Thế thứ XV thế 2 : Ông Bùi văn Bảng Phái I thế 13 : Ông Bùi văn Kiết Chi Thế 14 : Ông Bùi Thân Ông BÙi xưỚC



tải về 333.66 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu31.10.2017
Kích333.66 Kb.
  1   2   3   4

THẾ THỨ XV
Thế 12 : Ông Bùi văn Bảng Phái I

Thế 13 : Ông Bùi văn Kiết Chi 1

Thế 14 : Ông Bùi Thân

Ông BÙI XƯỚC


Tục danh : Ông Cửu Đồng. Húy: Văn Sáng

Con Ông Bùi Thân và Bà Phạm thị Thuận

Sanh : 29-01- Giáp Ngọ (1894) tại Vĩnh Trinh

Cửu phẩm văn giai

Tạ thế : 25-05-Đ. Mão (1987). Thọ: 94 tuổi

Mộ táng : Nghĩa trang T.V.A.H Gò Dưa, Thủ Đức


Chánh thất:

Bà TRẦN THỊ QUÍT
Sanh : năm K. Hợi (1899) ở Quảng Hóa, Đại Lộc

Con Ông Bà Trần Thạc (Ô. Bá Thạc) ở Quảng Hóa

Tạ thế : 06-07-Đ. Mão (1927). Thọ: 29 tuổi

Cải táng : xứ Cây Cốc, Cổ Tháp


Kế thất I:

Bà LÊ THỊ CƠ
Sanh : năm K. Dậu (1909) ở Nông Sơn, Điện Bàn

Con Ông Bà Tú Ba ở Nông Sơn

Tạ thế : 27-09-K. Mão (1939). Thọ: 31 tuổi

Mộ táng : Vườn chùa Vạn Phước, Huế.

Trùng tu ngày 07.09.91

Kế thất II:

Bà ĐỖ THỊ ĐIỆN
Sanh : năm T. Sửu (1901) ở Ô Gia, Đại Lộc

Tạ thế : 02-02-G. Thìn (1964). Thọ: 64 tuổi

Mộ táng : Ô Gia

Kế thất III:

Bà ĐINH THỊ HIẾU
Quê : Hạ Nông, Điện Bàn
Sanh hạ:

Đích phòng:


- Ô. Bùi Thế Kinh Đ. Tỵ (1917) B. Bùi Thị Chi T. Dậu (1921)

- Ô. Bùi qg Hoành K. Mùi (1919) B. Bùi Thị Dương N. Tuất (1922)

- Ô. Bùi Văn Liêu G. Tý (1924) B. Bùi T. Á. Tuyết Ấ. Sửu (1925)

- Ô. Bùi Văn Nhơn Đ. Mão (1927)


Ấu vong: B. Đồng

Kế phòng I:


- Ô. Bùi Văn Giai C. Ngọ (1930) B. Bùi T.Á. Hoa K. Tỵ (1929)

- Ô. Bùi Minh Châu T. Mùi (1931) B. Bùi T.Tố Như Q. Dậu (1933)

- Ô. Bùi Ngọc Toại G. Tuất (1934) B. Bùi T. Tố Anh M. Dần (1938)
Kế phòng II và III: Vô tự

TIỂU SỬ

Ông BÙI XƯỚC

(1894 - 1987)

----------O0O---------
Ông BÙI XƯỚC, tục danh Ông CỬU ĐỒNG, sinh ngày 29-01-G. Ngọ (1894) tại Vĩnh Trinh là con của Ngài Thị giảng Bùi Thân và Bà Kế thất Nghi nhân Phạm thị Thuận.

Ông có bốn đời vợ, sinh hạ được 7 trai, 3 gái và cho đến khi Ông qua đời, số cháu nội và cháu ngoại đã có 61 người.


Ông lập gia đình năm 18 tuổi. Trong cuộc đời, Ông đã xây dựng 3 dinh cơ ở Cù Bàn, An Lâm và Vĩnh Trinh.

Năm 1973, khi Bà Hiếu (vợ thứ 4) qua đời, Ông về ở với trưởng nam, Ông Bùi Thế Kinh, tại Đà Nẵng.

Tháng 2-1975, Ông vào Sài Gòn ở với thứ nam, Ông Bùi Văn Giai.

Tháng 2-1976, trưởng nữ, Bà Bùi Thị Chi, đón Ông về để lo phụng dưỡng trong suốt 11 năm trường.


Ông mất ngày 25-05-Đ. Mão (1987), hưởng thọ 94 tuổi. Ông là người già nhất của gia tộc qua đời trong tình thương của cháu con, họ hàng.
Ông đã để lại trong lòng bà con, họ hàng những điều ghi nhớ như sau:


  • Bản tính của Ông là ôn hòa, khiêm tốn và hiếu khách.

  • Sở thích của Ông là ưa thích sưu tầm các thi phú, điếu văn, liễn đối của gia tộc hay Tiền nhân để lại. Say mê lập vườn, kiến trúc, chạm trổ hoa mỹ.

  • Hấp thụ Nho giáo, vâng lời và noi gương cha mẹ, suốt đời Ông đã sống giản dị, cần mẫn, quý trọng điều nhân nghĩa.

  • Sùng kính các nơi thờ tự Trời, Phật, Thần linh và rất tin khoa học Địa lý.

  • Đối với Tổ tiên, cha mẹ, luôn luôn chu toàn hiếu thảo.

  • Đối với anh em, luôn luôn trên kính dưới nhường.

  • Đối với vợ con, nặng nghĩa tào khang, bao dung, rộng lượng.

  • Đối với Tộc họ, xóm làng, ra công góp sức.

  • Đối với mọi người, khoan hòa, nhân hậu.

  • Thời trai trẻ, Ông đã cùng với xóm làng lo tu bổ đường sá, thực hiện công ích, làm lại ngôi đình làng Cù Bàn, tu bổ đình Lục thôn, giúp em gái là Bà Bùi Thị Chẩm xây dựng ngôi nhà, làm nhà thờ họ Phạm ở Chiêm Sơn (bên Ngoại), lo giỗ kỵ hằng năm tại nhà thờ họ Phạm ở Cù Bàn.

  • Mời thầy Địa lý về tận quê nhà phúc lại phần mộ Tổ tiên và lo tìm sanh phần cho Thân mẫu.

  • Ông đã trùng tu chùa Bà Giám (Thọ Sơn), in kinh, cúng dường chùa chiền mọi nơi. Sau khi Bà kế thất Lê thị Cơ qua đời, an táng và trí tự tại chùa Vạn Phước, Ông đã cúng dường đất đai và tượng phật tại chùa để tạ ơn.

  • Cung thỉnh các sư tăng chùa Vạn Phước (Huế) vào quê cùng với sư tăng địa phương lo ma chay cho Thân mẫu trong vòng 1 tháng.

  • Cùng em là Ông Bùi Quán lo xây đắp mộ Mẹ.

Ông qua đời êm đềm như nằm ngủ. Tang lễ của Ông đã được các cháu ruột: Ô. Bùi Tấn, Ô. Bùi Hoàn, Ô. Bùi Văn Anh, Ô. Bùi Văn Luân, Ô. Hội Năm cùng con, rể trong gia đình tổ chức nghiêm trang, theo nghi lễ Phật giáo. Mộ táng tại Gò Dưa (Nghĩa trang Trung Việt ái hữu) kế cận với nhiều mộ phần anh em, con cháu và bà còn thân thiết trong Tộc họ.


Để tưởng niệm, cháu ruột là Ông Bùi Tấn có viết chữ cùng câu đối để thờ và khắc vào bia mộ. (Xin xem phần Phụ luc).
94 năm, một cuộc đời, con viết tiểu sử của Thân phụ, e còn nhiều điều chưa nói hết. Kính dâng hương linh Người. Nếu có sai phạm, xin Người thứ miễn.
25-05-K. Tỵ (1989) Thứ nam

Bùi minh Châu



THẾ THỨ XV
Thế 12 : Ông Bùi văn Bảng Phái I

Thế 13 : Ông Bùi văn Kiết Chi 1

Thế 14 : Ông Bùi Thân

BÙI THỊ PHÁP


Tục danh : Bà Cửu Tung.

Con Ông Bùi Thân và Bà Phạm thị Thuận

Sanh : năm Â. Mùi (1895) tại Vĩnh Trinh

Tạ thế : 21-01-K. Mùi (1979). Thọ: 85 tuổi

Mộ táng : Nghĩa trang T.V.A.H, Gò Dưa, Thủ Đức
Hôn phối:

Ông PHAN THÁM
Sanh : năm B. Thân (1896) ở Cổ Tháp

Con Ông Bà Tú tài Phan Tuyên quê Bàn Lãnh, trú Cổ Tháp

Cửu phẩm

Tạ thế : 05-01-K. Dậu (1969). Thọ: 74 tuổi

Mộ táng : Gò Bạc Hà, Tân Phong

Sanh hạ:
- Ô. Phan Biển B. Thìn (1916) B. Phan Thị Tung Q. Sửu (1913)

- Ô. Phan Võ K. Mùi (1919) B. Phan Thị Tâm M. Thìn (1928)

- Ô. Phan Ngô C. Thân (1920) B. Phan T. Nga My C. Ngọ (1930)

- Ô. Phan Khôi Q. Hợi (1923)

- Ô. Phan Lai Ấ. Sửu (1925) Ấu Vong: B. Hoành, B. Chữ

- Ô. Phan Ngọc Cẩn T. Mùi (1931)

- Ô. Phan Ngoạn B. Tý (1936)

TIỂU SỬ

Bà BÙI THỊ PHÁP

(1895 - 1979)

----------O0O---------
BÙI THỊ PHÁP, tục danh Bà CỬU TUNG, Pháp danh Diệu Phước, sanh năm Ấ. Mùi (1895) là thứ nữ của Ngài Thị giảng Bùi Thân và Bà Kế thất Nghi nhân Phạm Thị Thuận.

Năm lên 17 tuổi, Bà kết duyên cùng Ô. PHAN THÁM, trưởng nam của Ngài Tú tài Phan Tuyên ở Cổ Tháp.

Ngài Bùi Thân và Ngài Phan Tuyên vốn là bạn học, rồi trở thành bạn thân – bạn việc đời, bạn việc nước – cuối cùng ưng ý làm sui với nhau.
Bà cần mẫn, ôn hòa, thông minh. Làm dâu vào một gia đình Nho học, với sự hướng dẫn tận tình của nhà chồng, Bà đã trở thành người dâu hiền, người vợ đảm, nuôi con giỏi, dạy con ngoan. Bà quán xuyến mọi việc trong gia đình từ việc nông tang, bán buôn, giao tế, đến việc nội trợ, tề gia

Bà đã góp công lớn trong việc làm giàu, tạo thêm ruộng đất. Bà có biệt tài về quản lý, kinh doanh; Ông có nhiều kinh nghiệm trong ngành xây cất. Hai Ông Bà đã hợp lực kiến thiết một dinh cơ khá qui mô tráng lệ.


Nhà thờ Phái và một số lớn phần mộ của Tiền nhân đều được Bà và một số anh em trong Phái lo thực hiện và hoàn thành chu đáo.

Về việc công ích, Ông Bà đã tham gia tích cực vào việc kiến thiết đình làng Cổ Tháp, rước thầy về dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ – để nâng cao dân trí trong làng -, sửa chữa và mở mang đường sá, đào giếng nước trong xóm, rước thầy thuốc về làng, mở tiệm thuốc bắc vừa chẩn trị vừa bán thuốc giúp dân.


Cuộc sống hằng ngày của hai Ông Bà thật là hạnh phúc:

Trong gia thất hết lòng hòa hiệp;



Chốn khuê môn giữ đạo xướng tùy”

Bà ưa thích và khích lệ các cuộc sinh hoạt văn hóa cổ truyền như: hát bộ, hát hò giao duyên lúc giã gạo, giã vôi làm nhà, sắc bùa vào dịp đầu xuân, xem xiếc hoặc xem đấu võ …

Ông Bà đã sinh hạ được 12 người con: 7 trai, 3 gái và 2 ấu vong. Ông mất trước Bà 10 năm. Lúc vãn niên (1975-1979) Bà không được vui bằng những năm trước. Bệnh già khiến Bà ngày một yếu đi ! Những năm cuối cùng, Bà về sống với người con trưởng tại Sài Gòn và tại đây, ngày 21 –01-K. Mùi (1979) vào giờ Ngọ, Bà đã nhẹ nhàng vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại nghĩa trang T.V.A.H Gò Dưa, Thủ Đức.
Cuộc đời Bà là một tấm gương sáng cho con cháu.
Xin xem bài Nhớ Mẹ thương thân, nỗi lòng của người thứ nam – Ô. Phan Ngô – nhớ Bà trong phần Phụ lục.

THẾ THỨ XV
Thế 12 : Ông Bùi văn Bảng Phái I

Thế 13 : Ông Bùi văn Kiết Chi 1

Thế 14 : Ông Bùi Thân

Ông BÙI QUÁN


Tục danh : Ông Chánh Bảy, Húy: Văn Định

Tự: Hy Dương, Pháp danh: Nguyên Chiếu

Con Ông Bùi Thân và Bà Phạm thị Thuận

Sanh : năm Đ. Dậu (1897) tại Vĩnh Trinh

Chánh Tổng, Chánh Cửu phẩm Văn giai

Tạ thế : 09-03-N. Tuất (1982). Thọ: 86 tuổi

Mộ táng : Nghĩa trang T.V.A.H, Gò Dưa, Thủ Đức
Chánh thất:

Bà NGUYỄN THỊ NGỌC THẨM
Sanh : năm Q. Mão (1903) ở Long Xuyên

Con Ông Nguyễn Khải, Tham tri ở Long Xuyên

Hiệu : Vấn Chi

Tạ thế : 22-01-N. Thân (1932). Thọ: 30 tuổi

Mộ táng : Xứ Đồng Ngạch, Vĩnh Trinh
Kế thất:

Bà NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
Em ruột Bà Chánh thất.

Sanh : 22-03-C. Tuất (1910) ở Long Xuyên

Con Ông Nguyễn Khải, Tham tri ở Long Xuyên

P/ Danh : Nguyên Hạnh

Tạ thế : 14-09-N. Tuất (1982). Thọ: 73 tuổi

Mộ táng : Nghĩa trang Gò Dưa (bên cạnh mộ Ông)


Sanh hạ:
Đích phòng:
- Ô. Bùi Tấn C. Thân (1920) B. Bùi T. Đào Hồng Q. Hợi (1923)

- Ô. Bùi Luân T. Mùi (1931) B. Bùi T. Liễu Tư Â. Sửu (1925)

B. Bùi T. Kim Tuyến M. Thìn (1928)

Ấu vong: Ô. Duyên (1)



Kế phòng:
- Ô. Bùi Hoàn Â. Hợi (1935)

- Ô. Bùi Văn Nam Sơn B. Tuất (1946)


Ghi chú:
(1) : Sanh Đinh Mão (1927), mất: 20.06. cùng năm, táng tại Chà Rang, Vĩnh Trinh (trong vườn Ông Bà Đào Gia). Bia dựng 1927, trùng tu 1989.
TIỂU SỬ

Ông BÙI QUÁN

(1897 - 1982)

----------O0O---------
Ông BÙI QUÁN, tục danh Ông CHÁNH BẢY, là thứ nam của Ngài Thị giảng Bùi Thân và Bà Kế thất Nghi nhân Phạm thị Thuận.

Thuở nhỏ Ông theo học Hán văn với Ngài Tú tài Phan Tuyên ở Cổ Tháp và sau lại học Quốc ngữ tại trường Diên Phong do Ông anh rể là nhà Ái quốc Phan thành Tài sáng lập ở Bảo An, Điện Bàn.

Ông người tầm vóc trung bình, thông minh, hoạt bát, có cả ân, uy, nên kẻ trên người dưới đều mến nể.

Năm 19 tuổi, Ông được phụ thân ủy thác lên ở trên Phú Hanh để quản lý số ruộng đất của Ngài. Tuy còn thanh niên nhưng Ông đã ý thức được nhiệm vụ, biết cách tổ chức và giao thiệp, sớm tỏ ra là người có bản lãnh.


Năm 21 tuổi, Ông kết duyên cùng Bà NGUYỄN THỊ NGỌC THẨM ái nữ của Ngài Song Bảng, Tham tri Nguyễn Khải và Bà Như phu nhân Nguyễn thị Tuyết ở Long Xuyên. Nhờ có tài sản do Song thân trích hứa và với chí tiến thủ, chỉ trong khoảng 5 năm Ông Bà đã xây dựng được một gia trang đồ sộ tại xứ Bàu cùng ngay trong chánh xã.

Năm 1931, Ông đắc cữ Chánh tổng và chẳng bao lâu Ông được thưởng thọ Chánh Cửu phẩm văn giai.

Ông Bà sanh hạ được 2 trai, 3 gái và một ấu vong.
Chẳng may hiền thê Ông mất sớm (giờ Mùi ngày 22-01-N. Thân, 1932). Ông tục huyền (15-07-G. Tuất, 1934) với Bà NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG, hiền muội của Bà Chánh thất và sanh hạ được hai trai. Bà kế thất đã giúp Ông đắc lực trong việc nuôi dạy con và phát triển thêm cơ nghiệp.
Sau khi xin thôi công vụ, Ông được cử làm Trưởng ban Trị sự (1937-1945) đập Vĩnh Trinh). Ông đã cùng bào huynh là Ô. Bùi Xước trông coi xây đắp hai ngôi mộ của Song thân một cách quy mô. Năm G. Thân (1944) Ông được bà con ủy nhiệm lo việc tạo lập bi ký cho một số phần mộ của Tiền nhân.
Bình sanh, Ông rất quan tâm đến việc giáo huấn con cái. Suốt thời gian 20 năm liền (1926-1945) Ông đã liên tục mời các bậc lão Nho (1) và các vị Tân học (2) về ngồi dạy học ở trong nhà. Nhờ thế các con lớn lên đều chăm lo đèn sách và cũng nhân đấy, đa số con em trong thôn xóm lại may mắn có nơi trau dồi đạo đức và văn hóa.
Mùa đông năm B. Tuất, 1946, khi ngọn lửa chiến tranh bùng cháy, Ông Bà đã cùng gia đình tản cư lên Phú Gia, Bình Yên … Nhưng vì không chịu được khí hậu nơi sơn lâm và cũng để tránh bom đạn, đầu năm sau, Ông cùng gia đình tản cư ra Huế. Nhờ vậy, việc học hành của các con nhỏ không bị gián đoạn và 1 thứ nam đã được đi du học ở Pháp.

Năm 1954, Ông Bà hồi cư về Hội An, mua được một gian nhà ở đường Phan Chu Trinh. Nơi đây Ông Bà ở gần với hai gia đình của vị bào đệ và của người quí nữ, nên cũng vui. Trong thời kỳ này, Ông hay về quê thăm viếng bà con, bạn hữu.

Năm 1968, Ông Bà dời vào Sài Gòn, không ngoài mục đích là để cho người quý nam có cơ hội hoàn tất bậc Đại học và xin đi du học. Năm 1971 Ông Bà đã mua được ngôi nhà ở đường Vân Côi, Tân Bình để tịnh dưỡng trong lúc tuổi già (3) với sự thần hôn trực tiếp của vợ chồng 1 người con thứ.

Ông được bà con cử giữ chức Hội trưởng Bùi gia Vĩnh thế.


Suốt trong thời gian xa nơi nguyên quán, Ông thường tiêu khiển thì giờ bằng cách đọc sách, xem báo, chuyện vãn với các vị hưu quan, kỳ lão ở quanh nhà. Ông ít quan tâm đến vấn đề kinh tế gia đình vốn đã được Bà Kế thất đảm đang, phụ trách.

Sau khi được Thầy Tân Qui khuyến khích, lúc vãn niên, Ông đã hướng về đạo Giải thoát và đã xin quy y với Thượng tọa Thích Nhật Lệ, Trú trì chùa Hải Quang. Hằng ngày Ông trì niệm Lục tự Di Đà một cách chuân thành.

Ông mất rất nhẹ nhàng vào giờ Thìn ngày 09-03-N. Tuất (02-04-1982) hưởng thọ 86 tuổi, an táng tại nghĩa trang T.V.A.H ở Gò Dưa (Lô 4, Hàng 17, Số 18). Sau đó khoảng nửa năm, vào giờ Dậu ngày 14-09-N. Tuất (30-10-1982) Bà quy tiên, hưởng thọ 73 tuổi, táng ngay bên hữu mộ Ông.
Trải qua những cuộc bể dâu, nhà cửa, sản nghiệp do Ông Bà dày công gầy dựng đều bị chiến tranh tàn phá. Nhưng Ông Bà đã để lại cho con cháu 1 gương sáng về cách tề gia, xử thế.
Ghi chú:
(1) : Ông Hương Chước ở An Lâm, Ô. Cửu phẩm Giáo sư Trần Thượng Tiết ở Long Xuyên, Ông Tú tài Phạm Tấn ở Thanh Chương, Nghệ An.

(2) : Ông Ngô Lộc ở Bảo An, Ông Nguyễn Toản ở An Phước, Ông Trần thượng Duân ở Long Xuyên.

(3) : Nơi đây, nhân trong sân có cội tùng và một cụm trúc – trúc vi quân tử, tùng thị trượng phu – và cũng nhân Tộc có tặng tấm hoành trong đề bốn chữ: “Lan ngọc tân đình”, Ông đã khẩu chiếm câu đối như sau:
QUẢNG ĐỊA ĐỐC PHƯƠNG CHI, LAN NGỌC TÂN ĐÌNH,
XUÂN LỘ THU SƯƠNG, TRINH DŨNG KHÍ;
NAM THIÊN CHUNG TÚ VẬN, HÀNH SƠN CỐ QUẬN,
TÂM KHÔNG TIẾT TRỰC, VĨNH CAO PHONG.
THẾ THỨ XV
Thế 12 : Ông Bùi văn Bảng Phái I

Thế 13 : Ông Bùi văn Kiết Chi 1

Thế 14 : Ông Bùi Thân

Ông BÙI THUẦN


Tục danh : Ông Cửu Lương, Húy: Văn Chế, Tự: Tích Hy

Con Ông Bùi Thân và Bà Phạm thị Thuận

Sanh : năm K. Hợi (1899) tại Vĩnh Trinh

Cửu phẩm Văn giai

Tạ thế : 29-06-M. Ngọ (1978). Thọ: 80 tuổi

Mộ táng : Hỏa táng 01-07-M. Ngọ (1978)


Chánh thất:

Bà NGUYỄN THỊ NHUẾ
Sanh : năm C. Tý (1900) tại La Kham, Điện Bàn

Con Ông Bà Cử nhân Nguyễn Đình Nhu ở La Kham

Hiệu : Thiếu Cơ

Tạ thế : 28-01-G. Tuất (1934). Thọ: 35 tuổi

Mộ táng : Cà Dinh, Phú Nhuận
Kế thất:

Bà PHẠM THỊ PHONG
Sanh : năm G. Dần (1914) ở Thanh Chiêm, Điện Bàn

Con Ông Bà Đề Lại Phạm Mẫn ở Thanh Chiêm

P/ Danh : Quảng Thông

Tạ thế : 05-07-Â. Sửu (1985). Thọ: 72 tuổi

Mộ táng : Hỏa táng 09-07-Â. Sửu (24-08-85)
Sanh hạ:
Đích phòng:
- Ô. Bùi Văn Anh G. Tý (1924) B. Bùi T. Lan K. Mùi (1919)

- Ô. Bùi Văn An (4) B. Dần (1926) B. Bùi T. Tài G. Tý (1924)

- Ô. Bùi Văn Luân T. Mùi (1931) B. Bùi T. Giáng K. Tỵ (1929)

Ấu vong: B. Tỵ (1), Ô. Luy (2), B. Đào (3)



Kế phòng:
- Ô. Bùi Văn Phúc K. Mão (1939) B. Bùi T. Duyên M. Dần (1938)

- Ô. Bùi Vĩnh Tuyên M. Tý (1948) B. Bùi T. Ân C. Thìn (1940)

B. Bùi T. Ái T. Tỵ (1941)

Ghi chú:
(1) : Mất 21-09-T. Dậu (1921) táng Gò Sim, PN.

(2) : Mất 23-02-Q.Hợi (1923) táng Ngõ Ô. Võ Tư

(3) : Mất 02-08-Q. Dậu (1933) –nt-

(4) : Mất 04-06-Q.Tỵ (1953) Liệt sĩ, táng Gò Sỏi, VT
TIỂU SỬ

Ông BÙI THUẦN

(1899 - 1978)

----------O0O---------
Ông BÙI THUẦN, huý Văn Chế, tục danh: Ông CỬU LƯƠNG, tự: Tích Hy, sanh năm K. Hợi (1899) tại Vĩnh Trinh là thứ nam của Ngài Thị giảng Bùi thân và Bà Kế thất Nghi nhân Phạm Thị Thuận.

Vóc người nho nhã, nhân cách ôn hòa, thiên tư chánh trực. Lối sống bình dị, cần mẫn và linh động.

Năm M. Ngọ (1918) Ông kết hôn cùng Bà NGUYỄN THỊ NHUẾ hiệu Thiếu cơ, trưởng nữ của Ngài Cử nhân Nguyễn Đình Nhu, quê ở La Kham, Điện Bàn.

Cùng thời gian ấy Ông lên lập nghiệp tại làng Phú Nhuận để vừa quản trị vừa khuếch trương những cơ sở do Ngài Bùi Thân đã tạo được.


Tuy tuổi đời còn trẻ, nhưng Ông có chí kinh doanh lớn. Ông đã thực hiện nhiều điều cải tiến:

  • Ông cho đắp đập, dựng xe, dẫn thủy nhập điền để chuyển đất gieo thành ruộng cấy.

  • Vùng dễ ngập lụt, Ông cho trồng dâu, trồng mía hoặc đậu, khoai thu hoạch ngắn ngày. Nhờ vậy hoa lợi hằng năm thu về đáng kể.

Bà thường giúp vốn cho nông dân mua trâu bò về nuôi, để vừa có phương tiện cày bừa, vừa có thêm phân bón.

Ông Bà đã tích cực trong việc làm ăn, nên chẳng bao lâu, đã gầy dựng được 1 dinh cơ khá đồ sộ.


Mặc dù bận lo khuếch trương sự nghiệp, Ông Bà vẫn không quên các công tác xã hội như:

  • Tu sửa cầu cống, đường sá, giếng nước uống dùng chung cho cả xóm.

  • Cùng làng xây cất trường học, để có nơi con trẻ học hành.

  • Đóng góp trùng tu miếu vũ, đình chùa để có nơi thờ phụng Thần linh, bảo tồn di tích.

  • Trợ giúp đồng bào những khi thiên tai, thủy lạo …

Một nghịch cảnh bất ngờ đã đến với Ông ! Bà đã lâm trọng bịnh, và từ trần tại phố Hội An ngày 28-01-G. Tuất (1934). Ông Bà đã sinh hạ được 9 người con (3 trai, 3 gái và 3 ấu vong). Trước cảnh nhà quá đơn chiếc, con dại một đàn, Ông đành phải tục huyền cùng Bà PHẠM THỊ PHONG, ái nữ của Ngài Đề Lại Phạm Mẫn, quê ở Thanh Chiêm vào cuối năm Giáp Tuất. Bà người ôn hòa, cần mẫn, đã tỏ ra rất khéo léo trong việc đối xử với gia đình, thôn xóm và đã giúp đỡ Ông nhiều trong vấn đề phát triển cơ ngơi.

Năm 1940 đời sống nông thôn gặp lúc khó khăn, nông sản ế ẩm ! Ông cùng một số anh em đầu tư vào ngành dệt, sản xuất hàng tơ tầm bán vào Sài Gòn, Nam Vang rất chạy. Tiếc thay, thời hưng thịnh chỉ kéo dài đến mùa thu 1945, vì cuộc thế đổi thay đành phải ngưng hoạt động.

Năm 1947 khi chiến tranh lan tràn khắp nước, gia đình Ông đều tản cư lên Dùi Chiêng, 1 vùng núi non hiểm trở, thuộc quận Quế Sơn để lánh giặc. Mãi đến năm 1951 gia đình mới hồi cư và tiếp tục lại nếp sống nông tang cũ.

Từ năm 1952-1954, bao trăn trở và ray rức dồn dập đến với đời Ông. Điều đáng kính phục nhất là mọi sự việc dẫu khó khăn đến đâu, Ông vẫn luôn luôn bình tĩnh, chủ động trong mọi tình huống.

Năm 1952 chiến tranh đã cướp đi một thứ nam của Ông !

Năm 1953 nhà cửa của Ông đều bị phá hủy hoàn toàn.

Năm 1959 Ông bà rời quê, xuống Hội An mua nhà để ở. Mãi đến năm 1968 Ông Bà dứt khoát rời bỏ ruộng vườn vào Sài Gòn sống cùng con cháu. Đến năm 1970 Ông chọn được một nơi vừa ý, tự trông nom xây cất 1 căn nhà ở ngoại ô Sài Gòn thuộc quận Tân Bình, để tìm lại những năm tháng nghỉ ngơi của tuổi già.


Sức khỏe Ông những năm sau nầy có phần yếu đi, song việc Tộc, việc Phái không lúc nào thiếu tiếng nói của Ông.

Ông rất quan tâm đến việc làm Phổ hệ của Tộc. Ông thường nói với các con cháu: “Muốn bảo vệ cái truyền thống quý báu của Tổ tiên, thắt chặt thêm tình đoàn kết, yêu thương lẫn nhau, các chú hãy cố gắng thực hiện cho bằng được quyển Phổ hệ Tộc mình”.

Rồi từ đấy suốt mấy năm liền, với sự góp sức tích cực trên nhiều mặt của 1 số đông con cháu, quyển Phổ hệ của Tộc đã hoàn thành.

Vào đầu năm Â. Mão (1975) Ông vô cùng vui sướng khi đón nhận quyển Phổ hệ đầu tiên do người cháu là Ông Bùi Thường đem đến kính biếu Ông.

Năm M. Ngọ (1978) ngày 29-06, trước giờ phút lâm chung, Ông vẫn còn nói năng minh mẫn. Vào cuối giờ Tỵ (11 giờ) Ông đã nhẹ nhàng vĩnh viễn ra đi ! hưởng thọ 80 tuổi.

Sau Ông 7 năm, Bà Kế thất PHẠM THỊ PHONG P/danh Quảng thông đã qua đời vào ngày 05-07-Â. Sửu (1985) thọ 72 tuổi.

Ông Bà sinh hạ được 3 gái và 2 trai.
Tang lễ Ông Bà đều cử hành theo nghi thức Trà Tỳ của Ấn Độ, thể theo ý nguyện lúc sinh thời. Vì vậy mà ngày nay con cháu không tìm thấy phần mộ của Ông Bà.
Đời tan giấc mộng mơ an phận



  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2017
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương