Tiêu chuẩn quốc gia



tải về 0.58 Mb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích0.58 Mb.
1   2   3   4   5   6

5.3.4.6 Yêu cầu kỹ thuật của kết cấu tầng lọc ngược như sau :

a) Mức độ không đều cs của các lớp cát cuội sỏi làm lớp lọc nên lấy như sau:

1) Khi đắp khô: cs  10;

2) Khi đắp trong nước: cs  4.

Trong đó:

D60 và D10 là đường kính mắt sàng cho lọt qua 10 % và 60 % khối lượng vật liệu làm tầng lọc ngược.

b) Chiều dày mỗi lớp lọc lấy theo điều kiện thi công nhưng không nhỏ hơn 0,2 m khi đắp khô và không được nhỏ hơn 0,5 m khi đắp trong nước.

5.3.4.7 Nếu đê quây đất – đá sau này sẽ được sử dụng như một bộ phận của công trình chính thì phải được tính toán thiết kế và thi công đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật như đối với công trình chính.

5.3.4.8 Đối với đê quây đất – đá không cao và sau này sẽ không nằm lại trong thân đập, cho phép dùng đá có cường độ nhỏ hơn 40 MPa và không cần phân loại hạt cũng như kích thước viên đá.

5.3.4.9 Đê quây đất đá hoặc đê quây bằng đá đổ có tường nghiêng được đắp lên dần từ bờ ra lòng sông vào thời kỳ nước kiệt. Phần dưới mực nước khi đắp đất đá bị nén chặt do các phương tiện đi lại trên bề bặt khối đắp. Phần trên mực nước phải đắp theo từng lớp, chiều dày từng lớp và số lần đầm phụ thuộc vào phương tiện thiết bị thi công.

5.3.5 Đê quây bằng cừ gỗ hoặc cừ thép

5.3.5.1 Đê quây bằng cừ gỗ hoặc cừ thép có thể gồm một hoặc hai hàng cừ với lăng trụ đất đá ở một phía (thượng lưu), hoặc gia tải đất đá ở khoảng giữa hai hàng cừ, xem sơ đồ hình 5.



Hình 5 – Sơ đồ cấu tạo đê quây bằng cừ gỗ

5.3.5.2 Đê quây làm bằng cừ gỗ phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau:

a) Chiều dầy bản cừ gỗ từ 75 mm đến 180 mm;

b) Chiều cao đê quây bằng cừ gỗ đóng một hàng từ 2 m đến 5 m;

c) Chiều cao đê quây bằng cừ gỗ đóng hai hàng có thể từ 7 m đến 8 m, khoảng cách B giữa hai hàng cừ gỗ thường lấy bằng từ 1,2 lần đến 1,4 lần chiều cao H của đê quây;

d) Cừ thường được đóng sâu vào đất với độ sâu khoảng 1/3 chiều cao của đê quây. Hàng cừ gỗ có tác dụng như tường chống thấm cho đê quây.

5.3.5.3 Đê quây bằng cừ thép được tạo thành bởi các cừ thép hình chữ U hoặc chữ Z. Chiều cao đê quây một hàng cừ thép có thể đến 4 m. Chiều cao đê quây hai hàng cừ thép có thể đến 12 m. Khoảng cách B giữa hai hàng cừ thép thường lấy bằng 80 % đến 100 % chiều cao H của đê quây, xem hình 6. Đê quây hai hàng cừ thép có thể dùng làm đê quây trên nền đất mềm hoặc đê quây dọc trong điều kiện lòng sông tương đối hẹp.

CHÚ DẪN:


1 Bản cừ thép chữ U hoặc chữ Z ;

2 Thanh nẹp dọc ;

3 Thanh giằng ;

4 Tăng đơ.



Hình 6 – Sơ đồ cấu tạo đê quây hai hàng cừ thép

5.3.6 Đê quây cừ thép hình liên trụ, liên cung

5.3.6.1 Đê quây hình liên trụ, liên cung được tạo thành bằng cách đóng các cừ thép liên kết với nhau thành hình trụ, hình cung liên tiếp, có thể chịu được cột nước trên 14 m. Đê quây loại này thường được sử dụng làm đê quây dọc, đê bao ở những nơi lòng sông hẹp, vận tốc dòng chảy lớn, trên nền đất sét nặng, đất cát hoặc cát cuội sỏi.

5.3.6.2 Đối với đê quây hình liên trụ thì đường kính của trụ lấy bằng 80 % đến 90 % chiều cao cột nước tính toán. Bán kính của cung nối lấy bằng hoặc nhỏ hơn bán kính của trụ. Khoảng cách giữa các trụ lấy bằng 0,5 m đến 2,8 m. Chiều sâu đóng cừ trên nền mềm yếu có thể lấy bằng 50 % đến 100 % chiều cao cột nước tính toán.



Hình 7 – Sơ đồ cấu tạo đê quây liên trụ, liên cung

5.3.6.4 Thiết kế đê quây cừ thép kiểu liên cung, liên trụ phải tính toán kiểm tra các nội dung sau:

a) Độ ổn định chống trượt theo mặt phẳng ngang nằm dưới chân cừ;

b) Độ ổn định chống trượt của các bản cừ kề nhau theo mặt phẳng thẳng đứng đi qua trục dọc của đê quây;

c) Độ bền của các khớp bản cừ;

d) Độ ổn định của nền chống trồi đất dưới cừ do tải trọng của đất đá đổ trong các khoang đê quây khi chiều cao khối đất đá này trên 15 m;

e) Độ ổn định thấm của nền đê quây;

f) Thấm qua đê quây.

5.3.6.5 Vật liệu đổ trong các khoang của đê quây liên trụ, liên cung là đất cát hoặc hỗn hợp cát cuội sỏi. Khi đổ vật liệu vào các khoang phải chú ý đổ đồng đều, chênh lệch giữa các khoang kề nhau không quá 2 m.

5.3.7 Đê quây bằng bê tông, đá xây

5.3.7.1 Đê quây bằng bê tông, đá xây thường được sử dụng làm đê quai dọc ở nơi lòng sông hẹp, nền đá. Đê quây loại này chịu được cột nước cao, chống thấm, chống xói lở tốt, diện tích chiếm chỗ nhỏ. Nên kết hợp làm một bộ phận của công trình lâu dài để giảm giá thành xây dựng.

5.3.7.2 Phải chọn thời đoạn nước kiệt để thi công đê quây bê tông. Phần dưới nước thi công bằng phương pháp đổ bê tông trong nước. Nếu chiều sâu nước dưới 1,5 m có thể đổ bê tông theo phương pháp lấn dần từ bờ ra. Khi thiết kế và thi công phải tuân theo các yêu cầu kỹ thuật quy định trong TCXDVN 356 : 2005 và TCXDVN 390 : 2007 .

5.3.7.3 Đối với đê quây bằng đá xây nếu không có điều kiện làm khô nền móng thì phần dưới nước phải đổ bê tông theo phương pháp đổ trong nước, phần trên mực nước thì xây đá.

5.3.7.4 Tính toán kiểm tra ổn định và độ bền của đê quây bằng bê tông hoặc đá xây thực hiện như đối với tường chắn công trình thủy lợi, xem TCVN 9152 : 2011.

5.4 Tính toán thủy lực dẫn dòng

5.4.1 Cao trình đỉnh đê quây xác định theo công thức (1) và (2):

trong đó:

t là cao độ đỉnh đê quây thượng lưu;

h là cao độ đỉnh đê quây hạ lưu ;

z là cao trình mực nuớc sông sau đê quây hạ lưu ứng với lưu lượng lớn nhất thiết kế, m;

d là độ cao an toàn tĩnh của đê quây, d lấy từ 0,6 m đến 0,75 m ;

s là tổn thất cột nước trên đường dẫn nước từ thượng lưu về hạ lưu, m, được xác định thông qua tính toán thủy lực và điều tiết dòng chảy qua các công trình tháo nước.

5.4.2 Nếu ở thượng lưu đê quây có thể trữ lượng nước đáng kể thì phải xác định lưu lượng lớn nhất thiết kế thông qua tính toán điều tiết. Nếu mặt nước phía trước đê quây có chiều dài hứng gió đáng kể khi xác định cao trình đỉnh đê quây phải tính thêm chiều cao sóng leo.

5.4.3 Tính toán thủy lực dẫn dòng phải tuân theo các tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan. Khi tính toán sơ bộ có thể tham khảo phụ lục C của tiêu chuẩn này.

5.5 Tính toán kinh tế dẫn dòng

5.5.1 Giá thành công trình dẫn dòng bao gồm giá thành của công trình dẫn nước và ngăn nước:

a) Khi đê quây là bộ phận của công trình lâu dài thì đê quây càng cao, kích thước công trình dẫn nước càng giảm. Trong trường hợp này, tính toán giá thành công trình dẫn dòng chủ yếu là xét giá thành của công trình dẫn nước ;

b) Khi đê quây là công trình tạm thời độc lập với công trình chính thì giá thành công trình dẫn dòng là tổng hợp chi phí của đê quây và công trình dẫn nước. Phương án dẫn dòng được chọn phải có giá thành nhỏ nhất đồng thời phải thỏa mãn các yêu cầu mà thiết kế đã đề ra đối với công tác dẫn dòng.

5.5.2 Trình tự tính toán kinh tế dẫn dòng như sau:

a) Đề xuất ít nhất là 3 phương án dẫn dòng;



b) Tính khối lượng và giá thành các phương án;

c) Lập biểu đồ quan hệ giữa giá thành xây dựng với quy mô đê quây và công trình dẫn nước để xác định phương án có giá thành nhỏ nhất (xem ví dụ ở hình 8).



CHÚ DẪN:


1 Đường quan hệ giá thành đê ngăn dòng ;

2 Đường quan hệ giá thành tuynen ;

3 Đường quan hệ giá thành tổng cộng.

Hình 8 – Một ví dụ biểu đồ giá thành công trình dẫn dòng

5.5.3 Chi phí dẫn dòng thi công bao gồm:

a) Giá thành của các công trình dẫn dòng, ký hiệu là C1:

Giá thành C1 gồm chi phí để xây dựng các công trình dẫn dòng. Nếu công trình dẫn dòng có một bộ phận kết hợp với công trình chính thì chỉ tính phần chi phí tăng thêm;

b) Giá thành các công trình phục vụ liên quan đến dẫn dòng, ký hiệu là C2:

Giá thành C2 gồm chí phí về đảm bảo giao thông thủy, cấp nước cho hạ lưu, gia cố lòng sông, bảo vệ các công trình kinh tế - xã hội và chi phí đền bù thiệt hại v.v… ;

c) Các chi phí khác, ký hiệu là C3:

Giá thành C3 gồm các chi phí khác như phá để quây, ngăn dòng bảo vệ hố móng, chi phí bộ máy quản lý do kéo dài tiến độ thi công, chi phí dự phòng v.v....

d) Tổng giá thành công trình dẫn dòng, ký hiệu là C bằng tổng các chi phí C1, C2 và C3 :

C = C1+ C2 + C3 (3)

e) Phương án dẫn dòng thi công hợp lý nhất là phương án có giá thành C nhỏ nhất.



6 Thiết kế ngăn dòng

6.1 Chọn thời đoạn ngăn dòng

Chọn thời đoạn ngăn dòng phải thoả mãn các yêu cầu sau:

a) Thời kì nước sông kiệt, có lưu lượng tính toán nhỏ ;

b) Sau khi ngăn dòng tiếp tục đắp nâng đê quây ngăn dòng lên tới cao trình thiết kế để đảm bảo thi công công trình chính, đảm bảo an toàn chống lũ tiểu mãn và lũ chính vụ của mùa mưa kế đó. Nên chọn thời đoạn ngăn dòng vào đầu mùa khô mặc dù lưu lượng sông ở thời đoạn này không phải là nhỏ nhất ;

c) Thời đoạn ngăn dòng có thể là tháng hoặc tuần (10 ngày) của tháng dự kiến ngăn dòng. Nếu ở thượng lưu tuyến ngăn dòng có thể hình thành khu chứa nước thì khi tính toán phải chú ý đến khả năng điều tiết của khu chứa nước này.

6.2 Các phương án ngăn dòng và điều kiện áp dụng

6.2.1 Các sơ đồ ngăn dòng thường gặp bao gồm :

a) Lấp dòng lấn dần (phương pháp lấp đứng) ;

b) Lấp dòng toàn tuyến (phương pháp lấp bằng) ;

c) Lấp dòng tức thời bằng nổ mìn định hướng ;

d) Lấp dòng lấn dần kết hợp với toàn tuyến.

6.2.2 Trong mọi trường hợp nên cố gắng áp dụng phương pháp ngăn dòng bằng cách lấp lấn dần. Khi cấu tạo địa chất lòng sông là đất dễ bị xói trôi thì cửa hạp long phải được gia cố.

6.2.3 Trường hợp lòng sông là đất dễ bị xói, nếu lưu lượng tính toán ngăn dòng lên tới 1 500 m3/s trở lên, độ dâng mực nước cuối cùng lớn hơn 0,5 m thì phải dùng phương pháp lấp toàn tuyến.

CHÚ THÍCH: Với cùng điều kiện thủy văn thì phương pháp lấp toàn tuyến có ưu điểm là vận tốc tại cửa ngăn dòng nhỏ hơn, mặt bằng thi công rộng hơn, cường độ thi công cao hơn. Nhược điểm của phương pháp này là phải làm cầu thi công nên giá thành thường lớn hơn. Phương pháp lấn dần có lưu lượng đơn vị tăng dần, vận tốc ở thời đoạn cuối lớn, diện thi công hẹp, cường độ thi công thấp nhưng có ưu điểm là tổ chức thi công đơn giản hơn. Khi lòng dẫn không bị xói thì khối lượng vật liệu sử dụng để lấp dòng của cả hai phương pháp là tương tự như nhau. Khi lòng dẫn bị xói thì khối lượng vật liệu cần sử dụng của phương pháp lấn dần còn phụ thuộc vào phạm vi và mức độ phải gia cố ở cửa hạp long.



6.2.4 Ở những sông suối nhỏ, nếu độ dâng mực nước cuối cùng không vượt quá 0,2 m có thể dùng tầu hút bùn để bồi lấp sông.

6.2.5 Khi có điều kiện địa hình thuận lợi, hai bên bờ có đồi núi cao và dốc, lòng sông rộng không quá 100 m thì có thể dùng phương pháp lấp dòng tức thời bằng phương pháp nổ mìn định hướng.

6.2.6 Phương pháp ngăn dòng được lựa chọn trên cơ sở so sánh kinh tế kỹ thuật, các phương án đưa ra cần phù hợp với các điều kiện địa hình, địa chất, vật liệu và thiết bị, máy móc thi công. Đối với công trình từ cấp I trở lên, nếu công tác ngăn dòng phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tiến độ thi công thì phải làm thí nghiệm mô hình để kiểm tra trước khi quyết định phương án chọn nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận.

6.2.7 Các bước ngăn dòng bằng phương pháp lấn dần bao gồm:

a) Đắp băng két thu hẹp lòng sông cho đến khi vận tốc dòng chảy tăng đến trị số giới hạn cho phép;

b) Gia cố cửa hạp long ;

c) Chuẩn bị mặt bằng ngăn dòng ;

d) Đắp băng két ngăn dòng bằng vật liệu cỡ lớn ;

e) Đắp đập ngăn dòng theo thiết kế.



6.3 Thiết kế gia cố và thu hẹp lòng sông

6.3.1 Trước khi ngăn dòng phải đắp băng két thu hẹp lòng dòng chảy tại tuyến ngăn dòng. Cao độ đỉnh băng két phải cao hơn mực nước ở thượng lưu khi chặn dòng từ 0,5 m đến 0,7 m, chiều rộng đỉnh băng két phải đủ rộng để cho xe máy hoạt động trong quá trình thi công ngăn dòng.

6.3.2 Chiều rộng cửa hạp long phải đảm bảo an toàn cho tàu thuyền qua lại và không gây ra xói lở ở lòng dẫn. Vận tốc cho phép bằng từ 0,5 m/s đến 2,0 m/s đối với tàu thuyền và từ 2,5 m/s đến 3,0 m/s đối với bè mảng. Khi vận tốc thiết kế vượt qua giới hạn trên phải có ý kiến của cơ quan quản lý giao thông thủy.

6.3.3 Khi lòng dẫn không bị xói và không có yêu cầu giao thông thủy thì vận tốc dòng chảy ở cửa hạp long phụ thuộc vào sự ổn định của vật liệu làm băng két lấn sông (không bị đẩy trôi).

6.3.4 Khi lòng dẫn bị xói thì phải gia cố cửa hạp long trước khi ngăn dòng. Phạm vi gia cố phải lớn hơn phạm vi tính toán sẽ bị xói trong quá trình ngăn dòng. Trong thiết kế sơ bộ có thể lấy phạm vi gia cố cửa hạp long lớn hơn số liệu tính toán từ 5 m đến 10 m về phía thượng lưu, từ 40 m đến 100 m về phía hạ lưu của tuyến ngăn dòng. Đối với công trình quan trọng, nếu thấy cần thiết phải kiểm tra bằng thí nghiệm mô hình.

6.3.5 Khi ngăn dòng bằng phương pháp lấn dần thì tại vị trí hai đầu băng két gặp nhau phải gia cố có chiều dày và chiều dài lớn hơn những chỗ khác. Chiều dày lớp gia cố từ 0,5 m đến 1,5 m (từ 0,5 lần đến 0,6 lần Zmax) nhưng không nhỏ hơn ba lần đường kính của vật liệu gia cố.

6.3.6 Vật liệu gia cố thường dùng đá có đường kính trung bình không bị dòng chảy cuốn trôi và có cấp phối thích hợp. Kích thước vật liệu gia cố phải được xác định qua tính toán thủy lực (tham khảo phụ lục D). Nếu thấy cần thiết phải tiến hành thí nghiệm mô hình để xác định kích thước hợp lý của vật liệu gia cố.

6.4 Thiết kế băng két ngăn dòng

6.4.1 Tuyến băng két ngăn dòng bố trí ở phía thượng lưu tuyến của công trình chính khi lòng dẫn không bị xói hoặc ở phía hạ lưu tuyến của công trình chính khi lòng dẫn bị xói.

6.4.2 Khi ngăn dòng bằng phương pháp lấn dần từ hai bờ thì đoạn cửa hạp long cuối cùng nên chọn ở chỗ lòng sông không bị xói và có chiều sâu không lớn. Khi lấp vật liệu từ một phía thì nên kết thúc băng két ở phía bờ thoải và không xói.

6.4.3 Để đá không bị trôi thì hệ số độ dốc m của mái băng két nên chọn như sau :

a) Lấp toàn tuyến:

- Mái thượng lưu: m  1,3 ;

- Mái hạ lưu: m  2,0 ;

b) Lấp lấn dần:

- Mái thượng lưu: m  1,3 ;

- Mái hạ lưu: m  1,5 ;

6.4.4 Khi đắp băng két bằng đất thì độ dốc m của mái băng két lấy theo quy định tại 5.3.3.4.

6.4.5 Chiều rộng đỉnh băng két khi lấp toàn tuyến không nhỏ hơn 1,0 m. Khi lấp lấn dần bằng ô tô tự đổ thì chiều rộng đỉnh băng két lấy từ 8 m đến 20 m:

a) Trường hợp băng két ngắn, ô tô tự đổ lùi xe để đổ thì chiều rộng băng két lấy từ 8 m đến 15 m;

b) Trường hợp băng két dài mà ô tô phải quay vòng thì chiều rộng đỉnh băng két lấy từ 15 m đến 20 m. Nếu băng két vừa dài vừa hẹp thì cứ cách khoảng 60 m phải mở rộng đỉnh ở một đoạn đủ cho ô tô quay vòng.

6.4.6 Kích thước vật liệu đắp băng két phải thay đổi tương ứng với từng giai đoạn thủy lực ngăn dòng.

6.4.7 Diện tích mặt cắt ngang băng két ngăn dòng khi lấp toàn tuyến tính theo công thức (4) :

trong đó:



Nmax là công suất đơn vị lớn nhất của dòng chảy qua cửa hạp long, t/m3;

Zpg là độ dâng mực nước phân giới, m;

Zmax là độ dâng mực nước lớn nhất, m;

qpg là lưu lượng đơn vị trên băng két đá ứng với độ dâng mực nước phân giới, m3/s/m;

Vmax là vận tốc lớn nhất của dòng chảy mà viên đá không bị trôi, m/s;

hhl là chiều sâu nước ở hạ lưu, m;

ho là chiều sâu trung bình của đoạn dốc nước, m;

d là khối lượng đơn vị của đá, t/m3;

o là khối lượng đơn vị của nước, t/m3;

D là đường kính của vật liệu, m;

n là hệ số nhám của đá phụ thuộc vào kích thước của viên đá:

D < 25 cm: n = 0,05;

D > 25 cm: n = 0,10.



6.4.8 Khi lấp lấn dần vẫn cho phép dùng công thức (4) để tính nhưng phải thay Zpg bằng độ dâng mực nước thượng lưu tương ứng với chiều rộng cửa hạp long tính toán, ký hiệu là Z và thay qpg bằng lưu lượng đơn vị tương ứng, ký hiệu là q.

6.5 Tính toán thủy lực ngăn dòng

6.5.1 Tính toán thủy lực ngăn dòng để xác định kích thước hợp lý của các công trình dẫn dòng và ngăn dòng; là căn cứ để tính toán chuẩn bị vật liệu, thiết bị và phương tiện thi công, thiết kế tổ chức thi công ngăn dòng và thí nghiệm công tác ngăn dòng bằng mô hình.

6.5.2 Tính toán thủy lực ngăn dòng thực hiện ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công. Trước ngày dự kiến ngăn dòng phải tính toán kiểm tra lại với những số liệu thủy văn mới nhất theo dự báo để kịp thời bổ sung, điều chỉnh phương án ngăn dòng và chuẩn bị ngăn dòng.

6.5.3 Tính toán thủy lực ngăn dòng phải làm sáng tỏ quy luật biến đổi lưu lượng và sự phân bố lưu lượng ở cửa hạp long và công trình dẫn dòng; quy luật biến đổi của độ dâng mực nước thượng lưu và quy luật biến đổi của vận tốc dòng chảy ở cửa hạp long trong quá trình ngăn dòng.

6.5.4 Căn cứ vào kết quả tính toán thủy lực ngăn dòng để xác định cao trình, kích thước của băng két ngăn dòng và của cửa tháo nước, kích thước và khối lượng vật liệu ngăn dòng.

6.5.5 Độ dâng mực nước lớn nhất ở thượng lưu (Zmax) được xác định trong trường hợp tháo toàn bộ lưu lượng dẫn dòng qua công trình dẫn dòng (kênh dẫn vào, kênh dẫn ra và công trình tháo nước).

6.5.6 Phải có các tài liệu sau đây để tính toán thủy lực ngăn dòng:

a) Lưu lượng tính toán ở thời đoạn ngăn dòng;

b) Đường quan hệ Q = F(Hhl);

c) Hệ số nhám lòng dẫn của đoạn ngăn dòng;

d) Mặt bằng địa hình đoạn sông ở tuyến công trình;

e) Mặt cắt ngang của lòng sông tại tuyến ngăn dòng. Có không ít hơn 5 mặt cắt bố trí tại các tuyến ở phía trên và phía dưới tuyến ngăn dòng. Các mặt cắt cách nhau từ 25 m đến 50 m;



6.5.7 Tính toán thủy lực ngăn dòng tham khảo ở phụ lục D.

6.6 Thiết kế tổ chức thi công ngăn dòng

6.6.1 Nội dung thiết kế tổ chức thi công ngăn dòng

Thiết kế tổ chức thi công ngăn dòng bao gồm các công việc chính sau đây:

a) Tại tuyến ngăn dòng: thiết kế biện pháp gia cố lòng sông tại cửa hạp long, thu hẹp lòng sông, làm cầu tạm nếu ngăn dòng bằng phương pháp lấp toàn tuyến;

b) Tại tuyến dẫn dòng: thiết kế kênh dẫn dòng, dự kiến các điều kiện để cho phép ngập nước hố móng và một bộ phận công trình, thiết kế biện pháp và trình tự phá đê quây đợt I;

c) Các công việc chuẩn bị và phụ trợ: sản xuất vật liệu lấp dòng, vận chuyển và kho bãi chứa vật liệu, thiết kế hệ thống chiếu sáng, quy định nội dung công tác quan trắc thủy văn, thống kê và kiểm tra an toàn lao động trong suốt quá trình ngăn dòng;

d) Thành lập lực lượng thi công ngăn dòng, ban chỉ đạo ngăn dòng và giao nhiệm vụ kế hoạch cụ thể cho các đơn vị tham gia thi công ngăn dòng.



6.6.2 Gia cố và thu hẹp lòng sông

6.6.2.1 Thiết kế gia cố và thu hẹp lòng sông phải thông qua tính toán thủy văn, thủy lực, điều kiện bảo đảm giao thông thủy và các điều kiện khác về thi công như đã quy định tại 6.3.

6.6.2.2 Vật liệu dùng để làm gia cố lòng sông tại cửa hạp long thường là đá hộc hoặc bằng các khối bê tông đúc sẵn.

6.6.2.3 Khi đổ đá, các xà lan được neo theo các tuyến đã định dọc theo lòng sông và được định vị bằng các máy trắc đạc, xem hình 9.



Hình 9 – Sơ đồ bố trí xà lan khi gia cố lòng sông

6.6.2.4 Lòng sông được thu hẹp theo trình tự sau: ô tô tự đổ đổ đá tại đầu băng két sau đó dùng máy ủi san đá lấn dần từ bờ ra. Có thể đổ lấn từ 1 bờ hoặc cả từ cả 2 bờ ra. Có thể dùng xà lan mở đáy để đổ đá.

6.6.3 Phá đê quây

6.6.3.1 Khi xây dựng công trình đầu mối theo hai giai đoạn thì trước khi ngăn sông phải phá đê quây đợt 1. Vị trí, kích thước, cao trình, khối lượng của đoạn đê quây cần phá phải được xác định thông qua tính toán. Những công trình từ cấp I trở lên, nếu thấy cần thiết thì tiến hành thí nghiệm mô hình.

6.6.3.2 Phá đê quây phải thực hiện theo đúng quy định của thiết kế. Nếu phá đê quây không hết sẽ làm cho mực nước thượng lưu dâng cao hơn mực nước thiết kế ngăn dòng, gây khó khăn cho việc ngăn dòng.

6.6.3.3 Công tác phá đê quây được tiến hành theo hai giai đoạn:

a) Giai đoạn 1: đào thu nhỏ mặt cắt đê quây bao gồm phần đỉnh, lăng trụ đá phía trong hố móng, lớp đá gia cố ở mái dốc ngoài, thu dọn các vật cản có thể làm trở ngại cho việc phá đê quây ở giai đoạn 2 (xem sơ đồ hình 10).





Hình 10 – Sơ đồ mặt cắt tối thiểu của đê quây sau khi phá ở giai đoạn 1

Khi phá đê quây phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Cao trình đỉnh đê quây sau khi phá ở giai đoạn 1 còn phải cao hơn cao trình mực nước thực tế không ít hơn 1,0 m;

- Chiều rộng đỉnh đê quây sau khi phá không nhỏ hơn từ một lần đến hai lần chiều cao cột nước trước đê quây và phải kiểm tra gradien thấm. Đối với đê quây đắp bằng đất á cát thì gradien thấm không được lớn hơn 0,5;

b) Giai đoạn 2: phá đê quây làm ngập hố móng để tháo nước qua công trình dẫn dòng. Nên phá đê quây hạ lưu trước, phá đê quây thượng lưu sau. Để tạo cửa mở ban đầu có thể dùng máy ủi hoặc nổ mìn. Để phá tiếp đến mặt cắt thiết kế có thể dùng máy đào gầu nghịch, gầu dây hoặc một loại thiết bị đào phù hợp. Nếu là đê quây kiểu ván cừ chuồng gỗ thì trình tự phá là đào lăng trụ đất đá trước sau đó nhổ ván cừ, phá chuồng gỗ.

6.6.4 Chuẩn bị vật liệu ngăn dòng ở cửa hạp long

6.6.4.1 Vật liệu lấp dòng thường dùng là đá hộc, đá quá cỡ, các khối lăng thể bê tông. Kích thước, trọng lượng của các vật liệu trên phải qua tính toán thủy lực để xác định. Có thể dùng rọ đá, nhồi hỗn hợp đất đá vào bao tải, rồng tre hoặc tạo liên kết các hòn đá nhỏ để thành các khối đá có đủ kích thước và trọng lượng theo yêu cầu của tính toán.

6.6.4.2 Cố gắng bố trí các bãi chứa vật liệu ngăn dòng ở vị trí càng gần cửa hạp long càng tốt. Bố trí ở một bờ nếu ngăn dòng từ một phía hoặc bố trí cả hai bờ nếu lấp dòng từ hai phía.

6.6.4.3 Vật liệu ngăn dòng phải bố trí riêng từng loại, từng kích thước để thuận tiện cho thi công.



1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương