Tiêu chuẩn việt nam tcvn 8422: 2010



tải về 0.62 Mb.
trang5/8
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích0.62 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

6.10.3. Trường hợp tính toán V

Để tính toán cho trường hợp V sẽ thực hiện với các số liệu thực dưới đây:

Đất được bảo vệ là xói ngầm, các vật liệu khai thác tại mỏ vật liệu là không xói ngầm. Yêu cầu lựa chọn lớp thứ nhất của lọc từ các đất mỏ đã cho.

Số liệu ban đầu:

Thành phần hạt của đất thân đập (nền công trình) và các vật liệu khai thác tại mỏ vật liệu định dùng cho lớp thứ nhất của lọc ngược đã vẽ trên Hình 19.

Đường kính các hạt, mm

CHÚ DẪN

G) Thân đập;



1), 2) các vật liệu tại mỏ dùng cho lớp thứ nhất của lọc

Hình 19 – Thành phần hạt của vật liệu:

Số liệu của đất cần bảo vệ:

- Thành phần hạt d10 = 0,30 mm, d17 = 0,47 mm, d60 = 25 mm; dmax = 70 mm;

- Hệ số không đều hạt d = 8,32;

- Dung trọng = 1,92g/cm3;

- Độ rỗng md = 0,28;

- Hệ số thấm kd = 0,09 cm/s.

Số liệu của vật liệu tại mỏ vật liệu:

Vật liệu 1:

- D’10 = 0,85 mm; D’17 = 1,5 mm; D’60 = 12 mm; D’max = 30 mm;

- Hệ số không đều hạt ’ = 14,1;

- Dung trọng = 1,85 g/cm3;

- Độ rỗng m’ = 0,30;

- Hệ số thấm k’ = 0,14 cm/s.

Vật liệu 2

- D’’10 = 1,9 mm; D’’17 = 4,4 mm; D’’60 = 50 mm; D’’max = 100 mm;

- Hệ số không đều hạt ’’ = 26,4;

- Dung trọng = 1,88 g/cm3;

- Độ rỗng m’ = 0,29;

- Hệ số thấm k’ = 3,6 cm/s.

Trình tự tính toán:

a) Xác định độ xói ngầm của đất được bảo vệ trong thân đập (nền công trình)

Theo hệ thứ (23), xác định đường kính lỗ thấm lớn nhất trong đất đã cho:

X = 1 + 0,05 .83,2 = 5,16

C = 0,455.

Từ công thức (28), xác định được đường kính lớn nhất của các hạt có thể bị lôi ra khỏi đất đã cho trong những điều kiện thủy động xác định:

dcimax = 0,77domax = 0,77 . 0,90 = 0,69 mm

Trong đất đã cho các hạt ấy chiếm 23 % (Hình 19, đường cong của đất G), do đó, đất được bảo vệ là xói ngầm.

b) Đối với đất xói ngầm đã cho của thân đập (nền công trình), xác định đường kính tính toán của hạt tạo vòm dtv

Theo công thức (73), xác định kích thước các hạt đất dmi bị lôi ra khỏi vùng tiếp xúc với gradien cột nước lớn nhất đã cho Jttmax = 0,2.

Từ các hệ thức (43) và (44), xác định trị số 0; trước hết phải xác định f*.

f* = 0,82 – 1,8 . m + 0,0062(d – 5) = 0,82 – 1,8. 0,28 + 0,0062(83,2 - 5) = 0,80.

Với = 1,92 g/cm3, = 1g/cm3 và  = 90o, sẽ có:

Đưa các trị số này vào (73), có được:



Như đã thấy ở Hình 19 không có những hạt như vậy trong đất đã cho, do đó có thể không tính các điều kiện thủy động. Trong trường hợp như vậy trị số tính toán dtv được xác định từ đồ thị Ptvtt = f(d) Hình 7, đường cong B = 3.

Đối với d = 82,3; tìm được = 20 và lấy dtv = d20 = 0,6 mm.

c) Xác minh độ hữu dụng của vật liệu tại mỏ 1 (Hình 19) để dùng cho lớp thứ nhất của lọc ngược

- Xác định độ xói ngầm của vật liệu này theo hệ thức (71) và (72) và theo đồ thị thành phần hạt của vật liệu (Hình 19) D’3 = 0,54 mm

Do đó vật liệu đã cho có thể tích thực tế là không xói ngầm;

- Hệ số không đều hạt của vật liệu đã cho nhỏ hơn hệ số cho phép ’ = 14,1 < 20;

- Chúng ta kiểm tra độ không rải hạt theo các công thức (77) và (79) chúng ta có:



’gl < glcp; Điều kiện không rải hạt được thỏa mãn;

- Theo điều kiện ngấm nước phải có:

;

Trong thực tế



và điều kiện này cũng được thỏa mãn;

- Nếu đất thân đập (nền công trình) là xói ngầm thì cần phải tiến hành kiểm tra về độ không bồi tắc của lớp thứ nhất của lọc. Tuy nhiên trong trường hợp đã cho như từ các điều kiện thủy động sẽ không có sự lôi hạt đất ra khỏi vùng tiếp xúc. Do đó cũng bỏ việc kiểm tra về độ không bồi tắc của lớp thứ nhất của lọc.

Như vậy vật liệu tại mỏ vật liệu thiên nhiên 1, có thành phần không xói ngầm, đã thỏa mãn tất cả các điều kiện đề ra đối với vật liệu của lớp thứ nhất của lọc dùng để bảo vệ đất nền xói ngầm và do đó vật liệu tại mỏ 1 nên dùng làm lớp thấp nhất của lọc ngược mà không cần phải xử lý thêm.

- Xác lập vùng sai lệch cho phép đối với thành phần của vật liệu tại mỏ 1;

Muốn thế như đã chỉ trước đây (mục gạch đầu dòng cuối cùng, khoản c, ví dụ 4 điều 6.10.2), sẽ xây dựng đường cong thành phần hạt không xói ngầm đi qua các điểm D’10 và D’60 của đường cong vật liệu tại mỏ 1 (Hình 20). Tại phía dưới, sẽ giới hạn vùng thành phần hạt cho phép bằng đường tiếp tuyến kẻ từ điểm D’min = 0,70 mm đến đường cong thiên nhiên của vật liệu tại mỏ 1 và tiếp đó nối đến đường cong không xói ngầm. Tại phía trên, kẻ đường thẳng như đã chỉ ở Hình 20.

Đường kính các hạt, mm

CHÚ DẪN:

G – Đất thân đập (nền công trình);

1) Vùng thành phần hạt cho phép của vật liệu dùng để đắp lớp thứ nhất của lọc;

a) Vật liệu tại mỏ thiên nhiên;

HK) Đường cong không xói ngầm đi qua D’10 và D’60 của vật liệu tại mỏ

Hình 20 – Đồ thị thành phần cho phép của lọc:

d) Việc nghiên cứu vật liệu tại mỏ vật liệu 2 (Hình 19) với mục đích xác minh khả năng dùng cho lớp thấp nhất của lọc ngược đối với đất xói ngầm của thân đập (nền công trình) đã cho, cũng giống như đối với vật liệu tại mỏ 1 với một vài điểm bổ sung thêm như sau đây:

- Vật liệu tại mỏ 2 nếu không xử lý thêm, thì không thể dùng được cho lớp thứ nhất của lọc bởi vì hệ số không đều hạt của nó lớn hơn hệ số cho phép: ’ = 26,4 > cp = từ 15 đến 25;

- Do đó chúng ta quyết định sàng lọc các hạt đồng thời vẫn cố gắng giữ lại một khối lượng lớn nhất của vật liệu dùng cho lớp thấp nhất của lọc;

- Trong sự dần đúng đầu tiên, cần ấn định sàng bỏ các hạt lớn (hoặc nhỏ hơn). Sau mỗi lần sàng bỏ các hạt có đường kính (lớn hơn hoặc nhỏ hơn) Di, lấy thành phần hạt vật liệu còn lại là 100 % và tiến hành tính toán lại, tiếp đó là xây dựng đường cong thành phần hạt của nó. Sau khi xử lý như vậy, vật liệu phải được phân tích về độ hữu dụng đối với lớp thấp nhất của lọc. Nếu các kết quả không được thỏa mãn, tiếp tục lại ấn định sàng bỏ các hạt lớn hơn hoặc nhỏ hơn tiếp theo Di;

- Để làm thử, dưới đây tiến hành phân tích vật liệu tại mỏ 2:

Trong sự dần đúng thấp nhất, ấn định sàng bỏ các hạt lớn Di > 50 mm chiếm 40 % của thành phần vật liệu tại mỏ và sau khi tính toán lại, xây dựng đường cong thành phần hạt vật liệu, đã sàng bỏ các hạt Di > 50 mm (Hình 21 đường cong a);

- Nghiên cứu độ hữu dụng của vật liệu có thành phần mới xử lý như trên đối với lớp thứ nhất của lọc (đối với trường hợp tính toán V).

e) Xác định độ xói ngầm của vật liệu này:

Sau đó tìm được:

 = 14,8 theo đường cong a Hình 21;

m’ = 0,34: từ đồ thị Hình 8 (vùng 1) và sau khi thay các trị số, khí đó tính được:

N = (0,32 + 0,016 . 14,8) ;

Như vậy, vật liệu thực tế là xói ngầm với hệ số không đều hạt ’ = 14,8. Do đó, vật liệu đã cho (có sàng bỏ D > 50 mm) cũng không thể dùng vào lớp thứ nhất của lọc. Tiếp tục, thử dần bằng ấn định sàng bỏ kích thước nhỏ tiếp theo của các hạt Di > 30 mm, nghĩa là 50 % của thành phần vật liệu tại mỏ và như trong trường hợp thứ nhất bằng cách tính lại, xây dựng đường cong thành phần hạt của vật liệu này (Hình 21, đường cong b).

Qua Hình 21 (đường cong b), thấy rằng thành phần vật liệu sau khi sàng lọc qua các hạt Di>30mm từ mỏ vật liệu 2 đã phù hợp với thành phần của vật liệu tại mỏ 1 (Hình 19 và Hình 20).

Như vậy, nhờ sàng bỏ các hạt Di > 30 mm của vật liệu tại mỏ 2, có được thành phần của vật liệu thỏa mãn tất cả các điều kiện của trường hợp tính toán V.

Các tính toán tiếp theo được thực hiện cũng như đã chỉ ở trên đối với vật liệu tại mỏ 1.

Đường kính các hạt, mm



Hình 21 – Thành phần hạt của vật liệu sau khi sàng bỏ hạt lớn D > 50 mm (vật liệu a) và D > 30 mm (vật liệu b) từ mỏ vật liệu 2

6.10.4. Trường hợp tính toán VI

Đất được bảo vệ và vật liệu tại mỏ vật liệu là xói ngầm; yêu cầu lựa chọn lớp thứ nhất của lọc từ các vật liệu khai thác tại mỏ đã cho cũng có thành phần xói ngầm.

Đối với đất nền xói ngầm, phương pháp chọn lớp thứ nhất của lọc từ các vật liệu khai thác tại mỏ có thành phần xói ngầm cũng giống như đã cho trong điều 6.10.3 đối với đất xói ngầm được bảo vệ, và trong điều 6.10.2 đối với vật liệu xói ngầm của lọc ngược.

Đối với đất được bảo vệ và từng loại vật liệu khai thác tại mỏ định dùng cho lớp thứ nhất của lọc cần xác định:

a) Độ xói ngầm của đất được bảo vệ theo một trong hai phương pháp cho trong bản quy trình (điều 4.2);

b) Tùy theo trị số của hệ số không đều hạt d = và độ xói ngầm của đất kích thước các hạt tạo vòm dtv = f (d) theo đồ thị của Hình 7 hoặc theo tính toán đã chỉ trong điều 6.3;

c) Kích thước các hạt nhỏ dxn (theo công thức 73) và tỷ lệ phần trăm cho phép lôi các vật liệu đó mà không bị phá hoại độ bền và độ ổn định của công trình;

d) Độ xói ngầm của các vật liệu khai thác tại mỏ đối với lọc ngược;

e) Kích thước các hạt nhỏ hoặc lớn hơn Di phải sàng lọc tùy theo trị số của hệ số không đều hạt sao cho   cp;

f) Điều kiện không rải hạt theo hệ số giữa lớp theo các công thức (77), (78), và (79);

g) Điều kiện ngấm nước của lọc theo công thức (80);

h) Kích thước các hạt xói ngầm Dxn của vật liệu lọc cho phép cuốn theo dòng thấm;

i) Gradien cột nước tới hạn Jth trong lớp thứ nhất và của lọc để thỏa mãn điều kiện Jcp  Jth: , và khi có lớp thứ 2 của lọc – độ không bồi tắc của lớp thứ hai.

CHÚ THÍCH: Để tránh lặp lại, thí dụ bằng số không được tiến hành đối với trường hợp đã cho (VI). Trong tính toán dùng các ví dụ bằng số của điều 6.9 cho đất xói ngầm của nền và điều 6.10 cho vật liệu xói ngầm của lọc ngược.



6.11. Thiết kế (lựa chọn) thành phần hạt của lớp lót lọc dưới lớp gia cố bằng đá và bê tông cốt thép của các mái thượng lưu đập đất (1)

6.11.1. Các điều kiện thiết kế

Khi thiết kế thành phần hạt của lớp lót lọc dưới lớp gia cố mái thượng lưu (Hình 22) bằng đá cũng như bằng bê tông cốt thép, cần thiết xuất phát từ các điều kiện sau đây:

a) Thành phần hạt của lớp lót lọc dưới lớp gia cố thượng lưu của mái dốc phải là thực tế không xói ngầm thỏa mãn các hệ thức (71) và (72) hoặc phương trình (1);



CHÚ DẪN:

a) Đá đổ (kích thước trung bình lỗ rỗng của đá đổ DoKH);

b) Tấm bê tông cốt thép (BK – chiều rộng của khe); 1) Đất thân đập; 2) Lớp lót lọc 3) Lớp lót thượng lưu.

Hình 22 – Những lớp gia cố mái thượng lưu:

b) Thành phần của lớp lót lọc phải bảo vệ chắc chắn cho đất thân đập không bị hiện tượng xói ngầm không có tác dụng của sóng lên mái đập

Điều kiện này sẽ được thỏa mãn, nếu kích thước các hạt tính toán của lớp lót lọc sẽ được lấy theo hệ thức sau đây:

(84)

Trong đó


: hệ số không đều hạt của lớp lót lọc được lấy theo bảng 2.

  25: đối với đất đá dăm;

  20*: đối với đất cát sỏi;

m1: độ rỗng được lấy theo đồ thị m1 = f (1) Hình 8;

: được xác định theo công thức (2);

dtv: kích thước tính toán của hạt đất được bảo vệ không xói ngầm xác định theo đồ thị của Hình 7, các đường cong B = từ 5 đến 8.

Đối với thành phần hạt xói ngầm của đất dtv được lấy như đã chỉ ở khoản b) điều 6.3;

c) Thành phần của lớp lót lọc không được lọt vào khe rỗng của đá đổ () hoặc mở rộng khe gián tiếp (bx) của lớp phủ bê tông cốt thép. Điều kiện này có thể được diễn đạt bằng hệ thức sau đây:

- Đối với lớp lót đá đổ:

(85)

Trong đó


: kích thước của hạt tính toán, tính theo hệ thức (84);

: đường kính kẽ rộng của đá đổ, xác định theo hệ thức 10;

- Đối với mạch tiếp giáp (bk) của lớp lót bê tông cốt thép:



 0,55Bk (86)

Nếu trị số hạt tính toán xác định được theo hệ thức (84) không thỏa mãn hệ thức (85) hoặc (86), thì trong trường hợp này cần thay đổi trị số của hệ số không đều hạt.

1 của lớp lót lọc theo xu hướng tăng lớn (trong các giới hạn gần 1  25 đối với các đất đá dăm và gần 1  20 đối với các đất cát sỏi) nghĩa là ấn định thành phần không đều hạt lớn hơn cho vật liệu đất của lớp lót lọc.

Nếu cả trong trường hợp này cũng không thỏa mãn các hệ thức (85) hoặc (86) thì điều đó cho thấy rằng giữa lớp lót bằng đá và lớp lót lọc phải đặt một lớp trung gian (1) bằng thành phần đá nhỏ hơn. Thêm vào đó, thành phần hạt của lớp trung gian phải sao cho đường kính trung bình lỗ rỗng của nó xác định theo hệ thức (10) phải thỏa mãn được điều kiện (85) hoặc (86).

Nếu tuân theo các yêu cầu trên đây trong khi thiết kế thành phần của lớp lót lọc sẽ bảo đảm được sự bảo vệ chắc chắn cho mái đập và bản thân lớp lót lọc chống tác dụng của sóng lên mái.

Theo trị số kích thước hạt tính toán xác định theo hệ thức (84) trị số chọn 1 và trị số mũ  tìm theo công thức (2), theo phương trình (1) sẽ xây dựng đường cong thành phần hạt không xói ngầm thiết kế của vật liệu lớp lót lọc “Vùng thành phần hạt cho phép của vật liệu lớp lót lọc” được ấn định như đã chỉ trong (khoản d – Đối với trường hợp I, điều 6.9.1).



6.11.2. Đánh giá độ hữu dụng của vật liệu khai thác tại mỏ vật liệu

Khi đánh giá (việc lựa chọn) độ hữu dụng của vật liệu tại mỏ khác hoặc của sản phẩm các nhà máy nghiền đá để dùng cho lớp lót lọc thì phải thỏa mãn các điều kiện khoản a), b), c) điều 6.11.1 trên đây, chỉ khác ở chỗ là thay cho kích thước tính toán hạt lấy theo đường cong thực tế các thành phần hạt vật liệu khai thác tại mỏ vật liệu.

Ngoài ra, thành phần hạt của vật liệu tại mỏ vật liệu đang xét và các đặc trưng vật lý của nó phải thỏa mãn điều kiện (13), nghĩa là:

dtv  0,55Dol

trong đó

dtv: kích thước tính toán của hạt đất được bảo vệ xác định theo đồ thị của Hình 7, các đường cong B = từ 5 đến 8;

Dol: xác định theo công thức (1).

Nếu các điều kiện trên đây không được thỏa mãn, thì vật liệu tại mỏ đã cho không thể dùng cho lớp lót lọc nếu không có các biện pháp xử lý thêm; sàng bỏ hạt nhỏ hoặc lớn hay bổ sung thêm thành phần.



6.11.3. Trình tự tính toán thiết kế

Để chọn thành phần hạt của lớp lót lọc từ các vật liệu khai thác tại các mỏ vật liệu có sẵn, cần có các số liệu ban đầu sau đây:

- Thành phần hạt của đất (được bảo vệ) thân đập và hệ số không đều hạt của nó d;

- Thành phần hạt của vật liệu tại mỏ định dùng cho lớp lót lọc cũng như các đặc trưng vật lý của chúng (dung trọng hoặc độ rỗng m1, hệ số không đều hạt 1);

- Thành phần hạt của lớp lót bằng đá (đá đổ) có kích thước kẽ rỗng xác định theo hệ thức (10) - hoặc kích thước đã cho của khe nối Bk – sự mở rộng khớp nối (của các tấm bê tông không liền khối) hoặc chiều rộng của khe được tạo thành do biến dạng.

Nên giải thích trình tự tính toán bằng một tính toán cụ thể dưới đây:

Số liệu ban đầu:

Thành phần hạt của đất thân đập và vật liệu tại mỏ định dùng cho lớp lót lọc và các đặc trưng cơ bản của đất thân đập và vật liệu cho trên Hình 23.

a) Theo thành phần hạt đã cho của đất thân đập được bảo vệ G (Hình 23), chọn theo đồ thị = f(d) (Hình 7) đường kính tính toán của hạt tạo vòm dtv. Với d = 2,14 theo đồ thị (khi B = 5 đối với vật liệu cát, sỏi) = 60 % tương ứng với:

dtv = d60 = 0,15 mm

b) Xác định độ hữu dụng của các vật liệu tại mỏ 1 và 2 (Hình 23) dùng để cho lớp lót lọc dưới các lớp gia cố bê tông cốt thép kiểu tấm; độ mở rộng khả dĩ của khớp nối (đối với lớp lót bằng đá, đường kính kẽ rỗng của đá đổ xác định theo hệ thức (10), tương ứng bằng = 3,5 cm = 35 mm).

Vật liệu tại mỏ vật liệu 1 Hình 23:

- Xác định độ xói ngầm của vật liệu tại mỏ 1 theo hệ thức (71):

Do đó, vật liệu tại mỏ 1 thực tế là không xói ngầm;

- Hệ số không đều hạt của vật liệu này nhỏ hơn hệ số cho phép (bảng 2)

1 = 15 < 20

- Kích thước tính toán thực tế của hạt vật liệu 1, phải là:

 0,55Bk = 0,55. 35 = 19,3 mm;

Vì D85 = 20 mm > 19,3 mm, do đó điều kiện đã cho được thỏa mãn;

- Thành phần hạt của vật liệu tại mỏ 1 đang xét phải thỏa mãn điều kiện (13), nghĩa là:

dtv  0,55

Đối với đất được bảo vệ lấy theo (điểm a điều này)

dtv = d60 = 0,15 mm



Đường kính các hạt, mm

CHÚ DẪN:

G) Thân đập; 1) 2) các vật liệu tại mỏ dùng cho lớp lót lọc.



Hình 23 – Thành phần hạt của các vật liệu:

Kích thước kẽ rỗng của vật liệu tại mỏ 1, xác định theo hệ thức (10)



Có trị số = 0,26 mm, tính được:

dtv = 0,55. 0,26 = 0,14 mm

Điều kiện đã cho cũng được thực hiện, bởi vì:

dtv = d60 = 0,15 > 0,14 mm

Do đó, vật liệu tại mỏ 1 đã cho thỏa mãn tất cả các điều kiện đề ra đối với thành phần lớp lót lọc và có thể dùng cho lớp lót lọc 1, lớp dưới lớp lót bằng bê tông cốt thép và sẽ bảo vệ chắc chắn các mái dốc không bị xói lở do tác dụng của sóng lên mái dốc. Để xác lập vùng sai lệch cho phép đối với thành phần này của vật liệu tại mỏ 1, tiến hành như đã chỉ trong cách xác lập vùng sai lệch cho phép khoản c điều 6.10.1 – trường hợp tính toán III.

Vật liệu tại mỏ vật liệu 2 (Hình 23):

- Theo thành phần hạt của vật liệu tại mỏ 2 cũng có một loại đặc trưng thỏa mãn các điều kiện đề ra đối với thành phần của lớp lọc như vật liệu tại mỏ 2 là thực tế không xói ngầm;

- Hệ số không đều hạt 2 nhỏ hơn hệ số cho phép 1cp;

- Kích thước thực của hạt tính toán thỏa mãn các điều kiện (85) và (86);

- Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng điều kiện quan trọng (13) – sự phối hợp của đất được bảo vệ thuộc thân đập với vật liệu của lớp lót lọc không được thỏa mãn, bởi vì dtv < 0,55 , nghĩa là không bảo đảm việc bảo vệ cho đất thân đập khỏi xâm nhập vào trong lớp lót lọc khỏi bị lôi vào các khe mở rộng (hoặc các kẽ rỗng của đá đổ).

Do đó, thành phần đã cho của vật liệu 2 không thể dùng cho lớp lọc nếu như không sự bổ sung thành phần.



7. Phương pháp luận thiết kế lọc ngược (vùng chuyển tiếp) bảo vệ đất dính

7.1. Chỉ dẫn chung

Những chỉ dẫn dưới đây về thiết kế và lựa chọn thành phần hạt lớp thứ nhất của lọc được mở rộng cho lọc ngược các kết cấu tiêu nước và cho vùng chuyển tiếp (từ tường tâm sang thân đập), bảo vệ đất dính (sét) được tiêu nước.

Các đất dính (á sét và sét) có thể đặc trưng bằng hàm lượng hạt sét có kích thước d < 0,005 mm và đặc trưng bằng trị số dẻo Wn trong thành phần hạt:

- Đất á sét hàm lượng hạt d < 0,005 mm chiếm từ 10 % đến 30 %; và trị số dẻo 7  Wd  17;

- Đất sét hàm lượng hạt d < 0,005 mm lớn hơn 30 %; và trị số dẻo Wd>17.

Trong tiêu chuẩn này, việc chọn thành phần hạt lớp thứ nhất của lọc được tiến hành đối với các đất dính (có kiến trúc đã bị phá hoại) có trị số dẻo Wd  7 với giao động độ ẩm trong phạm vi của độ dẻo, nghĩa là với điều kiện Wc  W  We

Trong đó

Wc: giới hạn chảy,

We: giới hạn lăn của đất.

Theo điều kiện này đất sét phải có sức dính phân tử, sức dính này có thể biểu diễn qua dung trọng của cốt đất:

Dung trọng cốt của đất dính được bảo vệ phải là:

Yc­đ  Y’ = (87)

Trong đó

: trọng lượng riêng của đất g/cm3;



c: hệ số rỗng theo Wc; (88)

Yn: dung trọng của nước  1 g/cm3.

Những kiến nghị dưới đây về phương pháp luận chọn thành phần hạt các vật liệu cho lớp của lọc thứ nhất bảo vệ đất dính (trước hết sẽ xét đối với các công trình cấp đặc biệt và công trình cấp I theo vốn đầu tư) các điều kiện không cho phép tách rời hoặc bóc lớp của kết thể hạt sét của đất. Trong công trình từ cấp II, III, IV (theo vốn đầu tư) có thể cho phép bóc tại chỗ tiếp xúc lọc ngược, một độ bóc lớp nhỏ của đất sét với độ lớn ; muốn thế kích thước lớn nhất của kẽ rỗng trong lớp thứ nhất của lọc phải là Domax < 15 mm, với điều kiện là đất sét có chỉ số dẻo Wd  7; (còn đối với công trình tạm thì có thể Wd  5).

Việc thiết kế vùng lọc ngược và vùng chuyển tiếp trong đất có chỉ số dẻo Wd < 7, đối với các công trình cấp đặc biệt và cấp I (theo vốn đầu tư) cũng như đối với các cấp II, III, và IV (theo vốn đầu tư) đều được tiến hành như đối với đất không dính hoặc chọn lời giải cuối cùng sau khi tiến hành các nghiên cứu thí nghiệm chuyên đề cho phù hợp với các điều kiện cụ thể.




1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương