Tài liệu truyền thông phòng chống bệnh tăng huyếT ÁP



tải về 154.83 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích154.83 Kb.

SỞ Y TẾ

TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG


TÀI LIỆU TRUYỀN THÔNG

PHÒNG CHỐNG BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP


(Dành cho Trung tâm y tế, Trạm y tế)


(LƯU HÀNH NỘI BỘ)


Bắc Kạn, năm 2016

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh rất thường gặp trong cộng đồng. Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng và tuổi mắc mới cũng ngày một trẻ. Các yếu tố nguy cơ của THA là ăn, uống không hợp lí do chế độ ăn quá nhiều chất béo động vật, ăn mặn, ít vận động cơ thể, uống nhiều rượu, bia, hút thuốc lá; rối loạn chuyển hóa Lipít, thừa cân béo phì, đái tháo đường, xơ vữa động mạch, căng thẳng, lo âu quá mức.v.v...

Tại Việt Nam, thống kê mới nhất năm 2008, cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn là 25,1%. THA đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch. THA là "Kẻ giết người số một". Đối với người bị THA, nguy cơ bị đột quỵ (tai biến mạch não) tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người không bị THA. Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi số huyết áp (HA) tăng mỗi 20 mmHg đối với HA tâm thu và tăng 10 mmHg đối với HA tâm trương. Do vậy việc truyền thông, tư vần để giúp cho những người có nguy cơ mắc THA và những người đã mắc THA là rất quan trọng và cần thiết.



Truyền thông, tư vấn phòng chống bệnh THA nhằm mục tiêu giúp người bệnh THA trở thành “Bác sỹ của chính mình”, bởi vì người có nguy cơ cơ mắc THA và đã mắc THA có vai trò quyết định để phòng bệnh, phòng biến chứng của bệnh.

2.  Khái niệm và chẩn đoán bệnh THA

2.1. Khái niệm

- HA là gì? HA là áp lực máu ở trong lòng động mạch giúp cho máu được luân chuyển tới các mô và cơ quan trong cơ thể. HA tối đa (HA tâm thu) là do lực co bóp của tim tạo nên. HA tối thiểu (HA tâm trương) là do trương lực thành mạch tạo nên. HA bị ảnh hưởng bởi sức co bóp và tần số tim, độ nhớt của máu, thể tích máu lưu thông và sức đàn hồi của thành mạch.

-Thế nào là HA bình thường? HA bình thường đối với người lớn đo ở cánh tay là ≤120/80 mmHg.

- Thế nào là tiền THA ? Tiền THA ở người trưởng thành, đo ở cánh tay, HA tối đa là 120-139 mmHg; HA tối thiểu là 80- 89 mmHg. Những người có chỉ số HA như thế này nếu không điều chỉnh chế độ ăn, uống và sinh hoạt thì sẽ sớm trở thành THA thực sự.

- Thế nào là HA mục tiêu ? HA mục tiêu là người bị THA điều trị tích cực, đúng phác đồ để liên tục đạt chỉ số HA dưới 140/90mmHg.

2.2. Chẩn đoán bệnh THA: THA là khi đo HA >140/90mm Hg

2.3. Phân độ tăng HA: Để biết bệnh tăng HA nặng hay nhẹ, khi nào cần điều trị và khi nào cần điều trị tích cực; năm 2003 liên Ủy ban Quốc gia về tăng HA của Hoa Kỳ (JNC) đưa ra phân độ ở người 18 tuổi theo bảng dưới đây:

Bảng 01. Phân độ THA theo JNC

Phân độ huyết áp

Huyết áp tâm thu (mmHg)

Huyết áp tâm trương (mmHg)

Huyết áp tối ưu

< 120

< 80

Huyết áp bình thường

120 – 129

80 – 84

Tiền THA

130 – 139

85 – 89

THA độ 1

140 – 159

90 – 99

THA độ 2

160 – 179

100 – 109

THA độ 3

≥ 180

≥ 110

THA tâm thu đơn độc

≥ 140

< 90


2.4. Các xét nghiệm cần thiết với người bị THA

- Kiểm tra đường máu (Glucose) để phát hiện sớm tiền đái tháo đường và bệnh đái tháo đường, vì khi bị THA sẽ dẫn đến nguy cơ bị đái tháo đường.

- Kiểm tra chức năng thận xem có bị tổn thương không bằng các xét nghiệm:

+ Xét nghiệm máu (Urê, Creatinin), vì khi THA khi HA tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90 mmHg đã có nguy cơ tổn thương mạch máu ở thận.

+ Xét nghiệm nước tiểu 10 thông số: Trong 10 thông số có 01 thông số rất quan trọng là Protein, hay còn gọi là đạm trong nước tiểu (bình thường trong nước tiểu không có Protein). Nếu có Protein trong nước tiểu nghĩa là thận đã bị tổn thương do THA không được điều trị hoặc được uống thuốc hạ HA mà không kiểm soát được HA mục tiêu.


  • Xét nghiệm mỡ máu gồm 4 thành phần (Cholesterol, Trigricerid, HDL-C, LDL-C) để đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch. Mặc dù nếu HA đã kiểm soát được về mức mục tiêu cần đạt, nhưng nếu để mỡ máu tăng cao bệnh nhân vẫn có biến chứng như: có thể bị viêm tuỵ cấp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

  • Xét nghiệm chức năng gan gồm: GOT, GPT để xem gan có bị tổn thương không mục đích để phục vụ cho sử dụng thuốc điều trị. Xét nghiệm điện giải đồ gồm: Na+ ; K+ ; CL- , Ca++ có thể xác định được nguyên nhân THA do nội tiết.

  • Xét nghiệm tìm yếu tố viêm gồm: Tốc độ máu lắng, CRP để xác định xem có tình trạng viêm không vì nó liên quan đến quá trình xơ vữa động mạch.

  • Một số xét nghiệm/thăm dò khác như định lượng T3, T4 để xem có phải THA do cường giáp trạng không? hoặc siêu âm thận có phải THA do sỏi thận, thận đa nang hay u tủy thượng thận không? điện tim xem THA đã có biến chứng thiếu máu cơ tim chưa?....

Bảng 02. Các chỉ số xét nghiệm sinh hóa máu

Tên xét nghiệm

Bình thường

Tên xét nghiệm

Bình thường

Glucose

3,9 - 5,6 mmol/l

Acid uric

Nam: 180-420 µmol/l

Nữ :150 -360 µmol/l



Urê

2,5 – 7,5 mmol/l

Trigricerid

0,4 5 - 1,88 mmol/l

Creatinin

Nam:62-120µmol/L

Nữ: 53 - 110 µmol/L



Cholesterol

3,9 - 5,2 mmol/l

GOT

≤ 37 u/L

HDL-c, LDL-c

≥ 0,9 mmol/l

≤ 3,4 mmol/l



GPT

≤ 40 u/L

Na +

135-145 mmol/l

Tốc độ máu lắng

1h = 10

2 h = 20


K +

3,5-5,0 mmol/l

CRP




Ca ++

1,17-1,29 mmol/l

3. Nguyên nhân và nguy cơ của bệnh THA

Bệnh THA là bệnh khá phổ biến trên thế giới, có 2 loại THA là THA thứ phát và THA nguyên phát.



3.1. Tăng huyết áp thứ phát: THA thứ phát là THA có nguyên nhân, là chỉ triệu chứng của những bệnh gây ra THA, gồm:

3.1.1. Do mắc các bệnh ở thận: Viêm thận cấp, viêm thận mạn, suy thận, thận đa nang, ứ nước bể thận, u tăng tiết renin, sỏi thận…

3.1.2. Do mắc các bệnh nội tiết

- Hội chứng Conn: Là bệnh tăng tiết Aldosteron, Aldosteron là chất gây THA;

- Hội chứng Cushing;

- Phì đại tuyến thượng thận bẩm sinh;

- U tủy thượng thận: Gây ra cơn THA;

- Tăng can xi máu;

- Cường tuyến giáp, bệnh to đầu chi;

3.1.3. Do mắc các bệnh tim mạch

- Hẹp đoạn xuống quai động mạch chủ: THA chi trên, chi dưới HA lại thấp hơn.

- Hở van động mạch chủ: HA tối đa tăng, HA tối thiểu giảm.



3.1.4. Một số nguyên nhân khác

- Nhiễm độc thai nghén;

- Bệnh tăng hồng cầu;

- Nguyên nhân thần kinh ;

- Do thuốc: Sử dụng thuốc Corticoide kéo dài, thuốc tránh thai, cam thảo.v.v…cũng làm HA tăng cao.

3.2. Tăng huyết áp nguyên phát: Là THA chưa rõ nguyên nhân, người mắc THA là do các yếu tố nguy cơ sau:

- Nghiện thuốc lá, thuốc lào;

- Rối loạn chuyển hóa Li pít;

- Thừa cân béo phì;

- Đái tháo đường;

- Xơ vữa động mạch;

- Người cao tuổi ;

- Nữ giới đã mãn kinh;

- Uống nhiều rượu bia, béo phì, ít vận động cơ thể;


  • Căng thẳng, lo âu quá mức.

Tất cả các yếu tố nguy cơ trên đều nguy hiểm bởi vì yếu tố nguy cơ này có thể gây ra hoặc làm xấu thêm các yếu tố nguy cơ khác, khi người bệnh có cùng nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng bị bệnh THA càng cao.

3.3. Cơ chế của một số các yếu tố nguy cơ gây THA

3.3.1. Vì sao THA lại gây các biến chứng nguy hiểm?

Bình thường trong lòng mạch máu rất trơn chu và đàn hồi, khi bị THA lâu ngày mà không được điều trị thì thành động mạch bị mất dần tính đàn hồi, lòng mạch bị nhỏ lại và thành mạch xơ cứng. Khi thành mạch xơ cứng sẽ làm cho HA tăng lên và càng làm đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch; mỡ tích lại thành mạch nhiều hơn, mỡ sẽ chui vào các lớp áo trong của thành động mạch, làm tổn thương lòng mạch, tạo điều kiện cho hình thành cục máu đông và làm cho thành mạch ngày càng yếu đi, nguy cơ vỡ. Từ đó sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra các biến chứng nguy hiểm như: tổn thương thận dẫn đến suy thận (suy thận giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo), tổn thương động mạch ở mắt gây mù loà, tai biến mạch máu não (TBMMN: nhồi máu não hoặc xuất huyết não), nhồi máu cơ tim (NMCT).v.v..



3.3.2. Vì sao hút thuốc lá gây THA?

Khói thuốc lá có chất độc là ni cô tin, ni cô tin là gây tác hại trên phổi, tim và gây xơ cứng thành mạch máu, làm tim đập nhanh hơn, làm mạch máu co hẹp lại nên làm THA.



3.3.3. Vì sao rối loạn mỡ máu gây THA?

Rối loạn mỡ trong máu là bệnh lý do tăng thành phần mỡ gây tác hại và giảm thành phần mỡ có lợi bảo vệ cho cơ thể. Mỡ máu (Lipid máu) có 2 thành phần chính là Triglycerides và Cholesterol, chúng là 2 dạng Lipít khác nhau, được tuần hoàn trong máu. Triglycerides được dự trữ và cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động, Cholesterol được dùng để tổng hợp nên một số loại Hormone.



Cholesterol: Cholesterol trong máu cơ bản là do gan tạo ra, chiếm 80%; gan có khả năng tổng hợp Cholesterol từ những chất khác như đường, đạm. Chỉ có 20% Cholesterol được hình thành trong cơ thể từ một phần thức ăn hàng ngày trong thịt, mỡ, trứng.v.v....

Cholesterol không phải là chất hoàn toàn gây hại cho cơ thể, chúng ta không thể sống được nếu không có Cholesterol. Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Ở trong gan, Cholesterol còn dùng để sản xuất ra Axít mật giúp tiêu hóa thức ăn.



Cholesterol không tan trong máu nên được vận chuyển bởi chất mang có tên là Lipoprotein để tuần hoàn khắp cơ thể. Có 2 loại Cholesterol cần được xét nghiệm là: Lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL-C = Low Density Lipoprotein- Cholesterol), cao (HDL-C = High Density Lipoprotein- Cholesterol).

LDL-C là một dạng Cholesterol gây hại cho cơ thể, chúng vận chuyển Cholesterol vào trong máu, thấm vào thành mạch máu rồi hình thành nên xơ mỡ động mạch. Nên LDL-C còn được gọi là Cholesterol xấu.

Nguyên nhân gây tăng (LDL-C) là do ăn nhiều các thực phẩm sau đây:

+ Bơ, mỡ đông lạnh, dầu chiên đi chiên lại nhiều lần;

+ Sô cô la;

+ Thịt nhiều mỡ, gan, thận, óc, lòng;

+ Lòng đỏ trứng gà;

+ Ngỗng, ngan, vịt;

+ Khoai tây rán các loại;

+ Rượu, bia;



HDL-C là một dạng Cholesterol có lợi cho cơ thể, chúng chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang Cholesterol dư thừa, ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan. Nên HDL-C còn được gọi là Cholesterol tốt.

Nguyên nhân gây giảm (HDL-C) là:

+ Hút thuốc lá;

+ Béo phì;

+ Ít vận động thể lực;

+ Đái tháo đường tuýp 2;

+Tăng Triglycerides;

+ Dùng thuốc hạ HA loại chẹn bêta giao cảm (Betaloc, Metoprolol, Atenolol, Bisoprolol) kéo dài.

+ Rối loạn gen chuyển hóa HDL-C.



Triglycerides: Triglycerides là một loại chất béo trong máu, năng lượng từ thực phẩm chúng ta ăn vào sẽ được chuyển hóa thành Triglycerides và dự trữ trong mô mỡ. Sau đó, Triglycerides sẽ được chuyển hóa thành năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ thể. Nếu năng lượng thu vào nhiều hơn năng lượng cơ thể bị đốt cháy thì Triglycerides sẽ tăng trong máu. Tăng Triglycerides trong máu quá cao sẽ góp phần thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch.

Ngoài ra tăng Triglycerides còn làm gan nhiễm mỡ, làm tăng đề kháng với Insulin, dẫn đến bệnh đái tháo đường. Ngoài ra nếu Triglycerides quá cao (>1000mg/dl) có thể gây ra viêm tụy cấp. Vì vậy ở bệnh nhân đái tháo đường, người ta thường làm xét nghiệm Triglycerides.

Trong cơ thể chúng ta luôn có sự cân bằng giữa hai quá trình gây hại và bảo vệ. Cho nên khi ta dùng từ tăng Cholesterol hay tăng mỡ trong máu, để chỉ tình trạng rối loạn mỡ máu là chưa chính xác mà ta phải gọi là tăng thành phần gây hại. Khi không có tăng thành phần gây hại, nhưng có giảm thành phần bảo vệ thì vẫn gọi là rối loạn mỡ máu.



Nguyên nhân tăng Triglycerides là do:

+ Thiếu hụt gen lipase tiêu huỷ Lipoprotein;

+ Tăng TG có tính chất gia đình;

+ Béo phì;

+ Uống quá nhiều rượu;

+ Đái tháo đường;

+ Dùng thuốc hạ huyết áp loại chẹn bêta giao cảm (Betaloc, Metoprolol, Atenolol, Bisoprolol) kéo dài;

+ Ăn quá nhiều tinh bột.



3.3.4. Vì sao béo phì gây THA

Người bị béo phì sẽ bắt tim làm việc nhiều hơn, ngay cả trong khi nghỉ ngơi sẽ cần phải gắng thở nhiều hơn để cung cấp oxy cho cơ thể dẫn đến tăng nguy cơ THA, xơ vữa đọng mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ.



3.3.5. Vì sao căng thẳng, lo âu quá mức gây THA

Khi bị căng thẳng, lo âu quá mức, cơ thể phản ứng lại bằng cách tăng nhịp tim, HA sẽ tăng lên.



3.3.6. Vì sao ăn mặn gây THA? Vì ăn mặn làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với Natri, Ion natri sẽ chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch máu, gây tăng tích nước trong tế bào, tăng trương lực của thành mạch, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi, dẫn đến THA.

4. Biến chứng của bệnh THA

- Các biến chứng tim mạch: Nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim.v.v...

- Các biến chứng về não: Tai biến mạch não hay còn gọi là đột quỵ não (bao gồm cả xuất huyết não và nhũn não); bệnh não do THA (rối loạn tâm thần, khóc, cười, giận giữ vô cớ).v.v...

- Các biến chứng về thận: Đái ra Protein; suy thận.v.v...

- Các biến chứng về mắt, tiến triển theo các giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.v.v...

- Các biến chứng về mạch máu ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ tạo nên cơn đau xé ngực, nếu không cấp cứu kịp thời thì sẽ nhanh chóng tử vong.v.v...



* Nhận biết bệnh THA và các biến chứng của THA

Đại đa số các bệnh nhân bị THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước (có trường hợp HA tối đa tăng 180-200 mmHg, nhưng người bệnh vẫn thấy bình thường). Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có đau đầu, mặt bừng đỏ, thể tạng béo.v.v... là hết sức sai lầm. Nhiều khi sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là bị tai biến mạch não rồi. Do vậy, việc kiểm tra HA thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ cao THA là hết sức cần thiết và quan trọng.



Có rất nhiều người bệnh cho đến khi bị các biến chứng của THA thì biết mình bị THA và mới hiểu rõ việc khám định kỳ để phát hiện bệnh THA và điều trị bệnh THA liên tục là rất quan trọng, như vậy đã muộn. THA nếu không được điều trị đúng, khi xảy ra tai biến sẽ có rất nhiều di chứng nặng nề, có thể tử vong, chất lượng cuộc sống giảm hoặc “Bằng không”, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

*Đột quỵ (stroke) do THA

Đột quỵ (stroke) do THA hay thường được gọi là tai biến mạch não là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh do tắc mạch não (nhồi máu não) và do chảy máu não (xuất huyết não).



Nhồi máu não là một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi não, các tế bào não sẽ ngừng hoạt động và sẽ chết đi sau vài phút. Biểu hiện lâm sàng là bệnh nhân sẽ có các triệu chứng như: tự nhiên bị ngã, rồi nói ngọng, tê chân tay, liệt nửa người; nặng hơn là hôn mê, thậm chí tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều người bảo là “Bị trúng gió hoặc bị cảm”, không đưa đi viện, không đo HA mà lại đi “Đánh cảm” hay “Cạo gió” là rất sai lầm. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu não từ 15-20%.

Xuất huyết não là mạch máu bị vỡ do THA, máu chảy vào tổ chức não hoặc chảy vào khoang trống bao quanh não sẽ chèn ép não. Biểu hiện lâm sàng là bệnh nhân sẽ có các triệu chứng như nhồi máu não, nhưng nặng nề hơn, có thể hôn mê, co dật luôn. Tỷ lệ tử vong lên đến 80-85%.

Những người bị THA có nguy cơ cao bị đột quỵ thường là những người trên 55 tuổi có kèm theo các bệnh phối hợp như đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn mỡ máu, bệnh mạch vành, bệnh van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì, thừa cân, lười vận động và căng thẳng thần kinh, lo lắng.

Người bị bệnh đái tháo đường mà có THA có nguy cơ tử vong cao, bởi vì: Đái tháo đường làm tổn thương các mạch máu nhỏ, nhất là mạch vành nuôi tim và mạch máu não hoặc tăng khả năng hình thành cục máu đông. Lúc này trên nền tảng động mạch bị tổn thương sẵn chỉ cần một cơn THA là động mạch vỡ ra và gây tai biến. Nếu vỡ ở động mạch não thì sẽ gây xuất huyết não, nếu hình thành cục máu đông ở mạch vành làm tắc mạch vành thì sẽ bị nhồi máu cơ tim.



5. Điều trị và phòng bệnh THA

5.1. Điều trị bệnh THA

- Điều trị bệnh THA là điều trị nguyên nhân gây nên THA, kết hợp với dùng thuốc hạ HA để đưa HA về bình thường, việc này phải được tiến hành ở cơ sở y tế.

- Việc dùng thuốc hạ HA để đưa chỉ số HA về bình thường phải từ từ và tùy theo từng bệnh nhân sẽ có chỉ định dùng thuốc khác nhau.

5.2. Khi nào cần đến thuốc điều trị bệnh tăng HA?

THA từ độ I trở lên là có chỉ định dùng thuốc hạ HA, tuy nhiên đối với bệnh nhân mới phát hiện THA thì chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn, uống luyện tập, nếu trong một thời gian mà HA không về bình thường thì sẽ phải uống thuốc hạ HA. Dùng thuốc hạ HA phải tùy thuộc vào lứa tuổi bệnh nhân, yếu tố nguy cơ về bệnh tim mạch và các bệnh kèm theo của người bệnh. Vì vậy khi bị THA cần phải đến cơ sở Y tế để được khám đánh giá yếu tố nguy cơ tim mạch tổng thể để có chỉ định dùng thuốc phù hợp với từng bệnh nhân.



5.3. Điều trị người bệnh THA

5.3.1. Nguyên tắc điều trị

- Điều trị người bệnh THA là điều trị THA nguyên phát, nghĩa là THA không có nguyên nhân. Ngoài việc dùng thuốc hạ HA thì phải điều trị để loại bỏ các yếu tố nguy cơ là chính.



- Điều trị người bệnh THA là điều trị tại nhà theo tư vấn của thầy thuốc, ngoài dùng thuốc hạ HA, người bệnh còn phải tích cực điều trị các yếu tố nguy cơ gây THA.

- Điều trị người bệnh THA là điều trị liên tục, lâu dài, suốt đời, bệnh nhân không được tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc hạ HA.



- Điều trị người bệnh THA là điều trị dự phòng, với mục đích là để đạt HA mục tiêu, khi đã đạt được HA mục tiêu thì sẽ không xảy ra các triệu chứng, không để xảy ra biến chứng của THA, nghĩa là người bệnh THA không cần phải vào viện. Vì họ vẫn khỏe mạnh, vẫn lao động, học tập bình thường. Đây là tính ưu việt nhất của y học dự phòng.

- Mục tiêu điều trị là đạt “HA mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”.

- “HA mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được. Khi điều trị đã đạt HA mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời.

- Đối với bệnh nhân THA đã có tổn thương cơ quan đích thì cần điều trị cần hết sức tích cực. Không nên hạ HA quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích.

- Mỗi người bệnh THA phải có sổ y bạ do cơ sở y tế quản lý cấp, bác sỹ phải có trách nhiệm giải thích được cho bệnh nhân hiểu các kết quả khám, điều trị trong cuốn sổ y bạ này. Trường hợp người bệnh đi khám ở nơi khác hoặc khám bệnh khác thì hồ sơ khám bệnh người bệnh phải giữ để lần khám bệnh THA định kỳ đưa cho bác sỹ biết.

- Bệnh nhân THA cần đến khám đúng hẹn để được khám, tư vấn định kỳ, ít nhất là tháng/01 lần. Ngoài ra phải đến dự các lớp truyền thông giáo dục phòng, chống bệnh THA do cơ sở y tế quản lý mình tổ chức. Tại các lớp truyền thông này giữa bác sỹ và bệnh nhân THA có thể trao đổi, chia sẻ thỏa mãi. Nếu người bệnh THA không có khả năng đến dự truyền thông thì người nhà đi thay thế người bệnh.

- Mỗi khi cần thay đổi hay có triệu chứng gì lạ trong quá trình dùng thuốc hoặc đo HA ở nhà thấy THA phải thông báo ngay với bác sĩ điều trị. Vì vậy người bệnh THA phải có số điện thoại của Bác sỹ điều trị cho mình.

- Người bệnh THA phải nhớ tên Bác sỹ điều trị cho mình, ngược lại bác sỹ cũng phải nhớ tên và rất hiểu bệnh nhân THA của mình và thường xuyên trao đổi chia sẻ với nhau rất tự nhiên và thân mật.

- Duy trì huyết áp mục tiêu hàng ngày ở người đã được chẩn đoán THA là :

+ Nếu người THA không có bệnh khác kèm theo thì HA mục tiêu phải < 140/90 mmHg;

+ Nếu người THA và có bệnh đái tháo đường kèm theo thì HA mục tiêu phải ≤ 130/80 mmHg.

+ Nếu người bị bệnh đái tháo đường có biến chứng thận thị HA mục tiêu phải ≤ 125/75 mmHg.



5.3.2. Vai trò của người bệnh và gia đình

- Bất cứ bệnh gì cũng vậy, đặc biệt là đối với bệnh THA thì vai trò của người bệnh và gia đình là rất quan trọng. Người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ tư vấn điều trị theo tư vấn và đơn thuốc của thầy thuốc, cần phải biết “Giữ mình". Không nên vì mải công việc mà không đi khám định kỳ, bỏ thuốc, lúc đó nguy cơ tai biến mạch máu là rất lớn; đừng bỏ người thân, đồng nghiệp của mình khi sự nghiệp còn dang dở. Cần tuân thủ tốt y lệnh và tư vấn của thầy thuốc, không tự ý đổi thuốc, dù HA về bình thường, vẫn phải điều trị duy trì điều trị cho đến suốt đời.

- Phải tích cực điều trị các yếu tố nguy cơ như rối loạn li pít máu và đái tháo đường, rèn luyện ăn nhạt. Phải chú ý đến sinh hoạt cá nhân, tắm trong phòng kín để không có gió lùa, tắm không quá 15 phút. Mùa rét phải mặc áo kín cổ, giữ ấm toàn thân, kể cả bàn tay, bàn chân, vì bị nhiễm lạnh phần da hở ở bất kỳ vị trí nào đều làm co mạch máu gây THA. Không nên mặc quần áo quá chật vì sẽ cản trở máu lưu thông, nhất là ống tay áo phải rộng để dễ vén lên đo HA.

Không nên ăn quá no, uống nhiều nước vào buổi tối, vì dễ gây béo phì, làm tăng khối lượng tuần hoàn vào đêm, làm tăng nguy cơ THA. Hạn chế và tốt nhất là rèn thói quen không đi tiểu ban đêm, nếu phải đi tiểu ban đêm thì khi dậy phải dậy từ từ, mặc áo ấm mới dậy ra ngoài.

Người bệnh THA phải có thẻ Bảo hiểm y tế.

Đối với gia đình người bệnh cần phải có kiến thức cơ bản về bệnh THA, phải quan tâm nhắc nhở người thân của mình trong sinh hoạt, ăn uống, đi khám và uống thuốc đều đặn. Một gia đình hạnh phúc sẽ góp phần quan trọng vào phòng, chống bệnh THA và biến chứng của nó.

5.4. Các nhóm thuốc điều trị THA

5.4.1. Chọn thuốc khởi đầu (do bác sỹ quyết định)

THA độ 1:

Có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm lợi tiểu Thiazide liều thấp; ức chế men chuyển; chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài; chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định).



THA từ độ 2 trở lên:

Nên phối hợp 2 trong các loại thuốc sau: lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của Angiotensin II, chẹn bêta giao cảm.

Từng bước phối hợp các thuốc hạ HA cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu Thiazide (hydrochlorothiazide 12,5 mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích chậm (Nifedipine 10-20 mg/ngày), ức chế men chuyển (Enalapril 5 mg/ngày; Coversin 5mg/ngày.v.v...).


Bảng 03. Nhóm và tên các thuốc điều trị THA thường dùng hiện nay (bắt buộc phải có từ tuyến xã trở lên)


Nhóm thuốc

Tên thuốc thường dùng

Tác dụng phụ và cách xử trí

Ức chế men chuyển (ƯCMC)

Enalapril, Captopril, Coversyl

Tác dụng phụ: Gây ho, tăng kali máu, làm tăng mức độ suy thận.

Xử trí: Ngừng thuốc, thay thuốc nhóm khác

Ức chế thụ thể AT1 của Angiotensin II (ƯCTT)

Lostad, Cilzec,Telmisartan, Losartan,Valsartan

Tác dụng phụ: Tăng Creatinin và urê huyết, kali máu

Xử trí: Theo dõi xét nghiệm sinh hóa máu nếu tăng Creatinin và urê huyết, kali máu thì ngừng thuốc

Chẹn kênh canxi

Amlodipin, Nifedipin Adalat, Normodipine, Felodipin,Nimodipin,

Lacidipin




Tác dụng phụ: Chóng mặt, bốc hỏa và phù ngoại vi. Ngủ lịm, đau đầu và mệt mỏi. Khoảng 1-3% bệnh nhân bị tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như buồn nôn/nôn, chán ǎn, táo bón, tǎng cân, khát nước, khó tiêu, và loạn vị giác.

Xử trí: Ngừng thuốc, thay nhóm thuốc hạ áp khác

Chẹn bêta

Propanolol, Metoprolol

Tác dụng phụ: Làm chậm nhịp tim,  làm nặng thêm suy tim, gây ra co thắt phế quản

Xử trí: Dùng liều khởi đầu với liều thấp và theo dõi hàng ngày nhịp tim, ngừng thuốc thay nhóm thuốc hạ HA khác.

Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương (Hiện nay ít dùng)

Methyldopa (Aldomet), Dopegyt

Tác dụng phụ: Độc tính với gan, gây buồn ngủ, hạ HA tư thế đứng, gây trầm cảm.
Nhức đầu, chóng mặt, sốt, hạ HA tư thế, hạ huyết áp khi đứng, giảm tình dục, khô miệng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, ngạt mũi.

Xử trí: Ngừng thuốc thay nhóm thuốc hạ áp khác

Lợi tiểu thiazide

Hydroclorothiazid, Furosemid

Tác dụng phụ:Hạ kali máu do tăng sự bài tiết kali vào trong nước tiểu, tăng acid Uric/máu, tăng Cholesterol và LDL.

Xử trí: Không dùng kéo, ngừng thuốc và theo dõi bằng xét nghiệm máu

5.5. Phòng bệnh THA

5.5.1. Các cấp độ dự phòng bệnh THA

- Phòng bệnh cấp 1 là phòng, chống để không mắc bệnh THA, không để mắc bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu hoặc đái tháo đường. Bởi vì các bệnh này là nguy cơ của THA. Phòng, chống để loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây THA như: hút thuốc lá, thuốc lào, thừa cân béo phì, uống nhiều rượu bia, béo phì, ít vận động cơ thể, căng thẳng, lo âu quá mức.

- Phòng bệnh cấp 2 là phát hiện ra bệnh ở giai đoạn mới chưa có triệu chứng, chưa có biến chứng của THA; từ đó giúp cho người bệnh áp dụng các biện pháp điều trị để không làm cho bệnh nặng lên.

- Phòng bệnh cấp 3 là áp dụng các biện pháp điều trị tích cực để tránh xảy ra các biến chứng hoặc tử vong.



5.5.2. Các biện pháp phòng bệnh cụ thể

* Ăn uống hợp lý

- Chế độ ăn giảm muối: Ăn hạn chế muối, nên dưới 2 gam/ngày (tương ứng với 1/2 đốt ngón tay cái). Riêng đối với các loại mỳ tôm không được cho thêm bột canh trong gói mỳ tôm, vì chỉ với sợi mỳ đã đủ lượng muối rồi.

Chú ý với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao. Muối thường được đề cập trong chế độ ăn hàng ngày là muối ăn (NaCl). Tuy nhiên, có nhiều loại muối khác có cùng gốc là NaCL tồn tại trong các loại như nước mắm, mì chính, bột canh, bột ngọt.v.v... cũng có tác hại tương tự muối ăn khi dùng nhiều.

- Đảm bảo ăn đủ các các loại thực phẩm như: Đu đủ, chuối, dưa hấu, bưởi, nho đậu xanh, đậu phụ, sữa đậu nành, đậu trắng, đậu đen, giá đỗ, các lọai rau như rau lang, rau dền, cải chíp, súp lơ xanh, rau ngót. Tăng cường ăn cá, vì cá có thành phần Omega3 có lợi cho tim mạch và HA.

Cụ thể về lượng các loại thực phẩm như sau :

+ Chất bột đường: Gạo xay hoặc giã rối (tẻ, nếp, lức) ngày ăn 200 gam tương đương với 4 lưng bát cơm

+ Dùng dầu thực vật: 10-20g/ngày (tương đương 10 - 20 ml/ngày).

+ Chất đạm: Thịt nạc, cá nạc, thịt gà bỏ da, ăn 100 – 150g thịt/ngày (tương đương 1- 1,5 lạng/ngày).

+ Đậu phụ: 150 – 200g /ngày (tương đương 1,5- 2 lạng/ngày).

+ Sữa đậu nành không đường: 200 – 400ml/ ngày.

+ Các loại rau, quả: Ăn được tất cả các loại rau từ 300 – 500g/ngày, có tác dụng điều hòa đường máu, kéo các chất mỡ ra khỏi lòng ruột, nên giảm nguy cơ tăng mỡ máu. Không nên ăn quả sấy khô, quả chín nên ăn nguyên miếng, rửa sạch nếu ăn được nên ăn cả vỏ, không nên xay thành sinh tố.

- Hạn chế ăn các thức ăn có nhiều Cholesterol (mỡ) và acid béo no (lòng đỏ trứng gà, thịt đỏ, thức ăn nhanh, đồ nướng, cùi dừa).

- Hạn chế rượu, bia: Tốt nhất là không nên uống rượu bia các loại, nếu phải uống thì dùng không quá 15-30 ml rượu/ngày. Phụ nữ và người nhẹ cân mỗi ngày không uống quá 15 ml rượu tương đương với 360 ml bia hoặc 150 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu Whisky. Nam giới mỗi ngày không uống quá 2 ly nhỏ, tương đương 30 ml Ethanol, tức khoảng 330 ml bia hay 120 ml rượu vang hay 30ml rượu whisky).

Chúng ta nên ăn 3 bữa một ngày trong đó khoảng một nửa thực phẩm là chất bột, rau xanh, trái cây, không dùng nhiều mỡ và chất ngọt. Cố gắng ăn các thức ăn có nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, đậu hạt các loại.v.v... khẩu phần ăn hàng ngày (tính theo mức cung cấp năng lượng) không quá 1/10 là lượng mỡ bão hòa (mỡ động vật). Vì vậy, nên ăn nhiều cá và giảm các loại thịt đỏ như: thịt lợn, thịt bò; ăn giảm mỡ động vật và lòng đỏ trứng vì chúng có hàm lượng mỡ bão hòa cao, là nguồn gốc phát sinh ra xơ vữa động mạch. Nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật.

Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân. Acid béo omega-3 trong cá và các loại hạt này có tác dụng làm sạch Cholesterol xấu, tăng lượng Cholesterol tốt và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Những loại hạt này còn có nhiều loại khoáng chất cần thiết để điều hòa HA như magie.

Chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lức, bắp lức, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ HA. Các chất xơ, nhất là chất xơ tan trong nước, có khả năng hút nước và trương nở lên đến 8 - 10 lần trọng lượng ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc hại ra khỏi cơ thể. Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những Axít mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột. Điều này buộc cơ thể huy động đến kho dự trữ Cholesterol ở gan để tạo ra những acid mật mới vì vậy làm giảm Cholesterol máu. Các loại đậu, nhất là đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành với nhiều chất xơ, chất khoáng và những chất chống oxy hóa, là một nguồn chất đạm và chất béo lý tưởng cho phòng chống THA.

Ngoài chất xơ và những vi chất khác, ăn nhiều rau quả còn giúp bảo đảm chế độ ăn có nhiều kali và ít Natri là yếu tố vô cùng quan trọng giúp ổn định HA. Nhiều loại củ quả như: khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng Kali rất cao, đặc biệt là chuối. Do đó, chuối có tác dụng rất tốt trong việc hạ HA và chống đột quỵ.

* Giảm cân nặng (nếu thừa cân) và tăng cường luyện tập: Với mục tiêu là giảm vòng bụng < 80 cm với nữ và < 90 cm với nam. Hãy kiên trì tập thể dục hai tiếng rưỡi mỗi tuần để tăng cường sức khỏe. Tăng cường các hoạt động thể lực phải thích hợp với người bệnh (đi bộ tập thể dục nhẹ, có thể đị xe đạp tại chỗ khoảng 30-60 phút/ngày, 4-7 lần/tuần). Vận động cơ thể đều đặn và cần tập thể dục 30-45 phút mỗi ngày (4-7 ngày/tuần).

Cơ sở khoa học của rèn luyện sức khoẻ ở bệnh nhân THA là điều hòa lượng Cholesterol máu, kìm chế quá trình xơ vữa động mạch, làm giãn và tăng tính đàn hồi của các mạch máu trong các cơ hoạt động và giảm sức cản máu ngoại biên, kết quả là sẽ giảm HA.

Nhưng cần phải nhớ rằng, phải qua 2-3 tháng tập luyện thường xuyên HA mới bắt đầu hạ xuống, bởi vậy tập luyện đòi hỏi phải kiên trì. Tuỳ theo tình trạng sức khỏe có thể tập đi bộ từ chậm đến nhanh rồi chạy bước nhỏ, hay tập luân phiên giữa đi bộ nhanh và chạy bước nhỏ. Nguyên tắc tập luyện chung là thường xuyên, liên tục và nâng dần tốc độ hoặc thời gian tập.

Chú ý: Với những bệnh nhân THA độ III (trên 180/110mmHg) thì cần phải kiểm soát được huyết áp bằng việc dùng thuốc trước, sau đó mới tiến hành chương trình tập luyện bằng các bài tập đi bộ nhanh kết hợp tập các bài tập thở, sau một số tuần có thể tăng tốc độ hoặc quãng đường đi bộ. Khi có biểu hiện suy tim thì không được tập luyện, bệnh nhân chỉ đi dạo, hít thở không khí trong lành.



* Bỏ thuốc lá, thuốc lào: Thuốc lá, thuốc lào ngày càng được chứng minh là rất có hại cho sức khỏe. Ngừng hút thuốc là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh THA, các bệnh tim mạch và các bệnh khác. Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe vì gây ra nhiều bệnh, nhất là bệnh THA. Người bệnh THA nếu đang nghiện thuốc lá thì phải lập kế hoạch cai thuốc lá ngay và thực hiện nghiêm ngặt là điều cấp thiết để bảo vệ sức khỏe bạn và mọi người xung quanh.

* Tránh căng thẳng, lo âu quá mức: Giảm căng thẳng tâm thần vì Stress gây THA và có thể gây ra đột quỵ. Đối với người THA mà điều trị không đạt HA mục tiêu, có nhiều yếu tố nguy cơ, khi bị Stress kéo dài hoặc đột ngột có thể bị đột quỵ ngay (hay còn gọi là hiện tượng trào ly nước).

* Tránh lạnh đột ngột: Lúc trời gió rét phải mặc áo kín cổ kín cả bàn tay, bàn chân. Hạn chế uống nước vào buổi tối để không phải dậy đi tiểu đêm, nếu phải đi tiểu đêm thì khi dậy phải từ từ, mặc áo ấm mới ra khỏi giường.

*Theo dõi HA thường xuyên và dùng thuocs theo hướng dẫn của thầy thuốc: Mỗi người cần theo dõi HA đều đặn, đo ít nhất hai lần mỗi năm. Nhiều người không biết HA mình cao vì đa số THA không có triệu chứng.

HA nên duy trì dưới 120/80 mmHg, trên mức 140/90 mmHg là THA. Dùng thuốc hạ HA theo hướng dẫn của bác sĩ, đừng bỏ sót một ngày nào dù thấy khỏe mạnh và cả khi HA đã trở về trong giới hạn bình thường. Nếu cho rằng có thể giảm liều lượng thuốc thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ.



* Điều trị tốt bệnh Đái tháo đường: Cần duy trì đường huyết ở mức độ trung bình, vì bệnh này làm tăng nguy cơ tai biến từ 2 đến 4 lần cũng như tăng tỷ lệ tử vong.

* Điều trị rối loạn mỡ máu: Những người THA cần được kiểm tra mỡ máu định kỳ, bao gồm Cholesterol toàn phần, LDL-C, Triglycerides và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng mỡ máu 3 tháng/lần. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống.




Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương