vào từng vùng ký ức mà trực tiếp kể chuyện đời mình. Có thể xem đây là một trong những tiểu thuyết có nhiều nhân vật xưng tôi nhất và linh hoạt nhất trong điểm nhìn trần thuật của văn xuôi Việt Nam sau 1975.

Cũng cần phải nói đến một đặc điểm dễ nhìn ra trong cách tân thể loại của văn xuôi thời kỳ này là hình thức ngắn (cả ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết) và sự đan xen thể loại. Ghi nhận việc tìm tòi cách tân về mặt hình thức của các nhà văn, nhưng đi tìm một lý giải thì không thể bỏ qua vấn đề con người trong sự sáng tạo này. Trước đây, nói đến tiểu thuyết, cả người đọc và người sáng tác đều có ngay một hình dung ban đầu về sự bề thế của dung lượng chữ cũng như phạm vi hiện thực được phản ánh, nhưng một loạt tiểu thuyết gần đây như: Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Tấm ván phóng dao của Mạc Can đã cho thấy điều ngược lại: tiểu thuyết ngắn. Giải thích như thế nào về vấn đề này? Nhìn từ khía cạnh quan niệm nghệ thuật về con người, tiểu thuyết trước đây khảo sát vấn đề xã hội thì giờ đây khảo sát vấn đề con người, vấn đề của một người, khảo sát vấn đề xã hội thông qua thân phận cá nhân, do vậy tiểu thuyết hiện nay là tiểu thuyết cho những mảnh vỡ của cuộc đời chứ không còn là sự bao quát rộng lớn như trước đó. Với một số phận, một vấn đề thì sự dông dài trở nên không cần thiết. Truyện cực ngắn cũng xuất hiện trong tình hình đó. Chú ý đến một số phận, một vấn đề, nhiều khi chỉ một khoảnh khắc, một tình huống cũng đủ dựng nên một truyện ngắn, rất ngắn.

Với cái nhìn mới về con người, các nhà văn dường như đã vận dụng mọi thể loại vốn có để thể hiện sinh động con người và đời sống, bởi mỗi thể loại có thế mạnh riêng trong khả năng chiếm lĩnh con người, dung nạp các thể loại trong nhau là cách để nhà văn mở rộng giới hạn phản ánh ở tác phẩm của mình. Từ đó giai đoạn này ghi nhận, hay chính xác hơn là chấp nhận, sự đan xen thể loại trong sáng tác văn xuôi. Ta có thể thấy sự xuất hiện thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, và gần đây, trong tiểu thuyết Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh; hay ở Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương là sự trộn lẫn giữa văn xuôi với kịch và ở chừng mực nào đó là cả thơ nữa.

Trên đây là cái nhìn khái quát của chúng tôi về những cách tân nghệ thuật văn xuôi Việt Nam sau 1975 từ góc độ quan niệm nghệ thuật về con người của văn học giai đoạn này. Qua đó thấy rằng, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù ít hay nhiều, đằng sau mỗi đổi mới của văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến nay đều có bóng dáng của quan niệm nghệ thuật mới về con người, đó là con người cá nhân cá thể, con người của đời thường; nói chung, đó là những nhân cách toàn vẹn.

Trong bối cảnh đó của văn xuôi Việt Nam sau 1975, văn xuôi Hồ Anh Thái đã hình thành và phát triển. Nhìn chung, tác phẩm của Hồ Anh Thái không đi chệch “quỹ đạo” của văn xuôi giai đoạn này. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Hồ Anh Thái là những biểu hiện cụ thể, góp phần làm nên sắc thái đời thường, sinh động, toàn vẹn như trong đời thực cho quan niệm về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Và Hồ Anh Thái cũng đã có những cách tân đáng kể trong nghệ thuật văn xuôi dưới sự chi phối về quan niệm con người của riêng mình, nhằm hướng tới thể hiện con người xã hội theo cách hiểu của anh. Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về điều này ở những phần tiếp sau.

Tóm lại, qua chương 1, những dẫn giải của luận văn chủ yếu để khẳng định: quan niệm nghệ thuật về con người là nhân tố cơ bản, là xuất phát điểm cho mọi sáng tạo của nhà văn; và xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người để tìm hiểu tác phẩm văn học có thể xem là một trong những biện pháp tối ưu để có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp sáng tác của mỗi nhà văn cũng như về một giai đoạn văn học. Chương 1 là thao tác tạo dựng tiền đề lý luận của chúng tôi trước khi đi vào tìm hiểu văn xuôi Hồ Anh Thái từ góc nhìn quan niệm nghệ thuật về con người.



  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương