Đttx 4 – Ban Học Tập Môn: Thuật ngữ Phật pháp tiếng anh



tải về 47.23 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu17.01.2019
Kích47.23 Kb.

ĐTTX 4 – Ban Học Tập Môn: Thuật ngữ Phật pháp tiếng anh


THUẬT NGỮ PHẬT PHÁP TIẾNG ANH

PACCEKA-BUDDHA ĐỘC GIÁC PHẬT

Pacceka-buddha: an 'Independently Enlightened One'; or Separately or Individually (=pacceka) Enlightened One (renderings by 'Silent' or 'Private Buddha' are not very apt).

This is a term for an Arahat (s. ariya-puggala) who has realized Nibbāna without having heard the Buddha's doctrine from others. He comprehends the 4 Noble Truths individually (pacceka), independent of any teacher, by his own effort. He has, however, not the capacity to proclaim the Teaching effectively to others, and therefore does not become a 'Teacher of Gods and Men', a Perfect or Universal Buddha (sammā-sambuddha).

Pacceka-buddhas are described as frugal of speech, cherishing solitude. According to tradition, they do not arise while the Teaching of a Perfect Buddha is known; but for achieving their rank after many eons of effort, they have to utter an aspiration before a Perfect Buddha.

Canonical references are few; Pug. 29 (defin.); A.II.56; in M.116, names of many Pacceka-buddhas are given; in D.16 they are said to be worthy of a thūpa (dagoba); the Treasure-Store Sutta (Nidhikhandha Sutta, Khp.) mentions pacceka-bodhi; the C. Nidd. ascribes to individual Pacceka-buddhas the verses of the Rhinoceros Sutta (Khaggavisāna Sutta, Sn.)



Pacceka-buddha: “Bậc giác ngộ một cách độc lập"; hoặc “Bậc giác ngộ một cách riêng lẻ” (=pacceka) (những cách dịch như là: ‘Đức Phật im lặng’ hoặc “Đức Phật riêng tư” thì có vẻ không thích hợp lắm).

Đây là một thuật ngữ dành cho một vị A La Hán(xem ariya-puggala) người đã chứng ngộ Niết bàn mà không nghe Phật pháp từ những người khác. Vị ấy giác ngộ Tứ Diệu Đế một mình, là không phụ thuộc vào một vị thầy nào, bằng sự nổ lực của chính mình. Tuy nhiên, vị đó không có khả năng thuyết giảng giáo pháp một cách có hiệu quả cho người khác, và vì vậy không thể trở thành “Bậc thiên nhân sư”, một bậc toàn giác(chánh đẳng giác)(sammā-sambuddha).

Các vị độc Giác Phật được mô tả là rất kiệm lời nói, ưa thích sự độc cư. Theo truyền thống, họ không xuất hiện khi mà giáo pháp của một bậc toàn giác vẫn còn được biết; nhưng để thành tựu được quả vị này sau nhiều kiếp tu tập nổ lực, họ phải phát nguyện trước một vị Phật toàn giác.

Các trích dẫn trong tam tạng (về Độc giác Phật) rất ít ; Trong Nhân chế định-đoạn 29, Tăng Chi Bộ kinh, phẩm II, đoạn 56; trong Trung Bộ kinh- số 116, tên của nhiều vị Độc Giác Phật được nêu lên; trong Trường Bộ Kinh-số 16 nói rằng họ xứng đáng được xây tháp cúng dường; Kinh kho báu(Nidhikhandha Sutta, Khp.) đề cập đến Độc Giác; Bộ Tiểu Xiểng Minh gán cho các vị Độc Giác Phật những câu kệ của bài kinh Tê Giác (Khaggavisāna Sutta, Sn.)



PADHĀNA TINH CẦN

Padhāna 'effort.' The 4 right efforts (samma-padhāna), forming the 6th stage of the 8-fold Path (i.e. sammā-vāyāma, s. magga) are: (1) the effort to avoid (samvara-padhāna), (2) to overcome (pahāna-padhāna), (3) to develop (bhāvanā-padhāna), (4) to maintain (anurakkhana-padhāna), i.e. (1) the effort to avoid unwholesome (akusala) states, such as evil thoughts, etc. (2) to overcome unwholesome states, (3) to develop wholesome (kusala) states, such as the 7 elements of enlightenment (bojjhanga, q.v.), (4) to maintain the wholesome states.

"The monk rouses his will to avoid the arising of evil, unwholesome things not yet arisen ... to overcome them ... to develop wholesome things not yet arisen ... to maintain them, and not to let them disappear, but to bring them to growth, to maturity and to the full perfection of development. And he makes effort, stirs up his energy, exerts his mind and strives" (A. IV, 13).

(1) "What now, o monks, is the effort to avoid? Perceiving a form, or a sound, or an odour, or a taste, or a bodily or mental impression, the monk neither adheres to the whole nor to its parts. And he strives to ward off that through which evil and unwholesome things might arise, such as greed and sorrow, if he remained with unguarded senses; and he watches over his senses, restrains his senses. This is called the effort to avoid.

(2) "What now is the effort to overcome? The monk does not retain any thought of sensual lust, or any other evil, unwholesome states that may have arisen; he abandons them, dispels them, destroys them, causes them to disappear. This is called the effort to overcome.

(3) "What now is the effort to develop? The monk develops the factors of enlightenment, bent on solitude, on detachment, on extinction, and ending in deliverance, namely: mindfulness (sati), investigation of the law (dhamma-vicaya), energy (viriya), rapture (pīti), tranquillity (passaddhi), concentraton (samādhi), equanimity (upekkhā). This is called the effort to develop.

(4) "What now is the effort to maintain? The monk keeps firmly in his mind a favourable object of concentration, such as the mental image of a skeleton, a corpse infested by worms, a corpse blueblack in colour, a festering corpse, a corpse riddled with holes, a corpse swollen up. This is called the effort to maintain" (A. IV, 14).



Padhāna “cần”. Tứ chánh cần (samma-padhāna), hình thành nên chi thứ 6 của Bát chánh đạo là: (1) thận cần (samvara-padhāna), (2) trừ cần (pahāna-padhāna), (3) tu cần (bhāvanā-padhāna), (4) bảo cần (anurakkhana-padhāna), tức là (1) nổ lực ngăn ngừa những bất thiện pháp(akusala), như là những tư tưởng xấu ác v.v... (2) diệt trừ những bất thiện pháp, (3) tu tập những thiện pháp (kusala), như là 7 giác chi(bojjhanga, q.v.), (4) bảo trì những thiện pháp (bảo cần)

“Vị tỳ kheo phát khởi ý chí để ngăn ngừa sự phát sinh của các ác bất thiện pháp chưa sinh khởi... diệt trừ chúng... tu tập những thiện pháp chưa phát sinh...bảo trì chúng, và không để cho chúng biến mất , nhưng khiến cho chúng được phát triển, được chín mùi và được phát triển đến mức hoàn thiện. Và vị ấy nổ lực, tinh cần, cố gắng phấn đấu” (Tăng Chi Bộ kinh, chương IV, đoạn 13).

(1)”Này các tỳ kheo thế nào là thẩn cần? Khi nhận thức một sắc, một âm thanh, một mùi hương, một vị, hay xúc hay một pháp, vị tỳ kheo không tướng chung cũng như không giữ tướng riêng. Và vị ấy nổ lực né tránh những thứ mà do đó ác bất thiện pháp có thể lên khởi , như là tham và ưu, nếu vị ấy vẫn còn duy trì các căn không phòng hộ; và vị ấy phòng hộ các căn, thu thúc các căn. Đây được gọi là thẩn cận.

(2)”Thế nào là trừ cận? Vị tỳ kheo không nắm giữ ác bất thiện pháp nào đã sinh khởi bất cứ ý tưởng nào về tham dục; vị ấy từ bỏ chúng , xua đuổi chúng, tiêu diệt chúng khiến cho chúng biến mất. Đây được gọi là trừ cần.”

(3)”Thế nào là tu cần? Vị tỳ kheo tu tập 7 giác chi, hướng về độc cư, ly tham, diệt tận và chấm dứt bằng sự giải thoát, nghĩa là: niệm (sati), trạch pháp(dhamma-vicaya), tinh tấn (viriya), hỷ (pīti), khinh an(passaddhi),định (samādhi), xã (upekkhā).Đây được gọi là tu cần.

(4)”Thế nào là bảo cần? Vị tỳ kheo giữ một cách chắc chắn trong tâm một đề mục thiền ưa thích, như là tưởng về bộ xương, một tử thi lúc nhúc vòi bọ, một tử thi xanh đen (tím tái), một tử thi thối rữa, một tử thi thủng lỗ chỗ, một tử thi trương xình lên. Đây được gọi là bảo cần” (Tăng Chi Bộ kinh, Chương IV, đoạn 14).



PAHĀNA TỪ BỎ, TRỪ, ĐOẠN

Pahāna 'overcoming', abandoning. There are 5 kinds of overcoming: (1) overcoming by repression (vikkhambhana-pahāna), i.e. the temporary suspension of the 5 hindrances (nīvarana, q.v.) during the absorptions, (2) overcoming by the opposite (tadanga-pahāna), (3) overcoming by destruction (samuccheda-pahāna), (4) overcoming by tranquillization (patipassaddhi-pahāna), (5) overcoming by escape (nissarana-pahāna).

(1) "Among these, 'overcoming by repression' is the pushing back of adverse things, such as the 5 mental hindrances (nīvarana q.v), etc., through this or that mental concentration (samādhi, q.v.), just as a pot thrown into moss-clad water pushes the moss aside....

(2) " 'Overcoming by the opposite' is the overcoming by opposing this or that thing that is to be overcome, by this or that factor of knowledge belonging to insight (vipassanā q.v.), just as a lighted lamp dispels the darkness of the night. In this way, the personality-belief (sakkāyaditthi, s. ditthi) is overcome by determining the mental and corporeal phenomena ... the view of uncausedness of existence by investigation into the conditions... the idea of eternity by contemplation of impermanency ... the idea of happiness by contemplation of misery....

(3) "If through the knowledge of the noble path (s. ariyapuggala) the fetters and other evil things cannot continue any longer, just like a tree destroyed by lightning, then such an overcoming is called 'overcoming by destruction' " (Vis.M. XXII, 110f.).

(4) When, after the disappearing of the fetters at the entrance into the paths, the fetters, from the moment of fruition (phala) onwards, are forever extinct and stilled, such overcoming is called the 'overcoming by tranquillization'.

(5) "The 'overcoming by escape' is identical with the extinction and Nibbāna" (Pts.M. I. 27). (App.).



Pahāna “từ bỏ”, trừ, đoạn. Có 5 loại: (1) đoạn bằng cách ức chế (vikkhambhana-pahāna), đó là sự đình chỉ tạm thời của 5 triền cái (nīvarana, q.v.) trong các tầng thiền, (2) đoạn bằng cách thay vào một pháp ngược lại (tadanga-pahāna), (3) đoạn bằng cách cắt đứt (samuccheda-pahāna), (4) đoạn bằng sự khinh an(patipassaddhi-pahāna), (5) đoạn bằng cách giải thoát (nissarana-pahāna).

(1)”Trong những cách này, “đoạn bằng cách ức chế” là đẩy lùi các pháp trở ngại như là 5 triền cái(nīvarana q.v),..v.v bằng các loại định(samādhi, q.v.), ví như một cái bình quăng vào trong nước phủ rêu đẩy rêu qua một bên...

(2)”Đoạn bằng các pháp ngược lại” tức là đoạn bằng cách đối nghịch các pháp cần phải đoạn bằng các tuệ chi thuộc về thiền quán (vipassanā q.v.), như là một ngọn đèn sáng xua tan bóng tối của đêm. Bằng cách này, thân kiến (sakkāyaditthi, s. ditthi) được đoạn bởi tuệ phân biệt danh sắc...quan niệm vô nhân của hiện hữu thì được đoạn bằng sự quán chiếu vào các duyên... thường kiến bằng cách quán vô thường ...lạc tưởng bằng cách quán đau khổ...

(3)”Nếu nhờ đạo tuệ (trí tuệ của các Thánh đạo) mà các kiết sử và các ác pháp khác không thể tiếp tục nữa, như cái cây bị sét đánh, đoạn như vậy được gọi là “đoạn bằng cách cắt đứt” (trích Thanh Tịnh Đạo, XXII, 110f.).

(4)Sau khi các kiết sử biến mất khi đắc đạo, các kiết sử từ sát na tâm quả (phala) trở về sau, nó được cắt đứt hoàn toàn và ngưng nghĩ, sự đoạn này được gọi là “đoạn bằng cách khinh an (thực chỉ)”

(5) “Đoạn bằng cách giải thoát thì đồng nghĩa với sự diệt tận và Niết bàn” (Pts.M. I. 27). (App.).



PALIBODHA CHƯỚNG NGẠI

Palibodha 'obstacles', is the term for the following things if they obstruct the monk in the strict practice of a subject of meditation: a crowded monastery, travelling, relatives, association with lay folk, gifts, pupils, repairs in the monastery, sickness, study, magical power.

The latter, however, may become an obstacle only in developing insight (vipassanāq.v.). See Vis.M. III, 29ff. - (App.)



Palibodha “chướng ngại”, là một thuật ngữ cho những điều sau nếu chúng cản trở vị tỳ kheo trong việc thực hành miên mật trên một đề mục thiền định : ngôi chùa đông đảo, du lịch, quyến thuộc, quan hệ với cư sĩ, quà cáp, đệ tử, sữa chữa bảo trì chùa, bệnh tật, học tập, thần thông.

Tuy nhiên, điều sau cùng – thần thông có thể trở thành một chướng ngại khi phát triển thiền quán(vipassanāq.v.). Xem Thanh tịnh đạo. III, 29ff. - (App.)



PAÑCA-VOKĀRA-BHAVA - NGŨ UẨN HỮU – SỰ HIỆN HỮU CỦA 5 UẨN

Pañca-vokāra-bhava 'five-group existence', is a name for existence in the sensuous sphere (kāmāvacara), or in the fine-material sphere (rūpāvacara, s. avacara), since all the 5 groups of existence (khandha, q.v.) are found there.

In the immaterial sphere (arūpāvacara, s. avacara), however, only the 4 mental groups are found, and in the world of unconscious beings (asaññā-satta,q.v.) only the one corporeality group.

Cf eka-vokāra-bhava and catu-pañca-vokāra-bhava; further s. avacara. - (App.: vokāra).


Pañca-vokāra-bhava “Ngũ uẩn hữu”, là tên chỉ cho sự hiện hữu trong dục giới(kāmāvacara),hoặc trong sắc giới (rūpāvacara, s. avacara),bởi vì tất cả 5 uẩn(khandha, q.v.) đều được tìm thấy ở đó.

Tuy nhiên, trong vô sắc giới(arūpāvacara, s. avacara)chỉ có 4 danh uẩn được tìm thấy, và trong cõi của chúng sanh vô tưởng (asaññā-satta,q.v.) chỉ tìm thấy sắc uẩn mà thôi.

Cf eka-vokāra-bhava và catu-pañca-vokāra-bhava; further s. avacara. - (App.: vokāra).


PAÑHĀ-BYĀKARANA TRẢ LỜI CÂU HỎI

Pañhā-byākarana:'answering questions'. "There are, o monks, 4 ways of answering questions: there are questions requiring a direct answer; questions requiring an explanation; questions to be answered by counter-questions; questions to be rejected (as wrongly put)."

See D.33; A.III.68; A.IV.42.



Pañhā-byākarana: “trả lời câu hỏi” “Này các tỳ kheo có 4 cách để trả lời câu hỏi: có những câu hỏi cần có câu trả lời trực tiếp; những câu hỏi cần có sự giải thích; những câu hỏi được trả lời bằng cách hỏi ngược lại; những câu hỏi cần phủ định (như là đặt sai).”

Xem D-số 33; Tăng Chi Bộ kinh, chương III, đoạn 68; chương IV, đoạn 42.



PABBAJJĀ XUẤT GIA

Pabbajjā lit. 'the going forth', or more fully stated, 'the going forth from home to the homeless life' of a monk (agārasmā anagāriyam pabbajjā), consists in severing all family and social ties to live the pure life of a monk, in order to realize the goal of final deliverance pointed out by the Enlightened One. Thus, p. has become the name for admission as a sāmanera, or novice, i.e. as a candidate for the Order of Bhikkhus, or monks.

See Going Fonh, by Sumana Samanera (WHEEL 27/28) - Ordination in Theravāda Buddhism (WHEEL 56).



Pabbajjā theo nghĩa đen “xuất gia”, hay nói một cách rõ ràng hơn, “từ bỏ gia đình sống không gia đình” của một vị tỳ kheo (agārasmā anagāriyam pabbajjā),bao gồm chặt đứt các mối quan hệ gia đình và xã hội (cắt ái từ thân)để sống đời sống thanh tịnh của một vị tu sĩ, để chứng đạt mục tiêu giải thoát tối hậu đã được Đức Phật chỉ ra. Như vậy, xuất gia (Pabbajjā) đã trở thành cái tên cho việc xuất gia sa di, tức là ứng cử viên để được gia nhập vào tăng đoàn.

Xem Going Fonh, by Sumana Samanera (WHEEL 27/28) - Ordination in Theravāda Buddhism (WHEEL 56).



PADA-PARAMA NGƯỜI ĐẠT ĐƯỢC THÀNH TỰU CAO NHẬT CHỈ BẰNG LỜI NÓI

Pada-parama 'one for whom the words are the utmost attainment'.

  • "Whoever, though having learned much,

  • speaking much,

  • knowing many things by heart,

  • and discoursing much,

  • has not penetrated the truth,

  • such a man is called by that name" (Pug. 163).

Pada-parama “là người đạt được thành tựu cao nhất chỉ bằng lời nói”

  • "Người nào mà học rất nhiều,

  • nói nhiều

  • thuộc lòng rất nhiều

  • và thuyết giàng nhiều

  • mà chưa có thấy được pháp chân lý)

  • người như vậy được gọi cái tên đó”

(Bộ Nhân chế định-163)



Pacceka Buddha, Padhana, Pahana, .... Trang /6





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương