Thị trường các sản phẩm nông nghiệp Thị trường sản phẩm nông nghiệp



tải về 0.86 Mb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu24.03.2020
Kích0.86 Mb.
  1   2   3   4   5   6

Thị trường các sản phẩm nông nghiệp

Thị trường sản phẩm nông nghiệp

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương

Số tháng 08/2016 29/08/2016







TRONG SỐ NÀY:







  • Tổng quan ngành

  • Thông tin thị trường nội địa

  • Diễn biến thị trường nông, lâm, thủy sản trong kỳ

  • Hoạt động sản xuất và tiêu thụ nông, thủy sản tại thị trường trong nước

  • Cần đẩy mạnh xây dựng và phát triển thương hiệu của các sản phẩm nông nghiệp

  • Thông tin thị trường xuất khẩu

  • Xuất khẩu nông thủy sản sang Mỹ tăng khá

  • Xuất khẩu nông, thủy sản sang thị trường Nhật Bản giảm nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2016

  • Thông tin xúc tiến thương mại

  • Cơ hội xuất khẩu rau củ quả sang Úc

  • Hội thảo giao thương với doanh nghiệp Ấn Đ

  • Đưa thương hiệu quốc gia đến gần hơn với người tiêu dùng

  • Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam xuất khẩu nông sản

  • Giới thiệu thị trường nhập khẩu gạo của An-giê-ri

  • 3-5/8: Triển lãm Quốc tế Thủy sản Việt Nam

  • 11-20/9: Mời tham gia Đoàn XTTM và Đầu tư tại Ca-mơ-run và Kê-ni-a

  • Thông tin chính sách

  • Xuất khẩu tôm hưởng lợi từ FTA Việt Nam - Hàn Quốc

  • Việt Nam và Hoa Kỳ ký thỏa thuận về chống bán phá giá tôm nhập khẩu

  • Kiến nghị 11 biện pháp gỡ khó xuất khẩu thủy sản

  • Tin vắn

  • Thông tin cảnh báo

  • Doanh nghiệp cần tuân thủ quy định khi xuất khẩu thủy sản vào Australia

2

3

3

5

7


10

10

15


19

19

19

20

21

21

22



23

24

25

25

26



27

28

28





------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

PHÒNG THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU

655 Phạm Văn Đồng – Bắc Từ Liêm - Hà Nội

Bộ phận phát hành: (04) 37150521/(04) 37150490 Fax: (04) 37152574


TỔNG QUAN NGÀNH


Trong tháng 8, cơn bão số 2 và số 3 đã ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, gây thiệt hại về người và tài sản tại một số tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, do công tác phòng chống bão lụt đã được các Bộ, ngành, địa phương quan tâm, chỉ đạo kịp thời nên nguồn cung hàng hóa thiết yếu vẫn được bảo đảm, thị trường không xảy ra hiện tượng thiếu hàng sốt giá cục bộ.

Trong tháng, giá một số mặt hàng nhóm nhiên liệu, năng lượng có xu hướng giảm từ đầu tháng và dần tăng về cuối tháng; vật liệu xây dựng tăng; hàng hóa nhóm lương thực, thực phẩm giảm; các hàng hóa khác tương đối ổn định. Từ ngày 12/8, một số địa phương đã điều chỉnh tăng phí dịch vụ y tế theo lộ trình. Tuy nhiên, mức tăng không có tác động lớn đến mặt bằng giá hàng hóa.

Theo đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tháng 8 đạt 292.821 tỷ đồng, giảm 0,31% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 2.307.725 tỷ đồng. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 8 tháng chỉ tăng 7,2%.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản trong tháng 8/2016 đạt 1,95 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 13,4% so với tháng 8/2015. Trong tháng 8/2016, ngoại trừ hạt tiêu và cà phê là hai mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với tháng trước, những mặt hàng nông, thủy sản khác đều đạt mức tăng trưởng khá cao. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng trưởng 10,7% so với tháng trước, hạt điều tăng 5,7%, cao su tăng 5,3%, đặc biệt gạo tăng tới 39,1%; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 36,3%... trái lại, cà phê giảm 1,6%, hạt tiêu giảm 3,9%.

8 tháng đầu năm 2016, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn nhưng kim ngạch xuất khẩu của nhóm “nông, thủy sản” vẫn đạt mức tăng trưởng khả quan khi tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 14,19 tỷ USD.

Thị trường nông sản trong những tháng cuối năm nay được đánh giá có nhiều triển vọng, giá xuất khẩu nông sản sẽ tương đối ổn định, không có cú sốc nào về giá, thậm chí giá còn tăng ở một số mặt hàng; nhưng sản lượng một số mặt hàng nông sản chính giảm, nhất là gạo và cao su… Bên cạnh đó, giá hồ tiêu có xu hướng đi xuống và lượng tồn kho hồ tiêu lớn, do diện tích sản xuất hồ tiêu những năm gần đây tăng ồ ạt, gây dư cung, giảm giá. Hơn nữa, nhiều nước châu Âu đã cảnh báo về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên hồ tiêu Việt Nam có thể khiến họ chuyển sang mua tiêu của Braxin. Do đó, Việt Nam nên tập trung vào nâng cao chất lượng, chế biến theo chiều sâu, chú trọng phát triển thị trường tiềm năng là rau, quả…

Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu đang khá khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển hướng sang đầu tư, phát triển mạnh mẽ thị trường nội địa. Mặc dù vậy, doanh nghiệp cần phải xác định chiến lược phát triển lâu dài ở thị trường nội địa chứ không nên đơn thuần coi đây là phương án đối phó trong lúc xuất khẩu gặp khó khăn.

Hiện Việt Nam được đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất trên thế giới; không phải ngẫu nhiên mà các “ông lớn” ngành bán lẻ từ Nhật Bản, Thái Lan, Đức rồi Pháp muốn đi sâu vào thị trường nội địa Việt Nam. Thị trường bán lẻ Việt Nam có thể đạt dung lượng 100 tỉ USD vào năm 2016 và kênh bán hàng truyền thống vẫn chiếm ưu thế trên thị trường, chiếm khoảng 78%.



Với cơ cấu dân số trẻ, tỉ lệ người dân đến các trung tâm thương mại ngày càng nhiều khiến Việt Nam là mảnh đất nhiều tiềm năng với ngành bán lẻ. Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với thị trường bán lẻ Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA


Diễn biến thị trường nông, lâm, thủy sản trong tháng



Diễn biến giá

Trong tháng 8/2016, các mặt hàng nông sản chính có giá thu mua trong nước biến động tăng giảm trái chiều.



Hạt điều: Đáng chú ý là giá điều lên cao nhất từ trước đến nay do nhu cầu thu mua phục vụ chế biến tăng trong bối cảnh nguồn cung hạn chế và giá điều nhập khẩu ở mức cao. Theo đó, giá nhân điều tại Bình Phước tính đến ngày 19/8/2016 đạt 45.500 đồng/kg, tăng 4,6% so với cuối tháng 7 và tăng tới 18,2% so với đầu tháng 1/2016.

Lúa gạo: Trong tháng này, giá lúa gạo tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long biến động thất thường. Nguyên nhân là thị trường xuất khẩu gạo trong nước tiếp tục khó khăn do không có nhu cầu nhập khẩu gạo mới từ cả thị trường truyền thống và các thị trường khác.

Indonesia vẫn khẳng định không nhập khẩu gạo trong năm 2016 do lượng gạo tồn kho trong nước vẫn ở mức an toàn. Philippines tuần trước thông báo kế hoạch nhập khẩu 250.000 tấn gạo song đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức. Trung Quốc, nước tiêu thụ gạo Việt Nam nhiều nhất trong thời gian qua, tiếp tục quản lý chặt xuất khẩu gạo qua đường tiểu ngạch.

Bên cạnh đó, nguồn cung hạn chế do bị thiệt hại trong đợt hạn hán và xâm nhập mặn vừa qua. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, diễn biến giá lúa tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như sau: tại An Giang, lúa tươi IR50404 đạt 4.400 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg so với tháng trước. Tại Bạc Liêu, một số loại lúa như OM 5451, OM 4900 tăng 100 đồng/kg. Tương tự, tại Kiên Giang giá lúa tẻ thường tăng 300 đ/kg, đạt 5.700 đ/kg.

Cà phê: Trong tháng, thị trường cà phê trong nước giảm nhẹ so với tháng trước. So với cuối tháng trước, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên giảm 200.000 đồng/kg dao động ở mức 38.100 đồng/kg. Hoạt động mua bán cà phê tại Việt Nam tháng này chậm lại do nguồn cung không còn nhiều.

Ngoài ra, giá cà phê giảm còn do áp lực giảm trên thị trường thế giới khi Indonesia đang trong giai đoạn thu hoạch cà phê.



Hạt tiêu: Tương tự cà phê, giá thu mua hạt tiêu đen trong nước tiếp tục giảm so với tháng trước. Tính trung bình trong tháng, giá thu mua tiêu đen xô tại các tỉnh trồng tiêu trọng điểm gồm Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Đồng Nai lần lượt ở mức 156.700 đồng/kg, 160.000 đồng/kg, 156.500 đồng/kg, 165.500 đồng/kg, giảm khoảng 8.000 đồng/kg so với trung bình tháng trước. Một trong những nguyên nhân khiến giá tiêu giảm trong thời gian qua là do có thông tin trên các thị trường thế giới trong năm tới Việt Nam sẽ có vụ mùa bội thu kỷ lục, dự kiến vào khoảng 180.000 tấn.

Chè: Đối với mặt hàng chè, giá chè nguyên liệu tại Thái Nguyên, Lâm Đồng tiếp tục giữ ổn định so với tháng trước. Giá chè xanh búp khô ở Thái Nguyên hiện ở mức 100.000 đồng/kg, chè cành chất lượng cao 180.000 đồng/kg, chè xanh búp khô (đã sơ chế loại 1) 130.000 đồng/kg. Tại Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giá chè nguyên liệu (búp tươi) sản xuất chè xanh loại 1 ở mức 7.500 đồng/kg, chè nguyên liệu sản xuất chè đen 3.500 đồng/kg.

Rau hoa quả: Trong tháng này, do tác động của thời tiết, nhiều địa phương xuất hiện mưa bão tại một số tỉnh phía Bắc, cộng với dịch bệnh trước đó đã gây thiệt hại lớn cho các loại rau củ, dẫn đến nguồn cung khan hiếm. Do đó một số rau củ tại phía Bắc đã tăng, giá một một số loại cải tăng 2.000 - 3.000 đồng/kg so với đầu tháng 8/2016. Tại Lâm Đồng, các loại rau củ ít bị ảnh hưởng thời tiết hay dịch bệnh.

Nhưng do thương lái khắp nơi đổ về tỉnh Lâm Đồng để thu mua rau củ đưa nơi khác tiêu thụ, khiến mức giá của nhiều loại rau củ tăng so với tháng trước, song mức tăng không nhiều.



Cao su:

Giá cao su có xu hướng giảm trong tháng 8/2016 do nguồn cung cao su trên thị trường thế giới tăng trong khi nhu cầu chưa có nhiều đột biến. Giá cao su SVR 3L giảm 6,5% so với tháng trước, xuống còn 28.800 đ/kg. Giá thu mua mủ cao su dạng nước cũng giảm 4,2%, đạt 7.360 đ/kg.



Thủy, hải sản: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) dự báo nguồn cung tôm nguyên liệu sẽ vẫn thiếu hụt trong nửa cuối năm do ảnh hưởng của xâm nhập mặn.

Trước thông tin trên, giá tôm nguyên liệu tại Cà Mau tăng nhẹ so với tháng trước do nguồn cung yếu. Cụ thể, giá tôm sú cỡ 20 con/kg tăng 3.000 đ/kg, lên mức 281.000 đ/kg; cỡ 30 kg/con tăng 5.000 đ/kg, đạt 215.000 đ/kg; 40 con/kg tăng 4.000 đ/kg, đạt 133.000 đ/kg. Tôm thẻ chân trắng cỡ 70 con/kg giảm 1.000đ/kg, đạt 126.000 đ/kg và cỡ 100 con/kg ổn định ở mức 96.000 đ/kg.



Tại các tỉnh ĐBSCL, thị trường cá tra nguyên liệu trong tuần qua vẫn trong trạng thái trầm lắng với lượng thu mua của các nhà máy tiếp tục ở mức thấp. Tại Cần Thơ, một số nhà máy đã ký hợp đồng bắt cá tra size 700 – 900 g/con phục vụ cho các hợp đồng xuất khẩu cũ, do đó lượng thu mua không nhiều. Giá cá tra nguyên liệu chững ở mức 18.500 – 19.000 đ/kg.

Tham khảo giá nông, thủy sản tại thị trường trong nước (ĐVT: 1.000 đ/kg)

Tên hàng

19/8/2016

So với tháng trước (%)

So với đầu năm 2016 (%)

Lúa IR50404 tại An Giang

4.500

7,1

2,3

Lúa OM 2514 và OM 2717 tại An Giang

4.650

-1,1

-1,1

Lúa tẻ thường tại Kiên Giang

5.700

5,6

1,8

Lúa dài tại Kiên Giang

5.700

0,0

-9,5

Lúa OM 5451 tại Bạc Liêu

6.400

0,0

8,5

Lúa OM 4900 tại Bạc Liêu

6.500

1,6

8,3

Cà phê nhân xô tại Tây Nguyên

38.100

-0,5

5,5

Chè xanh Thái Nguên búp khô

100.000

0,0

0,0

Chè cành Thái Nguên chất lượng cao

180.000

0,0

0,0

Chè xanh Thái Nguyênbúp khô (loại 1)

130.000

0,0

0,0

Chè xanh nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng

7.000

0,0

-12,5

Chè đen nguyên liệu loại 1 tại Lâm Đồng

3.500

0,0

-12,5

Giá nhân điều tại Bình Phước

45.500

4,6

18,2

Tiêu đen Tây Nguyên và Nam Bộ

160.000

-4,8

-7,5

Cao su SVR 3L

28.800

-6,5

-9,7

SVR 10

27.500

4,6

7,4

Mủ cao su dạng nước tại Bình Phước

7.360

-4,2

0,0

Cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL

19.000

0,0

0,0

Tôm sú cỡ 20kg/kg

281.000

1,1

-6,3

Tôm sú cỡ 30kg/kg

215.000

2,4

-8,5

Tôm sú cỡ 40kg/kg

133.000

3,1

-14,2

Tôm thẻ chân trắng (70kg/con)

126.000

-0,8

-10,0

Tôm thẻ chân trắng (100kg/con)

96.000

0,0

-12,7

Cần chú trọng đến tiêu thụ hàng hóa tại thị trường trong nước

Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển hướng sang đầu tư, phát triển mạnh mẽ thị trường nội địa. Mặc dù vậy, doanh nghiệp cần phải xác định chiến lược phát triển lâu dài ở thị trường nội địa chứ không nên đơn thuần coi đây là phương án đối phó trong lúc xuất khẩu gặp khó khăn.



Xu thế "hướng nội", chuyển hướng chiến lược kinh doanh tập trung vào thị trường nội địa, thay cho chủ trương toàn cầu hóa hiện cũng đang xuất hiện ở nhiều nước chẳng hạn như Trung Quốc hay Mỹ. Trong khi đó, mặc dù thị trường nội địa rất giàu tiềm năng nhưng thực tế lâu nay các doanh nghiệp trong nước quá chú trọng tới xuất khẩu mà thiếu quan tâm tới thị trường nội địa.

Theo đánh giá, tiềm năng về tiêu thụ hàng hóa tại thị trường với 90 triệu dân trong nước là rất lớn và doanh nghiệp trong nước cũng có những lợi thế nhất định khi cạnh tranh trên sân nhà: Thứ nhất, hiểu thị trường, hiểu văn hoá tiêu dùng của người Việt Nam hơn nên vẫn có cơ hội để cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài tại sân nhà; thứ hai là người Việt Nam vẫn chủ yếu lựa chọn kênh phân phối truyền thống trong khi các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu là phát triển kênh phân phối hiện đại; thứ 3 là khi bán hàng ở thị trường nội địa thì chi phí doanh nghiệp phải chi trả như vận tải, phân phối tiếp thị… cũng rẻ hơn.

Hiện Việt Nam được đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất trên thế giới; không phải ngẫu nhiên mà các “ông lớn” ngành bán lẻ từ Nhật Bản, Thái Lan, Đức rồi Pháp muốn đi sâu vào thị trường nội địa Việt Nam. Bởi theo phân tích của Công ty Nghiên cứu thị trường Statista (Đức), thị trường bán lẻ Việt Nam có thể đạt dung lượng 100 tỉ USD vào năm 2016. Còn theo khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Việt Nam, kênh bán hàng truyền thống vẫn chiếm ưu thế trên thị trường, chiếm khoảng 78%. Trong năm 2013, 53% người mua hàng chi tiêu nhiều nhất ở chợ và tần suất họ ghé chợ khoảng 21,5 lần mỗi tháng. Tuy nhiên, những cửa hàng tiện lợi lại đang bắt đầu có xu hướng phát triển và có tốc độ mở rộng nhanh.

Với cơ cấu dân số trẻ, tỉ lệ người dân đến các trung tâm thương mại ngày càng nhiều khiến Việt Nam là mảnh đất nhiều tiềm năng với ngành bán lẻ. Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với thị trường bán lẻ Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường tiêu dùng nội địa là rất lớn. Để trụ vững trên sân nhà, các doanh nghiệp nên coi trọng việc chiếm lĩnh thị trường nội địa, xem thị trường nội địa là cơ sở, thị trường nước ngoài là quan trọng trong chiến lược phát triển thị trường một cách bền vững của mình.

Mặc dù ý thức được vai trò quan trọng của thị trường nội địa bên cạnh thị trường xuất khẩu, nhưng để chiếm lĩnh thị trường nội địa trước sự xâm nhập ồ ạt của hàng hóa nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là vấn đề rất khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước. Bởi lẽ, việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mới, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng có chất lượng cao nhưng giá thành hạ và được tổ chức hệ thống phân phối tốt không phải là công việc được giải quyết chỉ trong một vài năm, đặc biệt thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào sản xuất gia công hàng xuất khẩu; hệ thống phân phối hàng hóa còn thô sơ, chủ yếu theo hình thức truyền thống.

Để khai phá thị trường nội địa thì cần nỗ lực của rất nhiều phía. Trong đó, Nhà nước cần có chiến lược quốc gia về thị trường nội địa để ủng hộ hàng Việt Nam, cần có một chính sách chống và một chính sách ủng hộ, đó là chống hàng lậu và ủng hộ hàng Việt bằng chính sách thuế. Nhà nước cũng có thể hỗ trợ truyền thông để quảng bá cho hàng Việt…

Về phía doanh nghiệp, để thành công, doanh nghiệp cần có chiếc lược phân lớp thị trường, xác định cho đúng đối tượng khách hàng mà mình sẽ hướng tới, phù hợp với lợi thế và khả năng của mình. Quan trọng là phải xác định đúng đối tượng khách hàng phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Tầng lớp có thu nhập cao chỉ chiếm khoảng 10% dân số, trong khi đó nhắm vào phân khúc thu nhập trung bình và thấp thì chiếm số đông. Doanh nghiệp cũng có thể thay đổi cơ cấu mặt hàng, sản phẩm cho phù hợp đời sống kinh tế.

Bên cạnh đó, cần có chiến lược đưa hàng về nông thôn - thị trường chiếm tới 70% lượng tiêu thụ hàng hóa nói chung. Trên thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam đã để trống thị trường nông thôn để cho hàng cấp thấp, hàng Trung Quốc tràn ngập. Hệ thống bán hàng của doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa bao phủ kín và hiệu quả ở thị trường nông thôn.

Trong đề án phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động (CVĐ) “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014-2020, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 tăng thị phần hàng Việt tại các kênh phân phối lên hơn 80%. Đây có thể xem là cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) trong nước nâng cao vị thế của mình tại thị trường nội địa.

Đề án được triển khai góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng hàng Việt thông qua việc tập trung nguồn lực đẩy mạnh nhóm các hoạt động phát triển thị trường với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam”, đồng thời lồng ghép vào chương trình hành động của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị hưởng ứng CVĐ để tạo hiệu ứng mạnh trên phạm vi toàn quốc.

Đề án cũng đưa ra 4 nhóm giải pháp cần thực hiện, gồm thay đổi về nhận thức và hành vi của cộng đồng đối với hàng Việt Nam; hỗ trợ phát triển hệ thống phân phối hàng Việt Nam cố định và bền vững; nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong lĩnh vực phân phối hàng Việt; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và bảo vệ người tiêu dùng. Riêng với nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển hệ thống phân phối hàng Việt cố định và bền vững sẽ xây dựng chương trình kết nối quy mô quốc gia, có tính liên kết vùng miền giữa nhà sản xuất, kinh doanh với nhà phân phối, đại lý trong nước để mở rộng độ bao phủ hàng hóa, tăng sự hiện diện của hàng Việt trên thị trường trong nước. Đồng thời, tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng thương mại nhằm tạo điều kiện mở rộng kênh phân phối hàng Việt tại khu vực tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hoạt động bán hàng Việt theo hướng bền vững.

Trong giai đoạn 2014-2020, nhóm giải pháp này sẽ thực hiện 4 chương trình, gồm hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu và cập nhật mạng lưới phân phối hàng Việt Nam trên cả nước; xây dựng mô hình thí điểm về điểm bán hàng Việt Nam với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam”; xây dựng kho phân phối hàng Việt Nam tại địa bàn nông thôn; tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng hàng Việt Nam bền vững. Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất và phân phối cần có sự kết nối chặt chẽ, từ đó hỗ trợ nhau trong việc tiêu thụ sản phẩm, tăng sự hiện diện của hàng Việt trên thị trường “nội”.

Xây dựng thương hiệu cho nông sản xuất khẩu

Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu nông sản, được thị trường nước ngoài đánh giá cao nhưng 90% nông sản xuất khẩu dưới dạng thô nên giá trị thấp.

Một trong những nguyên nhân là do nhiều địa phương và doanh nghiệp chưa thấy rõ được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu sản phẩm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng không mấy mặn mà đầu tư vào nông nghiệp bởi phải đối mặt với nhiều rủi ro như thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường, vốn, tích tụ đất đai đều kém.

Hiện tại, việc xây dựng thương hiệu nông sản của Việt Nam mới dừng ở mức khuyến khích. Nhiều địa phương và doanh nghiệp chưa thực sự thấy rõ vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng cũng như bảo vệ thương hiệu hàng nông sản, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập.

Doanh nghiệp thì hầu như chỉ mạnh ai nấy làm còn nói đến xây dựng thương hiệu ngành, khu vực thì đều khó có sự đồng thuận, hợp tác.

Bên cạnh đó, hàng nông sản của Việt Nam còn chịu nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh khó kiểm soát… Khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, thiếu sự đầu tư cho công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường… cũng là những yếu tố cản trở chiến lược xây dựng thương hiệu nông sản Việt.

Theo đánh giá của Brand Finance - Công ty tư vấn chiến lược và đánh giá thương hiệu hàng đầu có trụ sở tại Anh, hai năm qua, giá trị thương hiệu của Việt Nam giảm tới 19%, so với năm 2014 được định giá là 172 tỷ đô la Mỹ, thì năm 2015 chỉ còn 140 tỷ đô la Mỹ. Việt Nam chỉ xếp hạng trên Campuchia về thương hiệu.

Quy mô sản xuất ngành nông nghiệp Hà Nội vẫn manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm chưa có nhiều thương hiệu trên thị trường, việc liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, khả năng cạnh tranh thấp, vấn đề an toàn thực phẩm còn là nỗi lo của người tiêu dùng…

Đây là những hạn chế, cũng là thách thức đối với nền nông nghiệp Hà Nội trong thời kỳ hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Năm 2015, nhãn chín muộn Hoài Đức dự kiến xuất khẩu sang Mỹ, song do chưa có thương hiệu và không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu nên vẫn chưa xuất khẩu được. Việc xây dựng thương hiệu nông sản chưa được người nông dân chú ý mà chỉ mới quan tâm tới sản xuất.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để nâng cao giá trị xuất khẩu nông sản trong xu thế hội nhập và ký kết nhiều Hiệp định tự do thương mại như hiện nay, cần phải quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu, nhất là thương hiệu các mặt hàng nông sản.

Trước mắt, cần lựa chọn một số mặt hàng có thế mạnh để xây dựng thương hiệu, đảm bảo các mặt hàng này phải đáp ứng được các yếu tố chính như khối lượng đủ lớn và ổn định, chất lượng đồng đều, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giá bán cạnh tranh.

Thương hiệu quốc gia gắn với chỉ dẫn địa lý: Để nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản tại thị trường trong nước và xuất khẩu, các doanh nghiệp phải thực hiện đồng bộ các khâu từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, đặc biệt là kiểm soát nguồn gốc xuất xứ.

Đồng thời, xây dựng được hình ảnh thương hiệu thông qua việc quảng bá nông sản, phát triển hệ thống phân phối ở các cửa hàng để giới thiệu sản phẩm tới tay người tiêu dùng. Các doanh nghiệp cần liên kết lại với nhau để đầu tư khoa học - công nghệ từng bước hạn chế xuất khẩu thô, chuyển dần sang chế biến tinh nhằm nâng cao giá trị sản phẩm…

Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp trong đăng ký bảo hộ, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm nông sản để nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sức cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước.

Đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để mua sắm máy móc, trang thiết bị đầu tư khoa học nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Với nhóm hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu thì hầu hết đều xuất khẩu thông qua một số nhà nhập khẩu của nước ngoài hoặc một số đầu mối.

Trên thị trường nước ngoài, người ta chỉ biết đến đó là sản phẩm của Việt Nam, người ta không biết đến sản phẩm đó do doanh nghiệp nào cung ứng ra thị trường gây ra không ít bất lợi.

Vì thế, việc xây dựng thương hiệu cho nông sản của Việt Nam rất cần phải có một đầu mối chung, đó chính là khai thác được thế mạnh của thương hiệu quốc gia gắn với các chỉ dẫn địa lý. Đây là một trong những định hướng mà rất nhiều quốc gia lớn trên thế giới đã làm.

Trong thời gian tới, trong khuôn khổ của chương trình thương hiệu quốc gia, Bộ Công Thương có dành sự hỗ trợ rất cụ thể cho các doanh nghiệp riêng trong lĩnh vực nông thủy sản để hỗ trợ cho quá trình tiếp cận thị trường; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của chính các sản phẩm đó.

Bộ cũng phối hợp với các cơ quan nghiên cứu để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông sản, đăng ký bảo hộ, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm nông sản. Riêng với nông sản, việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý có giá trị hết sức to lớn.

Đây là một đặc thù giúp cho các sản phẩm của Việt Nam khẳng định được thương hiệu của mình, được ghi nhận, được nhận biết và khẳng định được mình tại thị trường trong nước và thế giới.

Tìm hướng xuất khẩu cho hoa quả Việt Nam: Nhìn từ thành công của vải thiều:

Năm 2016, vải thiều đã đạt được từ doanh thu và các hoạt động phụ trợ đạt khoảng 5 nghìn tỷ đồng, lớn nhất từ trước đến nay. Nhìn từ thành công của vải thiều, cần có hướng đi đúng cho trái cây Việt Nam chinh phục thị trường thế giới.

Vải thiều là cây ăn quả được trồng phổ biến ở vùng đất đồi trung du miền Bắc nước ta. Trong những năm gần đây, diện tích trồng vải thiều đã không ngừng gia tăng, trong đó Bắc Giang được biết đến là một tỉnh có diện tích Vải thiều lớn nhất toàn quốc. Với tổng diện tích khoảng 30.000 ha, năng suất mỗi năm đạt từ 130-200.000 tấn, tập trung chủ yếu ở huyện Lục Ngạn - nơi được coi là kinh đô của cây vải thiều.



Năm 2016, sản lượng vải thiều toàn Tỉnh đạt hơn 142.000 tấn quả tươi, doanh thu từ vải thiều và các hoạt động phụ trợ đạt khoảng 5 nghìn tỷ đồng. Với giá vải bình quân tiêu thụ nội địa đạt 21 nghìn đồng/kg và giá xuất khẩu trung bình 28 nghìn đồng/kg, người trồng vải thiều ở Bắc Giang có lãi, doanh thu lớn.

Ngoài các thị trường truyền thống, như: Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN, quả vải thiều tươi đã tiếp tục được xuất khẩu vào các thị trường khó tính nhất,như: Mỹ, Nhật, Australia… với con số ấn tượng là hơn 5.000 tấn.

Kết quả trên cho thấy quả vải đã bước đầu thành công trong xuất khẩu vào các thị trường này, đồng thời khẳng định thương hiệu và chất lượng quả vải Việt Nam. Để có được một vụ thu hoạch vải thiều thành công, Bắc Giang đã có những chiến lược tiếp thị mạnh mẽ quả vải thiều đến với người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, Tỉnh đã hỗ trợ nông dân sản xuất vải thiều theo các tiêu chuẩn VietGap, GlobalGAP nhằm nâng cao chất lượng quả vải. Năm 2016, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã được Mỹ cấp 15 mã vùng trồng vải cho hơn 200 hộ dân, với 158 ha theo tiêu chuẩn Globalgap, sản lượng khoảng 1.000 tấn, đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu sang các thị trường khó tính, vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGap khoảng 12.560 ha.

Hơn nữa, năm nay, vải thiều xuất khẩu của Lục Ngạn (Bắc Giang), không còn phải “lội ngược” vào miền Nam chờ chiếu xạ khi trung tâm chiếu xạ tại Hà Nội đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào sử dụng. Nhờ vậy, các doanh nghiệp tiết kiệm được khoảng 16 triệu đồng một tấn. Cùng với đó, Bắc Giang cũng đưa vào sử dụng công nghệ xử lý, bảo quản quả tươi của Israel, đảm bảo quả vải xuất ngoại giữ được độ tươi ngon trong vòng 4-6 tuần.

Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu rau quả, giải pháp quan trọng là cần tổ chức lại sản xuất theo hướng áp dụng công nghệ cao, quy mô lớn, đảm bảo an toàn thực phẩm.





Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương