Trích từ icsc bài Đọc và Suy Niệm Chúa Nhật XXIV năm C



tải về 39.69 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu09.11.2018
Kích39.69 Kb.

Trong số những chủ đề chính bài phúc âm hôm nay khi chúng ta nghe câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng của Đức Giêsu về người con hoang đàng là sự tha thứ và sự cần thiết phải ăn năn. Nhưng từ quan điểm về quản lý một trong những chủ đề thứ hai cũng là một điều thú vị: sự thất bạitrong việc sử dụng có trách nhiệm những món quà đã được ban cho một cách rộng lượng. Người con trai út đòi quyền thừa kế của mình và rời khỏi nhà, đã không phá vỡ luật lệ hay điều răn tôn giáo. Việc làm sai trái của anh ta chỉ là anh đã lãng phí tài sản thừa kế của anh, quà tặng quá đầy đủ cho anh ta. Tội lỗi của anh chính là cuộc sống xa hoa của mình; lãng phí món quà Thiên Chúa ban cho anh trong việc theo đuổi những thú vui ích kỷ. Người quản lý nhà Chúa thừa nhận rằng tất cả mọi thứ họ có đều đến từ Thiên Chúa, và họ được yêu cầu sử dụng những món quà đó với trách nhiệm. Quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta là gì? Chúng ta có sử dụng chúng với thái độ có trách nhiệm không? Chúng ta có thực hiện việc quản lý chúng cho tốt hơn không? Trích từ ICSC

 

Bài Đọc và Suy Niệm Chúa Nhật XXIV Năm C (Luca 15:11-32)

 

Khi ấy Đức Giê-su nói: "Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

"Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy. Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

"Bấy giờ người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa... " Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. " Và họ bắt đầu ăn mừng.

"Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ. Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: "Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!

"Nhưng người cha nói với anh ta: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy."

 

Bối Cảnh

 

Người Em:

Phong tục Do-thái không ngăn cấm nhưng cũng không tán thành việc người cha chia gia tài cho con mình lúc mình còn sống. Nếu người cha chia gia tài lúc còn sống thì ông ta vẫn được sử dụng tài sản mà mình đã chia cho các con, nghĩa là những người con trai vẫn phải có bổn phận lo cho cha mình cho tới lúc ông chết. Về phần người em, thực sự anh ta đã tàn nhẫn đòi chia gia tài khi cha mình còn sống nhăn răng ra đó.

Từ sự tàn nhẫn đối với cha già, anh ta càng chìm sâu hơn vào vòng tục lụy. Bán phần tài sản của để lấy tiền ra đi là thái độ vừa coi khinh gia đình vừa coi thường hàng xóm láng giềng: họ sẽ rất bực bội với anh ta. Rồi đem tiền đi phung phí giữa đám người ngoại càng nói lên sự khinh thường của anh ta đối với người Do-thái.

Khi nạn đói đến, anh ta đành phải bám víu vào những kẻ có tiền của trong đám dân ngoại. Khi người chủ mướn anh ta chăn heo là có ý sỉ nhục thậm tệ một người Do-thái: heo là loại thú ô uế, không người Do-thái nào muốn đến gần chúng. Dù đói lả, anh ta cũng chẳng được chủ cho phép ăn đồ ăn của bầy heo. Một cách cụ thể, anh ta đã hạ phẩm giá của mình xuống dưới lũ heo dơ bẩn!

Trong nỗi nhục nhã ê chề, anh ta mới chịu suy nghĩ lại hành động của mình. Suy nghĩ đầu tiên của anh vẫn là cái bụng: anh đang đói khổ hơn những người đầy tớ trước kia của mình. Hơn thế nữa, không chu toàn bổn phận chăm sóc cha già cũng là một tội tày trời. Thế là anh quyết định nuốt nhục, trở về nhà cha, dù chỉ mong được đón nhận như kẻ làm thuê. Anh cũng biết là những ánh mắt và thái độ của dân làng dành cho anh sẽ là những nhát dao chém vào lòng và gánh nặng trên vai mình. Nhưng thà vậy còn hơn chết đói!

 

Người Anh:

Anh ta biết phong tục không đồng ý việc chia tài sản khi cha còn sống, nhưng anh cũng không phản đối! Một cách ngấm ngầm, anh cũng muốn phần tài sản về riêng mình sớm hơn tập quán cho phép. Anh cũng chẳng tìm cách ngăn cản đứa em bất hiếu.

Khi thằng em hoang đàng trở về, anh ta không hề tôn trọng quyết định tha thứ cho em của cha mình. Hơn thế nữa, theo tục lệ, sau khi nhận gia tài, anh đã trở thành gia trưởng và sẽ là người chủ tiệc cho bữa tiệc đón em trở về; nhưng anh cũng chối từ vai trò ấy.

Lúc anh nói lên sự phản đối với cha, anh đã không gọi cha mình bằng tước vị như đứa em “Thưa cha,” mà anh lại gọi xách mé “Cha coi.” Rồi anh gán cho cha cái tội thiên vị là: chào đón thằng em hỗn hào bằng bữa tiệc với dê béo, còn mình vâng phục ngoan ngoãn thì chẳng được con dê con làm tiệc đãi bạn. Anh cũng muốn tử đứa em khi gọi nó là “thằng con của cha.” Nhất là anh gán cho em mình cái tội đem hết tiền của đi cúng gái điếm, mặc dù bản văn không hề đề cập đến gái điếm, mà chỉ nói hắn sống phóng đãng và phung phí của cải. Nói chung, người anh cũng tàn nhẫn với cha mình không kém đứa em!

 

Người Cha:

Khi người em đòi chia tài sản, người cha đã không nổi nóng trừng phạt thằng con mất dạy, nhưng âm thầm chấp nhận. Khi người anh không phản đối việc chia gia tài, ông cũng rất buồn, nhưng cũng chỉ âm thầm chịu đựng.

Rồi lúc người em trở về, người cha đã không màng danh phận của một người đã cao tuổi, chạy dọc theo đường làng để đón đứa con trở về. Con chưa kịp nói xong câu xin lỗi, ông đã vội ôm chầm lấy nó, hôn lấy hôn để, nói lên lòng tha thứ không điều kiện. Ông đã hòa giải với con một cách trọn vẹn.

Trao cho đứa con bất hiếu cái áo đẹp nhất, chiếc nhẫn giá trị, và đôi dép tốt, là ông muốn khôi phục lại tư cách làm con của người em. Sai đầy tớ giết con bê béo là ông muốn mời cả làng tới dự tiệc, vì một con bê đủ thịt ăn cho cả hơn một trăm người. Bữa tiệc đó là để ông cho người em được hòa giải với cả dân làng.

Còn đối với người anh, đối đáp với câu nói hỗn hào, “Cha coi,” ông vẫn tử tế gọi người anh “Con à.” Ông bảo đảm với người anh là tất cả tài sản vẫn thuộc về anh. Ông nhã nhặn mời anh vào làm chủ tiệc.

 

Câu Hỏi Suy Niệm

 

● Để cho việc ăn năn sám hối trở về của mình là chân thực, người em phải biến đổi thái độ “trở về vì không muốn bị chết đói” thành sự hoán đổi phát xuất từ sự nhận thức về lỗi lầm to lớn của mình và đền đáp lại tình thương bao la của cha mình. Anh ta sẽ làm được như vậy không? Mỗi người chúng ta cũng được hỏi như vậy: trong những sa ngã lỗi lầm của đời mình, đâu là động cơ thúc đẩy mình sám hối: sợ tội, sợ chết, sợ xuống hỏa ngục, hay hối lỗi, đáp đền tình thương, và quyết tâm thăng tiến?

 

● Để sống xứng đáng với lòng bao dung đại lượng của người cha, người anh cũng phải chân thành hòa giải với người em, chu toàn vai trò chủ tiệc, hòa giải đức em với cả dân làng, để từ đ1o trở đi, gia đình sẽ được tái tạo hòa thuận đầm ấm như trước khi đứa em bỏ nhà ra đi. Mỗi người chúng ta có dễ tha thứ hòa giải với người thân sa ngã lỗi phạm không? Chúng ta có muốn giúp người thân mình hòa giải với Chúa và với gia tộc bà con không?



 

Lm. Vũ Minh Đức, SJ

 

September 11, 2016



24th Sunday in Ordinary Time

Luke 15:1-32
1 The tax collectors and sinners were all drawing near to listen to him [Jesus], 2 but the Pharisees and scribes began to complain, saying, "This man welcomes sinners and eats with them."

3 So to them he addressed this parable. 4 "What man among you having a hundred sheep and losing one of them would not leave the ninety-nine in the desert and go after the lost one until he finds it? 5 And when he does find it, he sets it on his shoulders with great joy 6 and, upon his arrival home, he calls together his friends and neighbors and says to them, 'Rejoice with me because I have found my lost sheep.' 7 I tell you; in just the same way there will be more joy in heaven over one sinner who repents than over ninety-nine righteous people who have no need of repentance.

8 "Or what woman having ten coins and losing one would not light a lamp and sweep the house, searching carefully until she finds it? 9 And when she does find it, she calls together her friends and neighbors and says to them, 'Rejoice with me because I have found the coin that I lost.'

10 In just the same way, I tell you, there will be rejoicing among the angels of God over one sinner who repents." 11 Then he said, "A man had two sons, 12 and the younger son said to his father, 'Father, give me the share of your estate that should come to me.' So the father divided the property between them.

13 “After a few days, the younger son collected all his belongings and set off to a distant country where he squandered his inheritance on a life of dissipation. 14 When he had freely spent everything, a severe famine struck that country, and he found himself in dire need. 15 So he hired himself out to one of the local citizens who sent him to his farm to tend the swine. 16 And he longed to eat his fill of the pods on which the swine fed, but nobody gave him any.

17 Coming to his senses he thought, 'How many of my father's hired workers have more than enough food to eat, but here am I, dying from hunger. 18 I shall get up and go to my father and I shall say to him, "Father, I have sinned against heaven and against you. 19 I no longer deserve to be called your son; treat me as you would treat one of your hired workers."

20 “So he got up and went back to his father. While he was still a long way off, his father caught sight of him, and was filled with compassion. He ran to his son, embraced him and kissed him. 21 His son said to him, 'Father, I have sinned against heaven and against you; I no longer deserve to be called your son.' 22 But his father ordered his servants, 'Quickly bring the finest robe and put it on him; put a ring on his finger and sandals on his feet. 23 Take the fattened calf and slaughter it. Then let us celebrate with a feast, 24 because this son of mine was dead, and has come to life again; he was lost, and has been found.' Then the celebration began.

25 “Now the older son had been out in the field and, on his way back, as he neared the house, he heard the sound of music and dancing. 26 He called one of the servants and asked what this might mean. 27 The servant said to him, 'Your brother has returned and your father has slaughtered the fattened calf because he has him back safe and sound.' 28 He became angry, and when he refused to enter the house, his father came out and pleaded with him. 29 He said to his father in reply, 'Look, all these years I served you and not once did I disobey your orders; yet you never gave me even a young goat to feast on with my friends. 30 But when your son returns who swallowed up your property with prostitutes, for him you slaughter the fattened calf.' 31 He said to him, 'My son, you are here with me always; everything I have is yours. 32 But now we must celebrate and rejoice, because your brother was dead and has come to life again; he was lost and has been found.'"


BACKGROUND:

The gospel for last week focused on being prepared for the difficulties and alienation that Jesus’ disciples will inevitably encounter. Following last Sunday’s gospel is one of Jesus’ short teachings drawing on the experience of salt that has lost its usefulness. Luke then records Jesus telling the three parables that make up today’s gospel: parables about the lost sheep, the lost coin, and the lost son. The last parable was the gospel text for the fourth Sunday of Lent, and it may be omitted this Sunday in the optional shorter form of the gospel text.


The first verse of the text describes the situation. Jesus is associating with tax collectors and sinners. Traditional wisdom observed by the Pharisees would have seen a vast difference between feeding sinners and sitting down to dinner with one. The first was praiseworthy, the second unthinkable--because it made the person unclean and unfit for God’s realm. Jesus’ eating with sinners was an outrage to these scribes and Pharisees. In the three parables of this gospel text, Jesus addresses their attitude and their way of looking at what was God’s desire.
Shepherds were ritually unclean and looked down upon. Jesus’ question, "What man among you having lost a sheep…” is asking them to think of themselves as shepherds. This kind of question would be taken as an insult. The second parable does not ask this question directly but implies “Which woman among you, having ten coins, and losing one…?” There were no women among the scribes or the Pharisees. Women were considered inferior to men and, in Jesus’ era, men and women did not associate in public together. These parables have an edge to them that is not immediately apparent to the contemporary reader. What is apparent is the lavish response of both the shepherd and the woman when they find what has been lost. The joy cannot be contained – friends and neighbors are invited to join the celebration.
The third, and longest, parable has come to be known as the parable of the Prodigal Son. “Prodigal” can be used as either an adjective or a noun. As an adjective, it describes one who is excessive or extravagant. As a noun it means spendthrift. The text certainly suggests that the younger son is extravagant in the way he spent his inheritance. But it also hints that the older brother might have longed for the reckless abandon his younger brother enjoyed for a time. He accuses his father of favoritism and of not even giving him a goat to use in celebration with his friends. He is more concerned that he had not gotten his share of the estate to have his own celebration than he is concerned about his brother or how his father, brother, or their community understand his absence. Because there is no privacy in this culture, it must be presumed that all at the party are well aware of the argument that is taking place between the father and his oldest.
In terms of extravagance, the father outdoes both sons. The Father totally abandons his own interests and jeopardizes his reputation in the community. First, he gives the younger son his portion of the estate before his own death. He is risking his future means of support, in both the giving of the money to the son and in letting him abandon his responsibility to care for him in his old age. When the son returns, the father’s behavior is imprudent. He hosts a lavish party and risks his own reputation in the community, which has good reason to view him as man unable to manage his sons and his resources. But he kills the fatted calf, not a sheep or a goat. This provides enough food for the entire community. If they attend a banquet that celebrates the restoration of the son, they are bound to also accept the restored relationship.
It is the actions of the eldest son that connect the parables to the beginning of the gospel text. His attitude mirrors that of the scribes and Pharisees, who see themselves as faithfully fulfilling all their religious obligations, but they have lost the ability to be compassionate to the sinner. The parables that Jesus tells contrast the attitude of the scribes and Pharisees with God’s attitude. God cannot help but celebrate the return of the sinner. God’s joy cannot be contained, and it flows out to friends and neighbors as they are invited to join the celebration.
DISCUSSION QUESTIONS:

1. Do you ever complain to yourself or out loud to others? What are the feeling or attitudes that are the basis of your complaints?

2. What happens within you when you find something that you thought was lost? What would it take for you to call others to join in your joy of finding what was lost?

3. What kind of person would leave their other possessions in a dangerous situation in order to look for one that was lost?

4. What kind of person would assign a Jewish man the task of looking after his pigs?

5. Who in your community would be accused of “welcoming sinners and eating with them?” What kind of relationship do you have with these people?

6. Jesus asked the scribes and the Pharisees to imagine themselves as a shepherd and as a woman. What would be the equivalents for you? Why would Jesus ask you to think of yourself as a (this equivalent)? What might you learn about yourself?

7. What is it that keeps the older son from responding to his father’s request that he come inside and join the celebration?

8. Do you hear God saying: “'My son (daughter), you are here with me always; everything I have is yours”? What do you need in order to hear God speaking these words to you anew?

9. What does the gospel text say to you in your present relationship with God? How would you like to respond?


On Wednesday of each week, the Gospel and reflection questions are posted at the following link: http://il-ritiro.org/gospel-reflections.aspx. You are invited to share your own reflection and comments with others at this website.

The reflection and questions are written by



Fr. Paul Gallagher, OFM. They are edited by Sister Anne Marie Lom, OSF and Joe Thiel. The excerpts from the Sunday readings are prepared by Joe Thiel. To be added to the distribution list, send your name and email address to fr.paul.gallagher.ofm@gmail.com.

 



Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương