Trần Thành Đạt Nhóm thực hiện: Tăng Thị Tâm



tải về 401.83 Kb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu10.01.2019
Kích401.83 Kb.
1   2   3   4

Đặc Trưng

  1. Đặc trưng đa dạng nguồn gen:

  • Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam rất phong phú. Riêng kiểu gen cây lúa có đến hàng trăm kiểu hình khác nhau, thể hiện ở gần 400 giống lúa khác nhau.

  • Các kiểu gen ở Việt Nam thường có nhiều biến dị, đột biến. Trong đó có những biến dị xảy ra dưới tác động của các yếu tố tự nhięn (sấm, chớp, bức xạ..), có những đột biến xảy ra do những tác nhân nhân tạo. Đây lŕ một trong những nguồn tạo giống mới.

  • ĐDSH gen ở Việt Nam chứa đựng khả năng chống chịu vŕ tính mềm dẻo sinh thái cao của các kiểu gen.

      1. Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam:

  • Số lượng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn. Tính ra bình quân trên 1 km2 lãnh thổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật, gần 7 loài động vật, với mật độ hŕng chục nghìn cá thể. Đây là một trong những mật độ đậm đặc các loài sinh vật so với thế giới.

  • Cấu trúc loài rất đa dạng. Do đặc điểm địa hình, do phân hóa các kiểu khí hậu, cấu trúc các quần thể trong nội bộ loài thường rất phức tạp. Có nhiều loài có hàng chục dạng sống khác nhau.

  • Khả năng thích nghi của loài cao. Thích nghi của các loài được thực hiện thông qua các đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua chuyển đổi cấu trúc loŕi. Loài sinh vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của các yếu tố và điều kiện ngoại cảnh.

Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v.

      1. Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam:

Tính phong phú và đa dạng của các kiểu hệ sinh thái: Với một diện tích không rộng, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau. Ở từng vùng địa lý không lớn cũng tồn tại nhiều kiểu hệ sinh thái.

  • Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái rất giàu. Cấu trúc quần xã trong các hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh. Điểm đặc trưng này làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới.

  • Tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng một loài sinh vật. Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếp nhau làm tăng tính bền vững của các hệ sinh thái. Các mối quan hệ năng lượng được thực hiện song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậc thông qua các nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tiêu thụ), hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗi quan hệ mà ở nhiều nước khác trên thế giới không có được.

  • Các hệ sinh thái ở Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái cao, thể hiện ở sức chịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hoà và hạn chế các tác động có hại; khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồng hóa các tác động từ bęn ngoài.

  • Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm. Tính mềm dẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ đó luôn ở trong trạng thái hoạt động mạnh, vì vậy, thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể cả các tác động của thiên nhiên, cũng như những tác động của con người.

  1. Tầm quan trọng của ĐDSH Việt Nam:

    1. Giá trị sinh thái và môi trường

Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người. Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực): ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng.

Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước. Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con người trong quá trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn đất, sạt lở đất, hoang mạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán... hoặc gây ô nhiễm môi trường đất và nước.

Điều hòa khí hậu: quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu địa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hòa nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua khả năng quang hợp... Phân hủy các chất thải

Các quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp phụ, hấp thụ và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác.



    1. Giá trị kinh tế

Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một giá trị tương đương 33.000 tỷ USD/năm. Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD. Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD. Ngành nông - lâm nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn. Với giá khoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy, ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 - 3,5 tỷ USD. Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cung cấp các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu và cũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần 1,1% và ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP. Theo số liệu thống kê năm 1995, nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm. Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20 triệu USD.

Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nęu khái quát về các mặt sau đây:

- Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên ĐDSH.


- ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.

- ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đường, bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều...

- ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông sản.


    1. Giá trị xã hội và nhân văn

Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc tręn thế giới, một số loài động vật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng như vai trò của già làng, trưởng bản trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng.
Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động, thực vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), lễ hội đua thuyền... Nhiều loài cây, con vật đă trở thành thiêng liêng hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề dệt thổ cẩm, làm hương, làm hàng mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con người Việt Nam với ĐDSH.

Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích làm bầu bạn với con người hoặc thuần hóa để chăn nuôi làm thực phẩm sử dụng hàng ngày.


Rất nhiều thú vui của con người được tạo nên thông qua việc tổ chức tham quan, theo dõi tập tính của nhiều loài động vật hoang dã. Gần đây, ngành du lịch sinh thái đã hình thành và đang phát triển rộng rãi trên cơ sở sự ham hiểu biết thiên nhiên của con người đồng thời cũng là điều kiện để nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo tồn thiên nhiên cũng như làm cho con người gần gũi hơn, thân thiện hơn với thiên nhiên hoang dã.

Giá trị xã hội - nhân văn của ĐDSH thể hiện tập trung ở các mặt sau đây:

- Tạo nhận thức, đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẩm mỹ công bằng của người dân. Qua các biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hình thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu, nhiều hương vị của thế giới sinh vật con người trở nên hiền hòa, yêu cái đẹp.

- ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước.

- ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người. Điều này đặc biệt có giá trị trong thời đại công nghiệp, trong cuộc sống hiện tại căng thẳng và đầy sôi động.

- ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc bảo đảm an toàn lương thực, thực phẩm, thỏa mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn mặc, tham quan du lịch và thẩm mỹ.



  1. Sự suy giảm của đa dạng sinh học ở Việt Nam

Thực trạng của đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay:

- Các hệ sinh thái tự nhiến bị suy thoái.

- Các loài tự nhiên bị suy giảm.

- Nguồn gen cây trồng vật nuôi bị suy giảm.

Trong tiến trình lịch sử của sự phân hoá và tiến hoá, số lượng các loài còn nhiều gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ trái đất và của khí hậu toàn cầu. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất đa dạng sinh học.

Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Suy giảm hệ sinh thái:

Hệ sinh thái rừng bị tổn thất nặng nề:

Diện tích rừng bị thu hẹp. Rừng bị khai thác: 120.000-250.000 ha/năm.

Độ che phủ rừng bị giảm sút tới mức báo động: độ che phủ của rừng năm 1943 là 43% thì nay chỉ còn 28.8% (Phạm Bình Quyền-2005).

Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã xác định chỉ tiêu thảm rừng che phủ đất đai lãnh thổ các quốc gia thuộc miền Nhiệt đới ở mức >33%, dưới đó là báo động môi trường.


  • Tình trạng mất rừng hầu hết xảy ra ở các rừng phòng hộ xung yếu. VD: Độ che phủ của rừng tự nhiên ở một số lưu vực các sông như sau:

- Lưu vực sông Đà: <11%.

- Lưu vực sông Hồng: 23%.

- Lưu vực sông Đồng Nai: 25%.

- Lưu vực sông Ba (Gia Lai): <23%.



  • Chất lượng rừng bị giảm: bị thu hẹp và chia cắt. (rừng nguyên sinh, rừng giàu chỉ còn <13% tổng diện tích rừng). Độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm (rừng tái sinh chiếm 55% tổng diện tích rừng) (nguồn: Bộ TNMT, 2007).

Suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước: đầm phá Tam Giang, rừng ngập mặn Cần Giờ, rừng U Minh Thượng, ...

  • Suy thoái về số lượng: diện tích bị giảm...

  • Suy thoái về chất lượng: 70% diện tích đất ngập nước bị ô nhiểm (nguồn: Bộ TNMT, 2009).

  • Rừng ngập nước và tràng cỏ ngập nước ở đồng bằng Bắc Bộ (>1,7 triệu ha) và đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 3,9 triệu ha) đã chuyển đổi thành đất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (Bộ TNMT, 2007).

  • Diện tích đất ngập nước hiện nay: chỉ còn 10 triệu ha (Bộ TN&MT, 2009).

  • Rừng ngập mặn: diện tích rừng ngập mặn đã giảm 183.724 trong 20 năm qua (Bộ TN&MT, 2008).

  • Các hệ sinh thái đầm phá và trảng cỏ ở miền trung cũng suy thoái nặng nề do khai thác thuỷ hải sản không bền vững và mở rộng nuôi trồng thuỷ sản.

  • Các hệ sinh thái đất ngập nước thuộc các sông hề cũng bị khai thác cạn kiệt và do xây dựng cơ sở hạ tầng

  • Mở rộng đất ngập nước để nuôi trồng thuỷ sản làm suy gimr tài nguyên sinh học tại chỗ: mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên cạn. (nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở Nam triệu - Hải Phòng cho thấy sinh khối động vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận rừng ngập mặn).

  • Làm mất nguồn thức ăn phong phú của nhiều sinh vật vùng triều, hậu quả là sản lượng cá, tôm, cua đánh bắt ở ngoài biển cũng giảm...

Hầu hết hệ sinh thái biển khơi ở Việt Nam đều đang bị suy thoái do: khai thác quá mức  huỷ diệt; ô nhiễm... dẫn đến hậu quả là : thay đổi cấu thúc quần xã thuỷ sinh. Giảm mật độ các loài thuỷ sản. 80 loài hải sản bị đe doạ, 70 loài được đưa vào sách đỏ, 20 loài chim bị đe doạ toàn cầu.

Sự suy giảm các loài tự nhiên: 855 loài bị đe doạ tuyệt chủng (so với hơn 700 loài trong những năm 1992 - 1996) và ít nhất 10 loài khác đã không còn tồn tại tại ở Việt Nam. Trong đó: Động Vật là 407 loài (90 loài thú, 74 loài chim, 40 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 36 loài cá nước ngọt, 53 loài cá biển, 101 loài động vật không xương sống) thực vật là 448 loài.

Suy giảm nguồn gen giống vật nuôi và cây trồng: các giống cây trồng và vật nuôi đang bị mai một (theo tính toán, 80 % giống cây trồng bản địa đã mất, giống vật nuôi suy giảm gần 10 % một năm)  sự mất mát nguồn gen là thiệt hại cho cả nhân loại.

Bảng: sự suy giảm diện tích và mất mát giống cây trồng bản địa từ 1970 đến 1999


Giống cây

Giảm diện tích

gieo trồng(%)



Tỷ lệ mất giống

địa phương (%)



Lúa

50

80

Ngô, đậu

75

50

Cây có củ

75

20

Chè và đay

20

90

Cây ăn quả

50

70




  1. Đa Dạng Sinh Học Ở Thế Giới Và Việt Nam

Trên phạm vi toàn thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để có thể hoàn thiện được danh mục đầy đủ các loài. Mỗi năm các nhà phân loại trên thế giới mô tả được khoảng 11.000 loài (chiếm từ 10 đến 30% các loài có trên thế giới), và như vậy, để có thể mô tả hết các loài trên thế giới (ước tính 10 đến 30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đa bị tuyệt chủng trước khi chúng được mô tả và đặt tên.

Xét về đa dạng loài một cách cụ thể, ta có thể xem xét đa dạng loài theo các nhóm sinh vật. Như vậy, ta sẽ có: đa dạng vi sinh vật, tảo, thực vật không mạch, thực vật có mạch, côn trùng, động vật không xương sống, động vật có xương sống (xem bảng 2.1).

Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô, các hồ lớn ở vùng nhiệt đới và ở các biển sâu. Trong các rạn san hô, và các biển sâu, sự đa dạng sinh học thuộc nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự đa dạng trong các biển sâu nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định của môi trường cũng như vào sự biệt hoá của các loại nền đáy khác nhau.

Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích trái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới. Khoảng 40% loài thực vật có hoa trên thế giới (100.000 loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên thế giới phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới.

Bảng: Thành phần các loài


Loài

Số lượng

Côn trùng

751000

Sinh vật đơn bào

30000

Thực vật

248500

Tảo

26900

Nấm

69000

Vi khuẩn

4800

Virus

1000

Động vật khác

281000

[Nguồn: Nguyễn Nghĩa Thìn ]

Rạn san hô tạo nên một nơi tập trung khác về loài. Các loài san hô bé nhỏ tạo ra các hệ sinh thái san hô vĩ đại, là vùng biển tương đương với rừng nhiệt đới về sự phong phú loài và độ phức tạp. Rạn san hô lớn nhất thế giới là rạn San Hô Lớn (Great Barrier Reffs) ở bờ biển phía đông nước Úc, có diện tích là 349.000 km2. Rạn san hô này có hơn 300 loài san hô, 1500 loài cá, 4000 loài thân mềm, 5 loài rùa biển và là nơi sinh sản của khoảng 25 loài chim. Rạn san hô này chiếm 8% loài cá trên thế giới mặc dù chúng chỉ chiếm 0,1% diện tích đại dương. Bảng 5 dưới đây mô tả sự đa dạng về loài trên thế giới. Sự đa dạng về loài sẽ còn được đề cập ở phần sau, về các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng loài.

Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có đa dạng sinh học cao trên thế giới. Đến nay đã ghi nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam, trong đó có 4528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao, 10% trong số đó là các loài đặc hữu. Về động vật, đã thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.

Đa dạng loài ở Việt Nam có các đặc trưng sau:

- Số lượng loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn. Bình quân trên 1km2 lãnh thổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật và gần 7 loài động vật, một mật độ đậm đặc.

- Cấu trúc loài rất đa dạng. Nhiều loài có hàng chục dạng sống khác nhau. Cấu tạo quần thể thường rất phức tạp.

- Khả năng thích nghi của loài cao. Sinh vật Việt Nam nói chung có khả năng chống chịu cao với mọi biến đổi của ngoại cảnh.

Bảng: Số lượng các loài sinh vật hiện đang sống trên Trái đất đã được mô tả (theo Lê Vũ Khôi)



Nhóm sinh vật

Số loài

Nhóm sinh vật

Số loài

Vi rút

1

Giun tròn

12.2

Vi khuẩn

1

Giun đốt

12

Thực vật đơn bào

4.76

Thân mềm

50

Nấm

70

Da gai

60

Tảo

26.9

Chân khớp

874.16

Địa y

18

Côn trùng

751

Rêu

22

Động vật có bao

1.25

Dương xỉ

12

Động vật đầu sống

23

Thông đất

1.275

Cá không hàm

63

Thực vật hạt trần

750

Cá sụn

843

Thực vật hạt kín

250

Cá xương

18.15

Động vật nguyên sinh

30

Lưỡng cư

4.2

Thân lổ

5

Bà sát

6.3

Ruột khoang & Sứa lược

9

Chim

9.6

Giun dẹp

12.2

Thú

4.17

Bảng: Đánh giá số loài đã được mô tả (Lecointre and Guyader, 2001)

Bậc phân loại

Tên thường gọi

Số loài mô tả

% số loài đã được mô tả

Bacteria

Vi khuẩn

9.021

0,50

Archaea

Vi khuẩn cổ

259

0,01

Bryophyta

Rêu

15

0,90

Lycopodiophyta

Thông đất

1.275

0,07

Filicophyta

Dương xỉ

9.5

0,50

Coniferophyta

Ngành Thông

601

0,03

Magnoliophyta

Thực vật hạt kín

233.885

13,40

Fungi

Nấm

100.8

5,80

"Porifera"

Bọt biển

10

0,60

Cnidaria

Ruột khoang

9

0,50

Rotifera

Trùng Bánh xe

1.8

0,10

Platyhelminthes

Giun dẹp

13.78

0,80

Nematoda

Giun tròn

20

1,10

Mollusca

Thân mềm

117.495

6,70

Annelida

Giun đốt

14.36

0,80

Crustacea

Giáp xác

38.839

2,20

Arachnida

Nhện

74.445

4,30

Insecta

Côn trùng

827.875

47,40

Echinodermata

Da gai

6

0,30

Chondrichthyes

Cá sụn

846

0,05

Actinopterygii

Cá xương

23.712

1,40

Amphibia

Lưỡng thê

4.975

0,30

Reptilia

Bò sát

7.14

0,42

Aves

Chim

9.672

0,60

Mammalia

Thú

4.496

0,30

Các nhóm khác

 

193.075

11,00

Bảng: Sự phong phú về thành phần loài sinh vật ở Việt Nam

Nhóm sinh vật

Số loài đã xác định được

Số loài có trên thế giới

Tỷ lệ (%) giữa VN/TG

1.Vi tảo










- Nước ngọt

1438

15000

9.60%

- Biển

537

19000

2.80%

2.Rong-cỏ










- Nước ngọt

20

2000

1%

- Biển

667

10000

6.70%

3.Thực vật bậc cao

khoảng 11400

220000

5%

- Rêu

1030

22000

4.60%

- Nấm lớn

826

50000

1.60%

4.Động vật không xương sống ở nước










- Nước ngọt

794

80000

1%

- Biển

Khoảng 7000

220000

3.20%

5.Động vật không xương sống ở đất

Khoảng 1000

30000

3.30%

6.Giun sán ký sinh ở gia súc

161

1600

10%

7.Côn trùng

7750

250000

3.10%

8.Cá










- Nước ngọt

Trên 700







- Biển

2458







9.Bò sát

296

6300

4.70%

Bò sát biển

21







10.Lưỡng cư

162

4184

3.80%

11.Chim

840

9040

9.30%

12.Thú

310

4000

7.50%

Thú biển

25







(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Cục bảo vệ và phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản, Phạm Bình Quyền, 2005)


1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương