Trần Thành Đạt Nhóm thực hiện: Tăng Thị Tâm



tải về 401.83 Kb.
trang4/4
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích401.83 Kb.
1   2   3   4

Nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh họC

  1. Nguyên nhân trực tiếp:

Khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học:

Nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác

Chiến tranh: chiến tranh không những là nguyên nhân trực tiếp mà còn là nguyên nhân sâu xa gây suy thoái ĐDSH. Trong giai đoạn 1945 đến 1990 nước ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh và 2 cuộc xung đột biên giới hết sức khốc liệt. Chiến tranh đã gây biến động lớn về phân bố dân cư giữa các vùng, đồng thời một diện tích lớn đất rừng bị khai phá để trồng cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho quân và dân. Không những thế các loài động vật hoang dã còn bị đe dọa bởi các loại vũ khí do chiến tranh để lại sau đó.

Khai thác quá mức:

- Khai thác gỗ:

Các phương thức khai thác gỗ (hợp pháp hay bất hợp pháp) không bền vững từ trước đến nay đều được coi là mối đe dọa lớn đối với ĐDSH. Nó không những làm nghèo kiệt tài nguyên gỗ tự nhiên mà còn làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng rừng và gây ảnh hưởng lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã.

- Khai thác củi làm nhiên liệu:

Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và kho kiểm soát, đây cùng là mối đe dọa rất lớn đối với ĐDSH.

- Khai thác, buôn bán lâm sản ngoại gỗ (kể cả động vật).

- Đánh bắt cá:

Tại nhiều nơi vẫn còn tình trạng đánh bắt cá mang tính huỷ diệt như dùng mìn, chất nổ, điện, thậm chí cả chất đôc (Xyanua). Đánh bắt quá mức có thể thấy rõ hậu quả qua sản lượng đánh bắt một số loài cá suy giảm mặc dù cường độ đánh bắt tăng.

- Khai thác trái phép tài nguyên các rạn san hô.

Bảo tồn rạn san hô ít được chú ý trực tiếp. Một số rạn san hô bị phá huỷ, chủ yếu là do sử dụng các phương pháp đánh bắt cá mang tính huỷ hiệt như đã nói ở trên. Tất cả những phương pháp đánh bắt cá không chọn lọc đõ sẽ giết chết hoặc làm tất cả các loài hoảng sợ.



Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản:

Mở rộng đất canh tác nông, nghư nghiệp lấn vào đất rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái ĐDSH. Nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú, mất môi trường sống, mất nguồn thức ăn, mất nơi sinh đẻ nên một khối lượng lớn cá thể bị chết, các chuỗi dinh dưỡng bị xáo trộn, cân bằng sinh thái bị tổn thương.



Cháy rừng:

Hiện nay, Việt Nam có trên 6 triệu ha rừng dễ cháy (Phạm Bình Quyền và các cộng sự, 1997), bao gồm rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừng khộp... Cùng với diện tích rừng dễ cháy tăng thêm hàng năm thì tình hình diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp và khó lường ở Việt Nam đang làm nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng ngày càng nghiêm trọng hơn.



Di nhập và xâm lấn của các loài sinh vật lạ:

Trong thời gian qua việc trao đổi, di nhập một số giống cây trồng, vật nuôi đã mang lại hiệu quả kinh tế. Trong cơ cấu cây trồng ở nhiều nơi số giống mới đã chiếm tới 70- 80% và cho năng suất cao. Tuy nhiên việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan, thiếu kiểm soát là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một. Các giống mới có thể có những điểm bất lợi và thường không bền vững trước tác động của ngoại cảnh và sâu bệnh. Tác hại ngay lập tức và có thể thấy là một số loài di nhập vào Việt Nam đã phát triển thμnh dịch và gây hại nghiêm trọng. Điều này còn liên quan đến sự thiếu hiểu biết và sơ hở trong quản lý.



Mất và phá huỷ nơi cư trú:

Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động của con người: Đó chính là tác động của việc thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên sinh học như: sự phát triển nông nghiệp, đô thị, sự du canh du cư, đốt nương làm rẫy dẫn đến cháy rừng, khai thác rừng bừa bãi, sản xuất công nghiệp thải lượng cacbon dioxit và các khí khác vào khí quyển, đốt các nhiên liệu có nguồn gốc cacbon như than, dầu và gas. …

Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh mới hay hoạt động trở lại của các núi lửa, sóng thần, sạt lở đất, động đất, sa mạc hóa, cháy rừng...

Ô nhiễm môi trường sống:

Có thể liệt kê một số nguyên nhân sau:

Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng nề và được khuyến cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962).

Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH thuỷ sinh như các loài cá, ốc, trai, hến... Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải công nghiệp, chất thải dân dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ các tàu vận tải, các kim loại nặng (thuỷ ngân, chì, thiếc...). Các chất thải này theo dòng chảy và lan tràn trong một vùng rộng lớn. Kết quả là một loạt loài ở các bậc dinh dưỡng tiếp theo trong chuỗi thức ăn cũng bị nhiễm độc theo.

Ô nhiễm không khí và mưa axít: Các hoạt động công nghiệp xả thải vào khí quyển, đốt rừng làm nương rẫy... làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của trái đất. Các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than dầu đã thải ra một lượng lớn nitrat, sulphat vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong khí quyển sẽ tạo ra axit nitric và sunphuric. Các axit này liên kết với những đám mây và khí tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống thấp và tăng khả năng hấp thụ các kim loại nặng độc hại.

Sư sản sinh ôzôn, các kim loại độc hại và lắng đọng khí nitơ: Nồng độ ôzôn cao ở tầng khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp.

Sự biến đổi khí hậu: Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng sẽ có khả năng làm thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer, 1992).

Sự chuyên hóa trong sản xuất nông nghiệp:

Do sức ép của sự gia tăng dân số trên thế giới, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm và các loại nguyên, nhiên, vật liệu sẵn có trong tự nhiên, đồng thời cũng thúc đẩy loài người lựa chọn hoặc lai tạo ra các giống động thực vật có năng suất, chất lượng cao; và sử dụng đại trà các giống này cho sản xuất trên phạm vi toàn cầu trong những khu vực có điều kiện khí hậu tương tự nhau. Do đó, các giống địa phương sẽ bị mai một và cuối cùng là tuyệt chủng..



Sự lây lan của các dịch bệnh:

Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hay động vật hoang dã. Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh nhu virus, vi khuẩn, nấm, các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cỡ lớn hơn như giun, sán. Các loại dịch bệnh có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm/



    1. Nguyên nhân gián tiếp:

Gia tăng dân số và di cư.

Những thách thức về dân số của nước ta rất nghiêm trọng đối với các vấn đề tài nguyên, môi trường và ĐDSH. Tăng dân số nhanh đã là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái ĐDSH của Việt Nam. Sự gia tăng dân số dẫn đến tăng nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu khác trong khi lượng tài nguyên có hạn, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Hệ quả tất yếu dẫn tới là phải mở rộng đất nông nghiệp, xâm lấn vào đất rừng, làm suy thoái ĐDSH.



Sự nghèo đói.

Việt Nam được xếp loại là một trong những nước nghèo trên thế giới với gần 80% dân số sống ở nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông – lâm – ngư nghiệp, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Những người nghèo thường không có ruộng đất, phải sống dựa vào đất bạc màu, đất dốc, đất có độ phì kém, lại thiếu vốn đầu tư lâu dài cho sản xuất, buộc họ phải khai thác nhanh ruộng đất của mình hoặc phá rừng lấy đất canh tác.

Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội là mối quan hệ nhân quả. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của phát triển, là điều kiện để bảo vệ môi trường

Sự thay đổi trong thành phần HST

Chẳng hạn như mất hoặc suy giảm của một loài có thể dẫn đến sự suy giảm ĐDSH. Ví dụ, nỗ lực loại trừ chó sói châu Mỹ ở miền nam California dẫn đến việc giảm sút các quần thể chim hót trong vùng. Khi quần thể chó sói châu Mỹ giảm sút, quần thể con mồi của chúng, gấu trúc Mỹ, sẽ tăng lên. Do gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi số lượng chó sói ít hơn thì số lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là số lượng chim hót sẽ ít đi.



Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:

Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có nguy cơ tuyệt chủng và ở các nước nghèo. Hệ thống các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện và không được những người có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc. Do cuộc sống khó khăn nên những người dân bản địa đã tiến hành khai thác bất hợp pháp các loài động thực vật cung cấp cho thị trường, song các cấp chính quyền dường như không làm được nhiều để hạn chế tình trạng trên, thậm chí do nguồn lợi kinh tế rất lớn nên một số nhà chức trách còn tiếp tay cho các hoạt động phi pháp. Bên cạnh đó chính sách di dân đã làm cho rất nhiều diện tích rừng bị mất đi nhanh chóng. Các chính sách kinh tế sai lầm đã làm giá cả gia tăng nhanh và đẩy một bộ phận người dân thuộc vùng sâu, vùng xa, những vùng có mức độ ĐDSH cao nhất, ngày càng trở nên khốn khó, để tự nuôi sống mình và gia đình họ đã khai thác triệt để nguồn lợi sinh học tại địa phương.



  1. Giải Pháp

    1. Bảo tồn nguyên vị:

Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn (KBT) và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế Giới - IUCN thì có 6 loại KBT:

          - Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay KBT hoang dã).

          - Loại II: Vườn Quốc gia chủ yếu để bảo tồn các HST và sử dụng vào mục đích du lịch, giải trí, giáo dục.

          - Loại III: Công trình thiên nhiên chủ yếu để bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt.

          - Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay một số loài đặc biệt cần bảo vệ.

          - Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí, du lịch.

- Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các HST và tài nguyên thiên nhiên.

Bảng: Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam



T.T

Loại

Số lượng

Diện tích (ha)

I

Vườn Quốc gia

30

1.041.956

II

Khu Bảo tồn thiên nhiên

60

1.184.372

IIa

Khu dự trữ thiên nhiên

48

1.100.892

IIb

Khu bảo tồn loài/sinh cảnh

12

83.480

III

Khu Bảo vệ cảnh quan

38

173.764




Tổng cộng (Khu bảo tồn)

128

2.400.092

Nguồn: Số liệu thống kê đến 10/2006- Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra quy hoạch rừng

    1. Bảo tồn chuyển vị:

Bảo tồn chuyển vị là biện pháp chuyển dời và bảo tồn các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ. Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy...Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật đựoc lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH.

    1. Bảo tồn trang trại:

Hình thức này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt cho sự bảo tồn một số giống cây trồng địa phương, có đặc tính nông sinh học quý như vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi Đoan Hùng, các loại cây có giá trị: hồi, quế...

    1. Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn:

    2. Hồi phục và khôi phục các loài, chủng quần và HST

  1. Giải Pháp

    1. Xây dựng nguồn nhân lực:

- Lớp ngắn hạn về khoa học chuyên ngành, về kỹ thuật quản lý, hay về vấn đề hành chính.

- Lớp đại học hay sau đại học về chuyên ngành trong nước hay ngoài nước.

- Hội thảo, tập huấn về vấn đề riêng.

- Trao đổi khoa học, kinh  nghiệm giữa các nước hay các cơ quan khoa học, viện nghiên cứu.

- Tập huấn ngắn ngày cho cán bộ thực địa.

- Chương trình soạn thảo tài liệu chuyên môn và phân phát tài liệu.

- Tổ chức xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, địa phương có sự tham gia của các cơ quan chính phủ, các cộng đồng địa phương, các tổ chức kinh doanh, các nhóm dân tộc và những có liên quan.


    1. Mở rộng các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức về ĐDSH:

- Giáo dục trong nhà trường: Cần chính thức đưa vấn đề bảo tồn ĐDSH vào nội dung giáo dục chính quy trong tất cả các trường học, từ lớp mầm non đến các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Nội dung giáo dục môi trường, trong đó có ĐDSH nhất thiết phải được đưa vào chương trình đào tạo ở các trường dạy nghề, các trường trung học chuyên nghiệp và các trường đại học, đặc biệt là các trường sư phạm các cấp, các trường nội trú ở miền núi. Do tính chất liên ngành mà nội dung ĐDSH có thể lồng ghép vào nội dung  của nhiều môn học khác như Sinh học, Địa lý, Văn học, Hoá học, Giáo dục công dân, sinh hoạt ngoại khoá.

- Giáo dục ngoài nhà trường: Nâng cao nhận thức về ĐDSH nhất thiết phải được đẩy mạnh thực hiện ngoài phạm vi nhà trường mà đối tượng là đông đảo quần chúng, cộng đồng dân cư, nhất là những người sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên sinh học. Công việc này cũng cần được thực hiện ở những nơi có đông đảo nhân dân đến thăm như các bảo tàng, vườn thú, vườn thực vật, vườn quốc gia, KBT thiên nhiên,...

- Thành lập bộ phận chuyên trách về giáo dục, nâng cao nhận thức về ĐDSH, đảm nhận công tác giáo dục ĐDSH như:

+ Xây dựng chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức về ĐDSH.

+ Nghiên cứu và xây dựng các hình thức giáo dục về nâng cao nhận thức ĐDSH phù hợp với từng đối tượng, từng lứa tuổi.

+ Tổ chức tờ tin về giáo dục và truyền thông ĐDSH.

+ Xây dựng mạng lưới giáo dục, liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác giáo dục, nâng cao nhận thức ĐDSH.


    1. Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng:

- Giải quyết được các mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên bao gồm cả ĐDSH.

- Quản lý và sử dụng ổn định bền vững tài nguyên thiên nhiên.

- Hạn chế các mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn thiên nhiên.

- Giảm thiểu được các tác động tới đa dạng sinh học và môi trường sống tự nhiên.

- Giảm thiểu mức đầu tư ngân sách nhà nước đối với công tác bảo tồn thiên nhiên;….

Giảm sức ép về dân số:

- Có những chính sách, giải pháp mạnh mẽ, được thể chế hoá thành các văn bản pháp quy.

- Bảo đảm kinh phí cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình. Thực hiện phương thức quản lý các nguồn kinh phí theo chương trình mục tiêu, bảo đảm phân bổ và sử dụng có hiệu quả.

- Kiện toàn Uỷ ban dân số và kế hoạch hoá gia đình các cấp từ Trung ương đến cơ sở.

- Tăng cường công tác thông tin về dân số, tuyên truyền rộng rãi các chủ trương và biện pháp kế hoạch hoá gia đình, thực hiện giáo dục dân số với nội dung thích hợp, hình thức đa dạng, có sự tham gia của toàn xã hội.

- Cung cấp đầy đủ, kịp thời dụng cụ, phương tiện theo yêu cầu của người sử dụng. Từng bước đa dạng hoá các biện pháp trành thai, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, an toàn và thuận tiện.

- Có chính sách khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với những cặp vợ chồng tích cực thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.



    1. Bảo tồn đa dạng sinh học bằng pháp chế:

      1. Các bộ luật quốc gia:

Luật tuân theo quy định bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH phải tuân thủ nguyên tắc:

- Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý ĐDSH; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý ĐDSH với việc xóa đói, giảm nghèo.

- Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ.

- Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng ĐDSH phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan

- Bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân.

- Bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với ĐDSH…

Luật cấm các hành vi:

- Săn bắt, đánh bắt, khai thác loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ việc vì mục đích nghiên cứu khoa học.

- Lấn chiếm đất đai, phá hoại cảnh quan, hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên, nuôi trồng các loài ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn.

- Xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.      

- Xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn.

-  Điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản; chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô trang trại, nuôi trồng thuỷ sản quy mô công nghiệp.

- Cư trú trái phép, gây ô nhiễm môi trường trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn…


      1. Các thoả thuận quốc tế:

Hợp tác quốc tế là một điều kiện tiên quyết vì nhiều lí do khác nhau:

- Trước hết, các loài thường di chuyển qua các biên giới. Các hoạt động bảo tồn chim di cư ở phía Bắc Châu Âu sẽ không thể thành công nếu nơi cư trú qua mùa đông của chim tại Châu Phi bị phá hủy.

- Thứ hai, việc buôn bán quốc tế về các sản phẩm sinh học có thể gây nên hậu quả là sự khai thác quá mức các loài nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại. Việc quản lí và kiểm soát buôn bán đòi hỏi phải cả trên lĩnh vực xuất và nhập khẩu.

- Thứ ba, những lợi ích của đa dạng sinh học là có tầm quan trọng quốc tế. Các quốc gia giàu có thuộc vùng ôn đới được hưởng lợi ích từ tính đa dạng sinh học của vùng nhiệt đới cần phải sẵn sàng giúp đỡ các nước nghèo khó hơn nhưng đã tham gia thực hiện việc bảo tồn các nguồn đa dạng sinh học đó.

- Cuối cùng, rất nhiều vấn đề của các loài hay các hệ sinh thái bị đe dọa có qui mô toàn cầu nên đòi hỏi sự hợp tác quốc tế để giải quyết. Những mối đe dọa như vậy bao gồm đánh bắt thủy sản quá mức, ô nhiễm không khí và mưa acid, ô nhiễm sông, hồ và đại dương, biến đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái tầng ôzôn.


  1. Kêt Luận

Việc bảo tồn ĐDSH ít được quan tâm vì sự mất mát về đa dạng sinh học, đặc biệt là ở biển ít được nhìn thấy; sự mất mát này không tác động ngay lập tức và trông thấy được trong cuộc sống hàng ngày; đa số quần chúng ít cảm nhận được lợi ích trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều lý do được đưa ra để mọi người thấy được việc bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết ví dụ như: phục vụ cho mục đích sử dụng trong hiện tại và tương lai các nhân tố của đa dạng sinh học như các nguồn tài nguyên sinh học; phục vụ cho việc duy trì sinh quyển trong trạng thái có thể hỗ trợ cho cuộc sống của con người; phục vụ bảo tồn bản thân đa dạng sinh học mà không vì một mục đích nào khác, đặc biệt tất cả các loài đang sống hiện nay.

Trong thời đại ngày nay, bảo vệ đa dạng sinh học đang được quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng lẽ của từng quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Bởi vì bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như sự hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu.

Mục tiêu của bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững đều hướng tới sự thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người về tất cả mọi mặt. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi có sự liên kết, hỗ trợ giúp đỡ giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học, các doanh nghiệ, cộng đồng,...nhằm làm cho quá trình phát triển không ảnh hưởng tới các hoạt động bảo tồn và hoạt động bảo tồn sẽ hỗ trợ ngày càng tốt hơn cho quá trình phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
http://tailieu.vn/

http://huegreencorridor.org/resources/DATA/GCP_Bach%20Ma%20NP%20Extension/Bach%20Ma_Community%20Awareness%201_VN.pdf

http://thuviensinhhoc.violet.vn/present/show/entry_id/457861

http://yeumoitruong.com/forum/archive/index.php/t-2622.html





1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương